Thứ tư 27/05/2026 23:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vị trí, vai trò của pháp chế, công tác pháp chế trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trên cơ sở nghiên cứu về vị trí, vai trò của pháp chế, công tác pháp chế trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền, bài viết đưa ra những yêu cầu về pháp chế và công tác pháp chế để đạt được mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Abstract: Based on the study of position, role of legality, legal work in the setting up a rule of law state, the article raises requirements on legality and legal work in order to reach goals of setting up a socialist rule of law state of Vietnam.

1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển tư tưởng, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Ở Việt Nam, khái niệm Nhà nước pháp quyền được sử dụng lần đầu tiên tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ngày 25/11/1991 khi thảo luận về dự thảo Hiến pháp năm 1992. Nội dung cơ bản của Nhà nước pháp quyền Việt Nam đã được khẳng định trong Nghị quyết của Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng là “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam”. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa[1]. Chủ trương xây dựng nhà nước đã được cụ thể hóa trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Điều 12 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Đây được coi là điều luật Hiến pháp về pháp chế.

Tư tưởng và mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền được thể hiện nhất quán trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước ta (ví dụ như: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu Nhà nước mà là một cách thức tổ chức quyền lực nhà nước trên nền tảng chủ quyền nhân dân. Nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với một nền dân chủ nhất định, một chế độ xã hội cụ thể. Theo đó, Nhà nước pháp quyền là một chế độ nhà nước mà ở đó việc tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước, tổ chức và quản lý mọi mặt của đời sống xã hội đều chịu sự chi phối của pháp luật, hoạt động của tất cả thành viên trong xã hội đều tuân theo pháp luật; Nhà nước được thành lập để chăm lo cho nhân dân, phục vụ nhân dân.

Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 28/12/2013, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014, trong đó có việc quy định mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” (khoản 1 Điều 2). Như vậy, trong Nhà nước pháp quyền Nhân dân là chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức quyền lực Nhà nước.

2. Vị trí, vai trò của pháp chế và công tác pháp chế trong xây dựng Nhà nước pháp quyền

Tăng cường pháp chế là một đòi hỏi khách quan của quá trình quản lý và lãnh đạo của Nhà nước, đó là nguyên tắc hiến định ở Việt Nam. Điều 12 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật”.

Nói một cách chung nhất, pháp chế là chế độ quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý đời sống xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật. Còn công tác pháp chế được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện một hoặc nhiều công việc cụ thể nhằm thực thi pháp luật, đưa pháp luật đi vào cuộc sống. Việc thực hiện tốt nguyên tắc pháp chế, công tác pháp chế giúp cho xã hội được ổn định, đảm bảo sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong xã hội. Ở Việt Nam, pháp chế, công tác pháp chế có vị trí, vai trò, chức năng vô cùng quan trọng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật. Điều đó được thể hiện rõ ở một số điểm như sau:

Thứ nhất, pháp chế, công tác pháp chế bảo đảm cho Đảng lãnh đạo và nhân dân thực hiện quản lý nhà nước của mình bằng pháp luật và theo pháp luật. Điều này có nghĩa là pháp chế, công tác pháp chế đảm bảo cho việc tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan nhà nước, công chức, viên chức từ Trung ương đến địa phương được thực hiện theo pháp luật và đúng pháp luật. Pháp chế còn điều chỉnh hành vi quản lý của Nhà nước đối với xã hội và đối với từng lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với mọi tổ chức, cá nhân được thực hiện bằng pháp luật, theo pháp luật. Pháp chế điều chỉnh mọi hành vi của cá nhân, tổ chức; pháp chế bảo đảm cho mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

Thứ hai, pháp chế và công tác pháp chế là công cụ để tạo lập và củng cố trật tự, kỷ cương trong xã hội. Để thiết lập trật tự, kỉ cương, phép nước trong xã hội nhất định phải có pháp luật và pháp luật phải được mọi chủ thể cơ quan, tổ chức, cá nhân chấp hành nghiêm chỉnh.

Thứ ba, pháp chế góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, các quyền và lợi ích chính đáng của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Khi có nền pháp chế vững mạnh thì sẽ hình thành được trật tự, kỉ cương trong xã hội, từ đó lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân đều được tôn trọng và bảo vệ. Bên cạnh đó, pháp chế còn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, dân chủ văn minh.

Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền có mối liên hệ chặt chẽ với pháp chế và pháp luật. Nhà nước pháp quyền khẳng định tính tối cao của pháp luật, trong đó Hiến pháp là đạo luật cơ bản; mọi chủ thể trong xã hội đều phải thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật. Còn pháp luật lại là hạt nhân cốt lõi của pháp chế (là thực trạng xã hội khi pháp luật được thực hiện một cách đầy đủ, thống nhất và nghiêm minh). Đây là mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời giữa pháp luật, pháp chế và Nhà nước pháp quyền. Pháp chế và Nhà nước pháp quyền có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau; pháp chế được thực hiện nghiêm túc là tiền đề để thúc đẩy việc xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền. Khi pháp luật được thực thi nghiêm túc, đầy đủ, mọi quan hệ xã hội đều được điều chỉnh bởi pháp luật thì sẽ giúp cho trật tự an toàn xã hội được ổn định, pháp chế được thực thi, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền thì pháp luật phải được thực hiện một cách đồng bộ, thống nhất và nghiêm chỉnh trong toàn xã hội.

Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền cũng đặt ra nhiều yêu cầu về công tác pháp chế. Để việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đạt hiệu quả, công tác pháp chế phải đáp ứng một số yêu cầu: Cơ quan nhà nước phải thực thi pháp luật một cách nghiêm túc, đầy đủ, cơ quan nhà nước cấp dưới phải phục tùng cơ quan nhà nước cấp trên; Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của cơ quan nhà nước ở địa phương phải đảm bảo đồng bộ, thống nhất với VBQPPL ở Trung ương; cán bộ, công chức phải nêu cao tinh thần gương mẫu, chấp hành nghiêm quy định của pháp luật trong quá trình thực thi công vụ; các tổ chức, cá nhân khác phải chấp hành và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật.

Như vậy, cũng giống như pháp luật, nếu như pháp luật là hạt nhân của pháp chế thì trong Nhà nước pháp quyền, pháp chế và công tác pháp chế có vị trí, vai trò là hạt nhân, cốt lõi. Pháp chế và công tác pháp chế có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bố trí, sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; có pháp chế và công tác pháp chế được thực thi nghiêm túc thì việc xây dựng Nhà nước pháp quyền được đảm bảo, kỉ luật, kỉ cương trong xã hội được thiết lập, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các lợi ích công cộng, quyền và lợi ích chính đáng của cơ quan, tổ chức, cá nhân được đảm bảo.

3. Yêu cầu của Nhà nước pháp quyền về pháp chế và công tác pháp chế

Thực chất của việc tăng cường pháp chế là tăng cường chế độ quản lý nhà nước, quản lý xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo vệ pháp luật; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra việc thi hành pháp luật và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật.

Hiện nay, đất nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức. Trong bối cảnh đó, yêu cầu, nhiệm vụ tiếp tục tăng cường công tác pháp chế nhằm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là vô cùng cần thiết.

Một trong những đặc điểm của Nhà nước pháp quyền là mọi chủ thể xã hội đều phải thực hiện theo pháp luật. Vì vậy, yếu tố quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay là vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Hệ thống pháp luật phải đảm bảo tính đầy đủ để có thể điều chỉnh hết các lĩnh vực của đời sống xã hội; phải đảm bảo tính khả thi, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; phải đảm bảo tính tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên... Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là điều kiện tiên quyết, khách quan để xây dựng Nhà nước pháp quyền.

Để thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Muốn xây dựng được hệ thống pháp luật thực sự chất lượng tốt về nội dung và hình thức, đảm bảo tính khả thi thì việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, ban hành VBQPPL là vô cùng quan trọng.

Pháp luật phải được ban hành theo đúng quy trình, trình tự do pháp luật quy định, phải lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp; phải có cơ chế pháp lý cho phản biện xã hội và tiếp thu ý kiến của các tầng lớp nhân dân đối với các dự án, dự thảo VBQPPL. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nghiên cứu chuyên ngành trong hoạt động xây dựng pháp luật. Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc xây dựng, ban hành VBQPPL. Đồng thời, cần có cơ chế thu hút các cơ quan, tổ chức, cá nhân vào hoạt động xây dựng pháp luật. Bên cạnh đó phải thực hiện tốt công tác rà soát, hệ thống hóa hệ thống pháp luật. Để có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh cần phải hệ thống được những VBQPPL nào còn hiệu lực, những văn bản nào hết hiệu lực, xác định những vấn đề bức thiết cần thiết phải ban hành VBQPPL để điều chỉnh, ban hành văn bản nào trước, văn bản nào sau…

Thứ hai, tổ chức tốt việc triển khai thực hiện pháp luật. Để pháp luật khi được ban hành đi vào cuộc sống, việc tổ chức triển khai thực hiện pháp luật cần phải được quan tâm. Để làm tốt việc này cần phải làm tốt các công tác phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến pháp luật; tăng cường giải thích pháp luật; tổng kết việc thực hiện pháp luật. Bên cạnh đó, cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật; xử lý kịp thời, nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời, phải tăng cường hơn nữa các hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước, của nhân dân đối với việc thực hiện pháp luật.

Thứ ba, bảo vệ và mở rộng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, việc bảo vệ và mở rộng quyền của công dân phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Đồng thời, việc mở rộng dân chủ phải đi đôi với việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương, quyền đi đôi với trách nhiệm; dân chủ phải trong khuôn khổ của pháp luật.

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện thể chế về chế độ công chức, công vụ; đề cao trách nhiệm đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo, điều hành và thực thi công vụ của cán bộ, công chức, hướng đến mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức hành chính chuyên nghiệp, hiện đại. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ người làm công tác xây dựng pháp luật, người làm công tác tư pháp... bảo đảm cho đội ngũ này luôn có kỹ năng nghề nghiệp và có kiến thức thực tiễn, có phẩm chất, đạo đức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Thứ năm, tăng cường, nâng cao hiệu quả của công tác theo dõi thi hành pháp luật. Quy định cụ thể, rõ ràng tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước làm công cụ phục vụ nhiệm vụ theo dõi thi hành pháp luật; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, xác định trách nhiệm phối hợp của các cơ quan ngoài hệ thống hành pháp để Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện tốt công việc tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

Thứ sáu, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thi hành pháp luật nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật…

Như vậy, để thực hiện thành công công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, trước hết là vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; tổ chức tốt việc triển khai thực hiện pháp luật; bảo vệ và mở rộng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ và mở rộng quyền của công dân phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước; thể chế về chế độ công chức, công vụ được hoàn thiện; hiệu quả của công tác theo dõi thi hành pháp luật được tăng cường, nâng cao; công tác thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thi hành pháp luật được tăng cường nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật… Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp nêu trên giúp cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta được thuận lợi, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của Nhà nước pháp quyền.

ThS. Đỗ Thanh Hương

Vụ các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, tr. 56.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: