Thứ ba 17/03/2026 16:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của Nhà nước trong trọng tài thương mại quốc tế dưới góc nhìn của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

Vai trò của Nhà nước trong trọng tài thương mại quốc tế dưới góc nhìn của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Trên bình diện quốc tế, vai trò của Nhà nước đang được chi tiết hóa bằng những quy định cụ thể trong luật quốc tế, các quy chế trọng tài thương mại quốc tế của những trung tâm trọng tài lớn, uy tín nhất trên thế giới và thậm chí ngày càng được đề cao trong quy định của luật trọng tài thương mại quốc gia. Bài viết này sẽ bình luận các học thuyết quốc tế về bản chất pháp lý của Trọng tài thương mại quốc tế, phân tích quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vai trò của pháp luật quốc gia và Tòa án quốc gia trong trọng tài thương mại quốc tế.

Abstract: On the international level, the role of the State is being detailed by specific provisions in international law, international commercial arbitration regulations of the largest and most prestigious arbitration centers in the world and even increasingly emphasized in the provisions of the national commercial arbitration law. This article will comment on international theories on the legal nature of international commercial arbitration, analyze the provisions of international law and Vietnamese law on the role of national law and the national court in international commercial arbitration.

1. Dẫn nhập

Xu hướng chung trong pháp luật của các nước trên thế giới hiện nay là mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài. Theo đó, trọng tài không còn bị bó hẹp phạm vi giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại mà đã mở rộng sang giải quyết nhiều tranh chấp tư khác. Tuy nhiên, trên thực tế, tranh chấp thương mại, đặc biệt là tranh chấp thương mại quốc tế vẫn là những tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nhiều nhất, phổ biến nhất. Thực tiễn xét xử tranh chấp có yếu tố nước ngoài thường đề cập tới khái niệm trọng tài quốc tế. Đây là loại trọng tài có những đặc điểm pháp lý riêng khác với trọng tài địa phương. Tính quốc tế của trọng tài cũng được Phòng Thương mại Quốc tế ICC (International Chamber of Commerce) giải thích như sau: “Tính quốc tế của trọng tài không có nghĩa là buộc các bên quan hệ nhất định phải có quốc tịch khác nhau. Hợp đồng vẫn có thể mở rộng phạm vi ra khỏi biên giới quốc gia, ví dụ như, một hợp đồng được ký kết giữa các chủ thể cùng quốc tịch nhưng việc thực hiện hợp đồng lại ở một nước khác, hoặc trong trường hợp, hợp đồng được ký kết giữa một Nhà nước và một chi nhánh của một công ty nước ngoài kinh doanh trên lãnh thổ nước đó”[1]. Trong khuôn khổ bài viết này, trọng tài quốc tế được phân tích chính là trọng tài thương mại quốc tế (ICA) dù trên thực tế có một số hình thức trọng tài khác như trọng tài công (Public arbitration), trọng tài trong lĩnh vực đầu tư (Investment arbitration). Trọng tài quốc tế với vai trò là một phương thức giải quyết tranh chấp tư sẽ mang những đặc điểm chung của trọng tài và đặc điểm riêng có tính quốc tế. Theo đó, trọng tài quốc tế tiến hành phiên xử và đưa ra phán quyết ở nước ngoài trên cơ sở một trình tự tố tụng, ngôn ngữ và luật áp dụng cho tranh chấp do chính các bên tranh chấp thỏa thuận. Nói như vậy, liệu rằng có phải chế định trọng tài thương mại quốc tế chỉ đề cao vai trò tự chủ của các bên (party autonomy) và quên đi các vai trò quan trọng khác như vai trò của luật quốc tế và Nhà nước hay không? Câu trả lời là, vai trò của Nhà nước luôn được đề cao trong chế định trọng tài thương mại quốc tế dù vai trò của các bên trong tranh chấp vẫn đang ngày càng được mở rộng. Trong chế định trọng tài thương mại quốc tế, Nhà nước mà đại diện là pháp luật quốc gia và Tòa án quốc gia thể hiện vai trò quan trọng, không thể thiếu. Rõ ràng là, không một quốc gia nào lại thừa nhận một chế định pháp lý mà chứa đựng những quy định nằm ngoài hoặc trái ngược với hệ thống pháp luật của quốc gia đó. Bài viết sẽ phân tích cụ thể hơn về vai trò của Nhà nước mà cụ thể là vai trò của pháp luật quốc gia và Tòa án quốc gia trong trọng tài thương mại quốc tế.

2. Các học thuyết quốc tế về bản chất pháp lý của trọng tài thương mại quốc tế

Bản chất của trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp của các bên trong hợp đồng thương mại nhưng không thông qua cơ chế Tòa án. Từ lâu, các quốc gia trên thế giới đã tìm cách xác định bản chất pháp lý của trọng tài. Có bốn học thuyết pháp lý về bản chất của trọng tài: Học thuyết thỏa thuận hợp đồng, học thuyết thẩm quyền tài phán, học thuyết kết hợp và học thuyết về quyền tự quyết của các bên.

Trong các học thuyết nói trên, học thuyết thỏa thuận hợp đồng được cho là đánh giá thấp vai trò của pháp luật quốc gia và nâng cao vai trò của thỏa thuận các bên cũng như trọng tài viên. Học thuyết này cho rằng, thẩm quyền của trọng tài là lắng nghe và giải quyết tranh chấp dựa trên sự thỏa thuận của các bên và luật quốc gia nằm ngoài quá trình giải quyết này. Trên khía cạnh này, trọng tài viên không tìm kiếm pháp luật quốc gia mà cố gắng xác định ý chí của các bên liên quan tới bất đồng pháp lý trong hợp đồng. Như vậy, nếu phán quyết trọng tài chỉ đơn giản là sự xác nhận thỏa thuận các bên thì một bên có thể từ chối thực hiện nó và phán quyết khi đó sẽ không được bảo đảm thực thi bằng pháp luật quốc gia. Học thuyết này đôi khi bị chỉ trích vì tập trung quá mức vào sự thỏa thuận của các bên mà “bỏ qua các hệ thống pháp luật quốc gia đang điều chỉnh chế định trọng tài thương mại quốc tế”[2].

Mặt khác, đối lập với học thuyết thỏa thuận hợp đồng là học thuyết thẩm quyền tài phán. Học thuyết này có thể được coi là trực quan nhất đối với các luật sư trong nước có xu hướng liên kết mọi thứ với quyền lực của Nhà nước. “Mỗi trọng tài là một trọng tài quốc gia, có nghĩa là, tuân theo một hệ thống luật pháp quốc gia cụ thể”[3]. Nhà nước có toàn quyền đối với tất cả các hoạt động xảy ra trong lãnh thổ của mình và vì lý do đó, Nhà nước quy định và giải thích về trọng tài. Chế định trọng tài hoạt động trong khuôn khổ cho phép của Nhà nước. Theo học thuyết này, vai trò của pháp luật quốc gia được xác định rõ ràng. Theo đó, trọng tài hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; Nhà nước có quyền kiểm soát và điều chỉnh tất cả các trọng tài hoạt động trong phạm vi quyền hạn của mình. Học thuyết này khẳng định rằng, các vấn đề như hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và phán quyết trọng tài, quyền hạn của trọng tài và khả năng thực thi của các phán quyết, tất cả đều phụ thuộc vào luật của nơi ban hành phán quyết trọng tài và luật nơi thi hành phán quyết của trọng tài. Thỏa thuận trọng tài sẽ có hiệu lực và phán quyết trọng tài sẽ chỉ có hiệu lực nếu cả hai luật, luật nơi phân xử và luật nơi thi hành, thừa nhận rằng các bên có quyền đưa tranh chấp ra phân xử, các trọng tài viên có quyền tài phán đối với vụ việc liên quan và phán quyết của trọng tài có hiệu lực thi hành[4]. Mặc dù các bên được tự do lựa chọn trọng tài thay vì Tòa án và chỉ định các trọng tài viên theo mong muốn của họ, nhưng điều đó đều dựa trên quy định cho phép của pháp luật quốc gia và kết quả là các trọng tài viên được coi là thực hiện chức năng công và có tư cách bán tư pháp cho phép họ được hưởng quyền miễn trừ mà các thẩm phán bình thường được hưởng[5].

Một học thuyết khác mà tác giả muốn đề cập đến là học thuyết kết hợp. Học thuyết này khẳng định rằng, trọng tài có cả thẩm quyền tài phán và tính thỏa thuận hợp đồng. Học thuyết kết hợp cho rằng, trọng tài không phải là hoàn toàn thuộc lĩnh vực công hay tư. Học thuyết nhấn mạnh vai trò của Nhà nước, đặc biệt trong việc hỗ trợ quá trình tố tụng trọng tài. Cụ thể, tố tụng trọng tài sẽ không thể thực hiện nếu các bên không thống nhất về chủ tịch hội đồng trọng tài hoặc nếu bên thứ ba từ chối tự nguyện giao nộp chứng cứ cho hội đồng trọng tài; chưa kể đến việc trọng tài không giải quyết được vụ việc khi không có hiệp định đa phương công nhận và thực thi phán quyết trọng tài trên phạm vi quốc tế. Một kết quả thực tế từ việc áp dụng học thuyết kết hợp là các hội đồng trọng tài, mặc dù được thành lập từ thỏa thuận hợp đồng nhưng vẫn thực hiện chức năng công, buộc các bên phải tuân thủ các đảm bảo xét xử công bằng. Hơn nữa, việc sử dụng các quy tắc về nội dung và thủ tục trong trọng tài không chỉ được căn cứ vào một hoặc nhiều hệ thống pháp luật. Các bên đồng thuận căn cứ vào tập quán thương mại, các nguyên tắc bình đẳng và các quy tắc xuyên quốc gia khác[6]. Năm 1952, Sauser-Hall giải thích chi tiết học thuyết này như sau: Trọng tài không thể vượt qua hệ thống pháp luật và luôn phải có luật xác định hiệu lực của các thỏa thuận trọng tài và khả năng thực thi của phán quyết trọng tài. Ông tin rằng thẩm quyền tài phán cũng như hệ thống pháp luật và thỏa thuận hợp đồng của trọng tài có mối quan hệ tương quan mật thiết[7]. Học thuyết kết hợp này cũng đã được Redfern và Hunter, tác giả cuốn Cẩm nang về trọng tài quốc tế, khẳng định rằng: “Trọng tài thương mại quốc tế là một sự kết hợp”[8].

Bên cạnh đó, vào những năm 1960, học thuyết thứ tư đã được phát triển dưới tên gọi “học thuyết về quyền tự quyết của các bên”. Học thuyết này cho rằng, trọng tài không mang tính thẩm quyền tài phán cũng như tính thỏa thuận hợp đồng, cũng không phải là sự kết hợp giữa hai học thuyết đó mà rõ ràng là một học thuyết hoàn toàn độc lập[9]. Khác với các học thuyết trên, học thuyết về quyền tự quyết của các bên tập trung chủ yếu vào những vấn đề của chính trọng tài, chẳng hạn như: Mục đích của trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài, chức năng của trọng tài và lý do tại sao nó có thể có các chức năng như vậy. Những người ủng hộ học thuyết này cho rằng, đầu tiên trọng tài được tạo ra và phát triển bởi chính các doanh nhân chứ không phải là pháp luật quốc gia quy định. Quyền tự chủ của các bên trong việc xác định cả luật nội dung và luật tố tụng không dựa trên đặc điểm hợp đồng cũng như thẩm quyền của trọng tài, mà dựa trên tập quán thương mại. Theo luồng ý kiến này, bản chất của trọng tài thương mại quốc tế là hợp đồng và các bên giải quyết tranh chấp dựa trên thỏa thuận của chính họ về các vấn đề quan trọng như lựa chọn trọng tài viên, ngôn ngữ trọng tài, địa điểm trọng tài và thậm chí cả luật áp dụng. Tuy nhiên, học thuyết này vẫn không thể phủ nhận vai trò của Tòa án và luật pháp quốc gia. Trọng tài không thể tồn tại độc lập, tách rời với Tòa án và luật pháp quốc gia cũng như tính tự chủ của các bên trong trọng tài vẫn có những giới hạn nhất định.

Tóm lại, đa số các học thuyết pháp lý từ trước tới nay nghiên cứu về bản chất của trọng tài và trọng tài thương mại quốc tế đều thừa nhận vai trò của luật pháp quốc gia và Tòa án địa phương bên cạnh tính tự chủ, tự quyết của các bên tranh chấp. Điểm nổi bật quan trọng nhất ở vai trò này là phán quyết trọng tài - đích đến của mọi vụ việc trọng tài - sẽ được bảo đảm thực thi bởi luật pháp quốc gia; nếu phán quyết đó không phù hợp với luật pháp quốc gia hoặc vi phạm lợi ích công cộng của quốc gia, phán quyết đó sẽ không có hiệu lực thi hành tại quốc gia đó dù quốc gia đó đã tham gia phê chuẩn Công ước New York năm 1958. Tòa án quốc gia cũng thực hiện song song hai vai trò vừa hỗ trợ vừa giám sát trọng tài thương mại, đảm bảo tính công bằng, hiệu quả của trọng tài thương mại quốc tế đối với các đương sự nói riêng và với lợi ích xã hội nói chung.

3. Quy định của pháp luật quốc tế về vai trò của pháp luật và Tòa án quốc gia trong trọng tài thương mại quốc tế

Trước hết, Công ước New York năm 1958 đã dựa trên lợi ích của Nhà nước để ghi nhận và thi hành phán quyết trọng tài quốc tế. Công ước New York năm 1958 đưa ra một số nội dung về công nhận giá trị hiệu lực của thỏa thuận trọng tài bằng văn bản (Điều II), nội dung đơn yêu cầu công nhận và thi hành (Điều IV), các trường hợp từ chối công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài (Điều V), hoãn quyết định thi hành (Điều VI), đặc biệt Điều III Công ước New York năm 1958 đã quy định rõ nguyên tắc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài là “theo nguyên tắc về thủ tục của lãnh thổ nơi phán quyết sẽ được thi hành” và theo các điều kiện được nêu trong các điều khoản của Công ước New York năm 1958. Các nước thành viên không được đặt ra các điều kiện công nhận và thi hành nặng nề hơn so với Công ước New York năm 1958.

Trái với Công ước New York năm 1958, đa phần các hiệp định song phương không giải quyết cụ thể việc công nhận và thi hành tại nước còn lại (nước đã ký kết hiệp định song phương đó) phán quyết của trọng tài thương mại được tuyên ở nước ký kết kia mà thường dẫn chiếu tới Công ước New York năm 1958 hoặc dẫn chiếu tới pháp luật của nước ký kết nơi phán quyết trọng tài được thi hành. Ví dụ, khoản 6 Điều 4 Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ quy định: “…Mỗi bên thực hiện không chậm trễ các quy định của phán quyết đó và thi hành phán quyết đó trên lãnh thổ của nước mình. Việc thi hành phán quyết trọng tài được đưa ra trên lãnh thổ của mỗi bên do luật quốc gia của bên đó điều chỉnh”. Tương tự, khoản 6 Điều 10 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam với Liên minh kinh tế Bỉ - Luxembourg ngày 24/10/1991 quy định: “Các phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và bắt buộc đối với các bên tranh chấp, mỗi bên ký kết cam kết thực hiện các quyết định này phù hợp với pháp luật của nước mình”.

Như vậy, trong trọng tài thương mại quốc tế, luật quốc gia hoặc luật quốc tế mà quốc gia đó phê chuẩn (cụ thể là Công ước New York năm 1958 và những hiệp định song phương, đa phương) đóng vai trò quan trọng, đặc biệt trong việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài quốc tế. Nếu không được công nhận và thi hành thì phán quyết của trọng tài cũng trở thành vô nghĩa với các bên; không đem lại được bất kỳ lợi ích nào cho các đương sự và xã hội.

Bên cạnh đó, sự tham gia của Tòa án vào quá trình trọng tài là cần thiết để bảo vệ bằng chứng và tránh thiệt hại. Một hội đồng trọng tài được hình thành theo thỏa thuận trọng tài giữa các bên liên quan đến vấn đề tranh chấp. Theo Công ước New York năm 1958 và Luật mẫu năm 1985 của Liên Hợp quốc về trọng tài thương mại yêu cầu rằng để bắt đầu thủ tục trọng tài, các bên phải bắt đầu một thỏa thuận sau đó được chuyển đến Tòa án để xác định tính hợp lệ của nó và liệu có thực thi nó hay không, ví dụ như, Tòa án tối cao Mỹ đã xem xét tính hợp lệ của thỏa thuận trọng tài trong vụ việc Mitsubishi kiện Solar Chrysler Plymouth Inc. 42 U.S 614(1985). Các Tòa án trong nước cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xác nhận quyền tự chủ của các bên. Các bên có quyền lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng cách chuyển vấn đề ra trọng tài khi họ có sự đồng thuận trong việc công nhận các điều khoản của thỏa thuận trọng tài là hợp lệ.

Ngoài ra, trọng tài viên là người được các bên đương sự lựa chọn trên cơ sở tính độc lập và không thiên vị của họ. Vì vậy, Tòa án có quyền hủy bỏ phán quyết trọng tài khi có cơ sở cho rằng, trọng tài viên không bảo đảm tính công bằng. Ví dụ, trong vụ việc Công ty AT&T kiện Công ty Saudi Cables, Tòa án đã hủy bỏ phán quyết trọng tài do việc không bảo đảm tính khách quan.

Thêm vào đó, Tòa án trong nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp bảo vệ khác khi một bên yêu cầu áp dụng trong một số trường hợp hạn chế mà Tòa án cho rằng việc áp dụng đó là công bằng và thuận lợi. Tòa án cũng hỗ trợ các ủy ban trọng tài trong việc phân loại các vấn đề mang tính đối thoại. Nếu không có sự can thiệp của Tòa án về phương diện này, hoạt động của trọng tài thương mại quốc tế sẽ không được thực thi một cách có hiệu quả.

4. Quy định của pháp luật Việt Nam về vai trò của pháp luật và Tòa án quốc gia trong trọng tài thương mại quốc tế

Không nằm ngoài khung pháp lý quốc tế về chế định trọng tài thương mại, vai trò của Nhà nước trong pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam được ghi nhận trong tất cả các bước của quá trình trọng tài thương mại bao gồm trước, trong phiên xử và hiệu lực của phán quyết trọng tài. Tòa án, trọng tài thương mại là các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bổ sung lẫn nhau. Thực tế hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại cần có sự phối hợp của Tòa án. Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 là văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận vai trò của Tòa án đối với các hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại về bốn vấn đề sau: chỉ định trọng tài viên; thay đổi trọng tài viên; áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; hủy phán quyết trọng tài. Tuy nhiên, trải qua gần một thập kỷ thi hành và áp dụng, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định nên Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đã ra đời để khắc phục những mặt hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý cho sự hoạt động của Tòa án trong việc hỗ trợ các trung tâm trọng tài thương mại. Vì vậy, hiện nay, ngoài các văn bản pháp luật quốc tế như Luật mẫu năm 1985 của Liên Hợp quốc về Trọng tài thương mại và Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài, các văn bản pháp luật quốc gia trực tiếp điều chỉnh trọng tài thương mại quốc tế ở Việt Nam gồm có: Luật Trọng tài thương mại năm 2010; Nghị định số 63/2011/NĐ-CP ngày 28/7/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại; Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại; Nghị định số 124/2018/NĐ-CP ngày 19/9/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/2011/NĐ-CP.

Tại Việt Nam, trọng tài thương mại là tổ chức phi chính phủ nhưng các trung tâm trọng tài vẫn luôn đặt dưới sự quản lý và hỗ trợ của Nhà nước. Nhà nước quản lý đối với các trung tâm trọng tài thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài. Ngoài ra, Nhà nước còn quản lý thông qua hoạt động quản lý hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp, thay đổi, bổ sung hay thu hồi giấy phép thành lập, đăng kí hoạt động của các trung tâm trọng tài. Cụ thể: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (Vietnam International Arbitration Centre - VIAC) được thành lập vào năm 1993 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài Ngoại thương (thành lập năm 1963) và Hội đồng Trọng tài Hàng hải (thành lập năm 1964). Theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và Điều lệ hiện hành, VIAC là tổ chức độc lập. Phán quyết của các Hội đồng Trọng tài thuộc VIAC là chung thẩm và được công nhận, thi hành tại Việt Nam và trên 170 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới theo Công ước về Công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài (Công ước New York năm 1958)[10]. Trên thực tế, năm 2021, số vụ VIAC thụ lý và giải quyết thành công là 270 vụ việc (tăng 21% so với năm 2020). Theo đó, 43% là các vụ việc liên quan đến tranh chấp trong nước, 40% là tranh chấp liên quan đến liên doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài. Tranh chấp hoàn toàn mang yếu tố nước ngoài chỉ chiếm 18%[11].

Theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010, vai trò hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại được xác lập toàn diện và đầy đủ, thể hiện ở những vấn đề sau:

Một là, đối với việc thay đổi trọng tài viên: khoản 3 Ðiều 43 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Tòa án chỉ hỗ trợ việc thay đổi trọng tài viên trong trường hợp các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc nếu các trọng tài viên hay trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, Tòa án còn xem xét khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thẩm quyền; cụ thể: Trong trường hợp không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài về thẩm quyền thì một hoặc các bên đương sự có quyền khiếu nại quyết định này ra Tòa án. Trong trường hợp nếu Tòa án quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì các bên đương sự có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền theo thủ tục chung.

Hai là, về việc triệu tập người làm chứng: Theo quy định của Điều 48 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Hội đồng trọng tài có quyền triệu tập nguời làm chứng đến phiên họp. Nếu nguời làm chứng không đến thì Hội đồng trọng tài có quyền đề nghị Tòa án có thẩm quyền triệu tập người làm chứng đến phiên họp theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đây là một quy định mới của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, góp phần tăng cường hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.

Ba là, về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Hội đồng trọng tài có quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có một hoặc các bên đương sự yêu cầu. Đây cũng là một trong những quy định mới, tiến bộ hơn so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003. Nhưng một điểm đặc biệt là Hội đồng trọng tài chỉ có thẩm quyền ra quyết định áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời được liệt kê tại Điều 49 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và Hội đồng trọng tài chỉ có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sau khi Hội đồng trọng tài đã thành lập, còn các trường hợp khác sẽ do Tòa án thực hiện. Như vậy, để tránh trường hợp có sự chồng chéo, mâu thuẫn, xung đột về thẩm quyền giữa Hội đồng trọng tài và Tòa án, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đã phân định rõ thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của hai cơ quan này, đồng thời vẫn bảo đảm nguyên tắc trong mọi trường hợp các bên đều có thể làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Bốn là, về vấn đề đăng ký, hủy phán quyết trọng tài: Theo Điều 62 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Tòa án nơi Hội đồng trọng tài vụ việc giải quyết tranh chấp có trách nhiệm đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc khi có yêu cầu một hoặc các bên tranh chấp. Mặt khác, Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết có thẩm quyền xem xét để hủy phán quyết trọng tài theo quy định tại khoản 2 Ðiều 69 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 khi có một hoặc các bên tranh chấp yêu cầu.

Như vậy, với chức năng là cơ quan tài phán nhân danh Nhà nước, Tòa án cần có sự phối kết hợp cùng với các trung tâm trọng tài thương mại để bảo đảm giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại theo thẩm quyền mà pháp luật quy định[12] nhằm tránh bế tắc cho hoạt động trọng tài, để trọng tài có thể giải quyết tốt các tranh chấp, khắc phục những điểm yếu và phát huy những điểm mạnh của trọng tài. Chính sự hỗ trợ và giám sát của Tòa án sẽ làm cho hoạt động trọng tài được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, đồng thời không làm mất đi ưu thế của hình thức giải quyết tranh chấp tôn trọng tối đa quyền tự quyết của các bên, đồng thời cũng giảm tải tình trạng án tồn đọng tại các Tòa kinh tế ở Việt Nam[13].

Có thể khẳng định, sự phát triển vượt bậc về đầu tư và thương mại quốc tế những năm gần đây kéo theo những tranh chấp thương mại quốc tế cũng gia tăng đáng kể. Trọng tài thương mại quốc tế được lựa chọn rộng rãi thay cho việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án vì hình thức này giúp tiết kiệm chi phí và rút ngắn thời gian hơn. Tính tự quyết của trọng tài (autonomous arbitration) và quyền tự chủ của các bên trong trọng tài quốc tế ngày càng có xu hướng mở rộng hơn. Tuy nhiên, xuất phát từ bản chất pháp lý của trọng tài và thực tiễn áp dụng cho thấy, vai trò của Nhà nước mà đại diện là luật pháp và Tòa án quốc gia là vô cùng quan trọng để bảo đảm sự công bằng trong hoạt động của quá trình trọng tài và bảo vệ lợi ích của các bên đương sự cũng như toàn xã hội.

ThS. LS. Nguyễn Thị Minh Hồng

Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội

[1]. ICC publication No.301 (1977), The international solution to international business disputes – ICC arbitration, copyright ICC 1983, tr. 19.

[2]. Lynch, K. (2003), The forces of economic globalization: Challenges to the regime of international commercial arbitration, The Hague: Den Haag, Kluwer law international.

[3]. Mann, F.A. (1976), ‘Lex Facit Arbitrum’, in International Arbitration: Liber Amicorum for Martin Domke. Pieter Sanders, The Hague, Martinus Nijhoff, 157 - 183.

[4]. Daniel & Angualia (2010), The Role of Domestic Courts in International Commercial Arbitration, Available at SSRN: https://ssrn.com/abstract=1674760.

[5]. Bantekas Ilias (2015), An Introduction to International Arbitration, Cambridge University Press, 1-35, doi:10.1017/CBO9781316275696.003.

[6]. Bantekas Ilias (2015), tlđd.

[7]. Daniel & Angualia (2010), tlđd.

[8]. Redfern, A., & Hunter, M. (2009), Law and practice of international commercial arbitration, London: Sweet & Maxwell.

[9]. Rubellin-Devichi, Jacqueline, L’arbitrage. Nature Jurisdigue Droit interne et droit international pr iv? Paris: Librairie Genei le de Droit et Jurisprudence 1965, pars 14.

[10]. Theo https://www.viac.vn/, truy cập ngày 25/12/2022.

[11]. Quang Huy (2022), “Bài học đắt giá cho nhà xuất khẩu Việt”, Báo Điện tử Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, https://plo.vn/bai-hoc-dat-gia-cho-nha-xuat-khau-viet-post672214.html, truy cập ngày 25/12/2022.

[12]. Trung tâm trọng tài thương mại Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Trọng tài thương mại Quốc tế, https://tracent.com.vn/trong-tai-thuong-mai-quoc-te/, truy cập ngày 26/12/2022.

[13]. Phạm Thị Hồng Đào (2017), Vai trò của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và kiến nghị, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2154, truy cập ngày 26/12/2022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 375, tháng 2/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: