Thứ sáu 23/10/2026 02:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Về niêm yết khi tiến hành công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản và văn bản khai nhận di sản

Chứng nhận văn bản liên quan đến chế định thừa kế, đặc biệt là văn bản xoay quanh quá trình khai nhận di sản do người chết để lại là một trong những phần việc cơ bản của công chứng viên đã được ghi nhận trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động công chứng từ rất sớm. Theo điểm 5 phần I Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước, thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền được phép “chứng nhận di chúc và văn bản thuận phân chia tài sản thừa kế”. Trình tự, thủ tục thực hiện “chứng nhận di chúc và văn bản thuận phân tài sản thừa kế” được hướng dẫn rất chi tiết tại mục 5 phần II Thông tư số 858/QLTPK ngày 15/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng.

Đến khi Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước (Nghị định số 45/HĐBT) ra đời, thẩm quyền chứng nhận văn bản liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế của công chứng viên tiếp tục được ghi nhận. Cụ thể, Điều 15 khẳng định, công chứng viên thực hiện các việc công chứng sau đây: “Chứng nhận di chúc, chứng nhận khước từ hoặc nhường quyền hưởng di sản, chứng nhận giấy thuận phân chia di sản”; Điều 25 quy định về “Chứng nhận khước từ hoặc nhường quyền hưởng di sản” và Điều 26 hướng dẫn trình tự, thủ tục “Chứng nhận giấy thuận phân chia di sản”.


Ngày 18/5/1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/CP về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước (Nghị định số 31/CP) thay thế Nghị định số 45/HĐBT, theo đó, quy định xoay quanh công chứng văn bản liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế có một vài thay đổi. Từ nội dung quy định tại Điều 18 Nghị định số 31/CP cho thấy, nhà làm luật không khẳng định một cách trực tiếp vai trò của công chứng viên trong việc chứng nhận văn bản liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế. Tuy nhiên, Điều 29 Nghị định số 31/CP lại nêu rõ: “Người yêu cầu công chứng chứng nhận việc từ chối nhận di sản phải nộp đơn và các giấy tờ cần thiết khác cho Phòng Công chứng nhà nước. Sau khi có quyết định xác định người để lại di sản đã chết, xác định đương sự là người thuộc hàng thừa kế nào, công chứng viên chứng nhận việc từ chối nhận di sản của đương sự theo các quy định của pháp luật về thừa kế”. Tiếp đó, mục D phần III Thông tư số 1411/TT-CC ngày 03/10/1996 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện Nghị định số 31/CP đã xác định trình tự, thủ tục thực hiện chứng nhận việc từ chối nhận di sản như sau: “1. Người yêu cầu chứng nhận việc từ chối nhận di sản phải nộp đơn yêu cầu, xuất trình Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp lệ khác. 2. Công chứng viên không chứng nhận việc từ chối nhận di sản nếu quá thời hạn quy định tại Điều 645 của Bộ luật Dân sự”.

Đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực (Nghị định số 75/2000/NĐ-CP), các quy định ấn định trình tự, thủ tục công chứng văn bản liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế tiếp tục được hoàn thiện. Cụ thể, khi đề cập tới thẩm quyền công chứng của Phòng Công chứng, khoản 2 Điều 21 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP nêu rõ: “Phòng Công chứng được công chứng các việc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 22 của Nghị định này...”, trong khi Điều 22 của Nghị định này quy định: “1. Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền thực hiện các việc sau đây: ... đ) Chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản”. Tiếp đó, cũng tại Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, Điều 52 quy định về “Công chứng, chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản”; Điều 53 quy định về “Công chứng, chứng thực văn bản khai nhận di sản”; Điều 54 quy định về “Công chứng, chứng thực văn bản từ chối nhận di sản”. Như vậy, quy định xoay quanh quá trình khai nhận di sản do người chết để lại trong hoạt động công chứng đã được định hình và hoàn thiện một cách cơ bản tại Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, sau đó được kế thừa tại Luật Công chứng năm 2006 và hiện tại là Luật Công chứng năm 2014. Thủ tục niêm yết thừa kế bắt đầu chính thức được ghi nhận tại Thông tư số 03/2001/TP-CC ngày 14/3/2001 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP (Thông tư số 03/2001/TP-CC)[1].

Quy định về công chứng văn bản liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế tại Nghị định số 75/2000/NĐ-CP được kế thừa tại Luật Công chứng năm 2006. Mặc dù tại Điều 2 Luật Công chứng năm 2006 quy định về công chứng không trực tiếp khẳng định vai trò của công chứng viên trong việc chứng nhận văn bản liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế nhưng cũng dành 3 điều luật để quy định về “Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản (Điều 49); “Công chứng văn bản khai nhận di sản” (Điều 50) và “Công chứng văn bản từ chối nhận di sản” (Điều 51). Tìm hiểu Luật Công chứng năm 2006, Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng, Thông tư số 11/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số nội dung về công chứng viên, tổ chức và hoạt động công chứng, quản lý nhà nước về công chứng, thì không thấy quy định nào ấn định trình tự niêm yết thừa kế khi tiến hành công chứng văn bản liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế. Tuy nhiên, khi Nghị định số 04/2013/NĐ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng ra đời, trình tự niêm yết thừa kế khi công chứng văn bản liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế lại tiếp tục được ghi nhận[2].

Cách quy định này tiếp tục được giữ lại tại Luật Công chứng năm 2014 khi Điều 2 cũng không trực tiếp khẳng định vai trò của công chứng viên trong việc chứng nhận văn bản liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế, nhưng đến Điều 57, nhà làm luật đã đưa ra quy định về “Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản”, Điều 58 đề cập tới “Công chứng văn bản khai nhận di sản” và “Công chứng văn bản từ chối nhận di sản” là nội dung Điều 59. Tiếp đó, Điều 18 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng đã nêu rõ về vấn đề “Niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản”.

Như vậy, nhìn một cách khái quát nhất, kể từ khi chính thức được thừa nhận tại Thông tư số 03/2001/TP-CC, thì đã có một khoảng thời gian nhất định (từ khi Luật Công chứng năm 2006 ra đời cho đến trước thời điểm Nghị định số 04/2013/NĐ-CP có hiệu lực), thủ tục niêm yết thừa kế khi công chứng văn bản liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế không được pháp luật ghi nhận. Theo tác giả, sự gián đoạn này có nguyên nhân từ nội dung khoản 1 Điều 687 Bộ luật Dân sự năm 2005, theo đó, “trong trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” (nội dung tương tự kể trên vẫn tiếp tục được ghi nhận tại khoản 1 Điều 662 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, với quan điểm cho rằng, nhiệm vụ của công chứng viên là loại trừ tất cả nguyên nhân dẫn đến hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu cũng như ngăn ngừa tranh chấp có thể xảy ra, sau khi Nghị định số 04/2013/NĐ-CP có hiệu lực, thủ tục niêm yết thừa kế khi công chứng văn bản liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế lại được nhà làm luật tái khẳng định. Xoay quanh nội dung của niêm yết thừa kế cho thấy, nếu như trước đây yêu cầu đặt ra là phải xác định được toàn bộ di sản do người chết để lại[3], thì đến thời điểm hiện tại, quy định kể trên đã được bãi bỏ[4]. Điều này có nghĩa những người được hưởng thừa kế có thể tiến hành khai nhận lần lượt, riêng rẽ từng di sản do người chết để lại.

Tham khảo nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng qua từng thời kỳ cho thấy, thủ tục niêm yết thừa kế là một ngoại lệ chỉ dành riêng cho việc công chứng hai hình thức văn bản liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế là công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản và văn bản khai nhận di sản. Đây cũng chính là hai hình thức văn bản tạo lập cơ sở pháp lý cho việc đăng ký sang tên trước bạ đối với di sản là tài sản phải đăng ký. Từ nội dung các quy định về thủ tục niêm yết thừa kế được ghi nhận qua từng thời kỳ (điểm 7 phần I Thông tư số 03/2001/TP-CC; Điều 19 Nghị định số 04/2013/NĐ-CP và Điều 18 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP), tác giả nhận thấy: (i) Ngoại trừ một vài thay đổi không đáng kể về tên gọi của niêm yết, thời gian tiến hành niêm yết, địa điểm tiến hành niêm yết..., nhìn chung cách thức niêm yết thừa kế không có nhiều thay đổi giữa quy định tại ba văn bản quy phạm pháp luật như đã liệt kê ở trên; (ii) Về mặt nguyên tắc, nội dung niêm yết thừa kế phải có các thông tin cơ bản sau đây: Người chết, những cá nhân, tổ chức được hưởng di sản thừa kế, di sản và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và địa chỉ tổ chức hành nghề công chứng tiếp nhận khiếu nại, tố cáo có liên quan đến khai nhận di sản thừa kế.

Từ quy định pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình thực hiện niêm yết, công chứng viên thường gặp khó khăn về hai vấn đề:

Thứ nhất, địa điểm tiến hành niêm yết

Khi chứng nhận văn bản liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế, công chứng viên không chỉ tuân thủ quy định của pháp luật công chứng mà còn không được phép bỏ qua các quy định xoay quanh chế định thừa kế. Trở lại với pháp luật về thừa kế, khi đề cập đến “địa điểm”, các nhà làm luật đã đưa ra khái niệm về “địa điểm mở thừa kế”. Cụ thể, khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 xác định: “Địa điểm mở thừa kế là nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản. Nếu không xác định được nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản”; khoản 2 Điều 633 Bộ luật Dân sự năm 1995 nêu rõ: “Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản”; khoản 2 Điều 633 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản” và theo khoản 2 Điều 611 thì: “Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản”. Trong khi đó, Điều 12 Luật Cư trú năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) quy định: “1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú. Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú. 2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống”. Như vậy, theo các quy định này, địa điểm mở thừa kế có thể là nơi thường trú, nơi tạm trú hoặc nơi sinh sống trước khi chết của người chết. Trong khi đó, việc niêm yết thừa kế theo pháp luật công chứng lại không hoàn toàn dựa vào điều đó, dường như địa điểm thực hiện niêm yết thừa kế luôn được quy định theo hướng đan xen giữa nơi cư trú cuối cùng của người chết với nơi có di sản. Cụ thể là:

- Trong mọi trường hợp, niêm yết thừa kế phải được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã/phường/thị trấn nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản. Nếu không xác định được nơi thường trú cuối cùng thì sẽ niêm yết thừa kế tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi tạm trú có thời hạn cuối cùng của cá nhân đó.

- Nếu di sản chỉ là bất động sản hoặc vừa là bất động sản vừa là động sản, niêm yết thừa kế được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã,phường,thị trấn nơi có bất động sản đó và Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng.

- Nếu di sản chỉ là động sản và trụ sở tổ chức hành nghề công chứng thực hiện niêm yết thừa kế và nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng của người để lại di sản không ở cùng trên địa bàn thành phố, tỉnh trực thuộc trung ương, niêm yết thừa kế sẽ được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi thường trú hoặc tạm trú cuối cùng.

Cách thức quy định như vậy tỏ ra phức tạp và rất khó thực hiện một cách thống nhất bởi lẽ không phải lúc nào công chứng viên cũng có thể xác định được chính xác các thông tin kể trên.

Thứ hai, cách thức tiến hành niêm yết

Xoay quanh việc niêm yết thông báo được ghi nhận tại điểm 7 phần I Thông tư số 03/2001/TP-CC, Điều 19 Nghị định số 04/2013/NĐ-CP và Điều 18 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP cho thấy, dường như pháp luật chỉ ấn định duy nhất một cách thức thực hiện niêm yết thừa kế. Cụ thể, điểm 7 phần I Thông tư số 03/2001/TP-CC khẳng định: “Việc niêm yết do cơ quan công chứng, chứng thực thực hiện”. Cách thức niêm yết thừa kế kể trên tiếp tục được ghi nhận tại Điều 19 Nghị định số 04/2013/NĐ-CP và Điều 18 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP khi quy định: “Việc niêm yết do tổ chức hành nghề công chứng thực hiện”.

Theo Đại Từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin ấn hành năm 1998 thì “niêm yết” là động từ dùng để chỉ việc “dán giấy để báo cho công chúng”. Còn theo Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa - Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006, “niêm yết” được hiểu là việc dán giấy để thông báo chính thức, công khai cho công chúng biết về một vấn đề nào đó. Niêm yết là việc công khai hóa những văn bản, cáo thị nhằm mục đích thông tin, phổ biến, quảng cáo, vận động quần chúng hưởng ứng thi hành nội dung văn bản, cáo thị đó, ví dụ: Việc niêm yết việc đăng kí kết hôn tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã. Niêm yết là một thủ tục được quy định trong một số văn bản pháp luật, ví dụ: Niêm yết danh sách cử tri. Đối với án xử vắng mặt bị cáo thì bản án được niêm yết trong thời hạn 10 ngày sau khi tuyên án (Điều 229 Bộ luật Tố tụng hình sự). Mục đích của việc niêm yết còn nhằm công khai hóa những thông tin cần cho công chúng biết về một sự kiện, sự việc, con người hoặc một vấn đề nhất định, qua đó, để công chúng kiểm tra về độ chính xác của các thông tin; phát hiện những gian dối, giả mạo, sai lệch của các thông tin, từ đó giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan niêm yết) có được những quyết định đúng đắn. Trong xã hội dân chủ, việc niêm yết là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Một mặt, giúp cho nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát những hoạt động của cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước, mặt khác, tạo điều kiện cho nhân dân thể hiện ý chí của mình đối với các quyết định của cơ quan nhà nước cũng như bày tỏ nguyện vọng sát hợp với thực tiễn đời sống xã hội.

Như vậy, có thể hiểu, trong mọi trường hợp, tổ chức hành nghề công chứng luôn phải cử công chứng viên hoặc nhân viên đến thực hiện niêm yết thừa kế trực tiếp tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn có thẩm quyền. Và lúc này, nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn chỉ là “bảo quản” và “xác nhận” niêm yết thừa kế đó trong khoảng thời gian là 15 ngày. Trên thực tế, không phải lúc nào việc thực hiện niêm yết thừa kế cũng diễn ra một cách suôn sẻ bởi quá trình này luôn cần được sự hỗ trợ, hợp tác rất chặt chẽ từ phía Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi có trách nhiệm bảo quản niêm yết.

Từ những vướng mắc kể trên, tác giả kiến nghị cần phải xác định rõ ràng các vấn đề có liên quan đến trình tự, thủ tục niêm yết thừa kế, cụ thể:

Một là, xác định giá trị pháp lý của việc niêm yết thông báo

Có thể nói, về bản chất pháp lý, niêm yết thừa kế là cách thức nhằm công khai hóa các thông tin có liên quan đến quá trình khai nhận thừa kế. Tuy nhiên, dù đã được công khai hóa mọi thông tin có liên quan nhưng về nguyên tắc, người yêu cầu công chứng vẫn phải xuất trình đầy đủ các loại giấy tờ, tài liệu tạo lập cơ sở pháp lý cho hoạt động công chứng. Thậm chí, bộ hồ sơ yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản và văn bản khai nhận di sản còn được nhà làm luật quy định một cách đầy đủ hơn, kỹ càng hơn bộ hồ sơ yêu cầu công chứng các loại hợp đồng, giao dịch khác. Trong khi đó, việc xin cấp lại các giấy tờ, tài liệu trong bộ hồ sơ yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản và văn bản khai nhận di sản nhiều khi rất phức tạp, khó thực hiện đối với người yêu cầu công chứng. Ví dụ như xin cấp giấy khai sinh của người chết và kèm theo đó là giấy chứng tử của cha, mẹ người chết để xác định những người được hưởng thừa kế theo pháp luật5. Điều này khiến cho giá trị pháp lý của việc niêm yết thừa kế bị suy giảm một cách đáng kể. Chính vì vậy, cần cho phép các bên có thể lược bớt một số giấy tờ, tài liệu phù hợp trong bộ hồ sơ yêu cầu công chứng khi đã thực hiện niêm yết công khai.

Hai là, địa điểm niêm yết thông báo

Địa điểm tiến hành niêm yết thừa kế quy định như hiện nay là quá phức tạp và khó thực hiện. Đơn cử, việc có thể không xác định được nơi niêm yết thừa kế trong trường hợp công dân Việt Nam ra nước ngoài cư trú và chết tại quốc gia đó, trong tình huống này thì niêm yết thừa kế được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng của người chết trước khi xuất cảnh có đáp ứng được yêu cầu của pháp luật hay không? Hay trong trường hợp nào thì tổ chức hành nghề công chứng vẫn có thể thực hiện niêm yết tại nơi có tài sản trong trường hợp di sản chỉ là động sản mà không nhất thiết phải niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng của người chết? Cách thức xác định nơi có tài sản trong trường hợp di sản là động sản? Chính vì vậy, chúng ta nên quy định một địa điểm niêm yết thừa kế phù hợp với khái niệm “địa điểm mở thừa kế” được ghi nhận tại khoản 2 Điều 633 Bộ luật Dân sự năm 2005, sau này là khoản 2 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như Điều 12 Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013).

Ba là, cách thức tiến hành niêm yết thông báo cũng như trách nhiệm của các bên có liên quan

Về cơ bản, có ba cách thức tiến hành niêm yết thông báo: (i) Tổ chức hành nghề công chứng tiến hành niêm yết thừa kế; (ii) Giao cho người yêu cầu công chứng tự thực hiện niêm yết thừa kế; (iii) Gửi qua đường bưu điện, thư báo hoặc nhờ một bên thứ ba niêm yết. Tuy nhiên, pháp luật hiện nay chỉ cho phép thực hiện niêm yết theo cách (i) nêu trên. Từ thực tiễn hành nghề cho thấy, dù việc niêm yết được thực hiện bằng cách thức nào thì điều quan trọng nhất là Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn sẽ “bảo quản” và “xác nhận” vào thông báo đó trong thời hạn theo luật định. Nhìn một cách tổng thể, hiện có hai cách thức xác nhận vào thông báo niêm yết: Cách thứ nhất là Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn sẽ xác nhận ngay kể từ thời điểm nhận được niêm yết thừa kế và cách thứ hai là Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn xác nhận vào niêm yết thừa kế sau khi đã hết thời hạn niêm yết. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn đối với cả hai cách thức niêm yết nêu trên chỉ là việc bảo quản niêm yết thừa kế trong thời hạn theo quy định của pháp luật. Chính vì vậy, nhà làm luật cần quy định rõ trình tự, thủ tục cũng như trách nhiệm của từng bên có liên quan khi niêm yết thừa kế .

TS.Tuấn Đạo Thanh,Phòng công chứng số 1 thành phố Hà Nội
Phạm Thu Hằng, Văn phòng công chứng Phạm Thu Hằng

Tài liệu tham khảo:

[1]. Cụ thể được quy định tại điểm 7 phần I Thông tư số 03/2001/TP-CC.

[2]. Điều 19 Nghị định số 04/2013/NĐ-CP.

[3]. Xem điểm 7 phần I Thông tư số 03/2001/TP-CC và Điều 19 Nghị định số 04/2013/NĐ-CP.

[4]. Xem Điều 18 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP.

[5]. Xem các điều 40, 41, 57 và 58 Luật Công chứng năm 2014; Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: