Thứ ba 22/09/2026 03:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vị trí, vai trò của pháp chế, công tác pháp chế trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trên cơ sở nghiên cứu về vị trí, vai trò của pháp chế, công tác pháp chế trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền, bài viết đưa ra những yêu cầu về pháp chế và công tác pháp chế để đạt được mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Abstract: Based on the study of position, role of legality, legal work in the setting up a rule of law state, the article raises requirements on legality and legal work in order to reach goals of setting up a socialist rule of law state of Vietnam.

1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển tư tưởng, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Ở Việt Nam, khái niệm Nhà nước pháp quyền được sử dụng lần đầu tiên tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ngày 25/11/1991 khi thảo luận về dự thảo Hiến pháp năm 1992. Nội dung cơ bản của Nhà nước pháp quyền Việt Nam đã được khẳng định trong Nghị quyết của Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng là “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam”. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa[1]. Chủ trương xây dựng nhà nước đã được cụ thể hóa trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Điều 12 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Đây được coi là điều luật Hiến pháp về pháp chế.

Tư tưởng và mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền được thể hiện nhất quán trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước ta (ví dụ như: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu Nhà nước mà là một cách thức tổ chức quyền lực nhà nước trên nền tảng chủ quyền nhân dân. Nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với một nền dân chủ nhất định, một chế độ xã hội cụ thể. Theo đó, Nhà nước pháp quyền là một chế độ nhà nước mà ở đó việc tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước, tổ chức và quản lý mọi mặt của đời sống xã hội đều chịu sự chi phối của pháp luật, hoạt động của tất cả thành viên trong xã hội đều tuân theo pháp luật; Nhà nước được thành lập để chăm lo cho nhân dân, phục vụ nhân dân.

Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 28/12/2013, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014, trong đó có việc quy định mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” (khoản 1 Điều 2). Như vậy, trong Nhà nước pháp quyền Nhân dân là chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức quyền lực Nhà nước.

2. Vị trí, vai trò của pháp chế và công tác pháp chế trong xây dựng Nhà nước pháp quyền

Tăng cường pháp chế là một đòi hỏi khách quan của quá trình quản lý và lãnh đạo của Nhà nước, đó là nguyên tắc hiến định ở Việt Nam. Điều 12 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật”.

Nói một cách chung nhất, pháp chế là chế độ quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý đời sống xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật. Còn công tác pháp chế được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện một hoặc nhiều công việc cụ thể nhằm thực thi pháp luật, đưa pháp luật đi vào cuộc sống. Việc thực hiện tốt nguyên tắc pháp chế, công tác pháp chế giúp cho xã hội được ổn định, đảm bảo sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong xã hội. Ở Việt Nam, pháp chế, công tác pháp chế có vị trí, vai trò, chức năng vô cùng quan trọng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật. Điều đó được thể hiện rõ ở một số điểm như sau:

Thứ nhất, pháp chế, công tác pháp chế bảo đảm cho Đảng lãnh đạo và nhân dân thực hiện quản lý nhà nước của mình bằng pháp luật và theo pháp luật. Điều này có nghĩa là pháp chế, công tác pháp chế đảm bảo cho việc tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan nhà nước, công chức, viên chức từ Trung ương đến địa phương được thực hiện theo pháp luật và đúng pháp luật. Pháp chế còn điều chỉnh hành vi quản lý của Nhà nước đối với xã hội và đối với từng lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với mọi tổ chức, cá nhân được thực hiện bằng pháp luật, theo pháp luật. Pháp chế điều chỉnh mọi hành vi của cá nhân, tổ chức; pháp chế bảo đảm cho mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

Thứ hai, pháp chế và công tác pháp chế là công cụ để tạo lập và củng cố trật tự, kỷ cương trong xã hội. Để thiết lập trật tự, kỉ cương, phép nước trong xã hội nhất định phải có pháp luật và pháp luật phải được mọi chủ thể cơ quan, tổ chức, cá nhân chấp hành nghiêm chỉnh.

Thứ ba, pháp chế góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, các quyền và lợi ích chính đáng của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Khi có nền pháp chế vững mạnh thì sẽ hình thành được trật tự, kỉ cương trong xã hội, từ đó lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân đều được tôn trọng và bảo vệ. Bên cạnh đó, pháp chế còn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, dân chủ văn minh.

Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền có mối liên hệ chặt chẽ với pháp chế và pháp luật. Nhà nước pháp quyền khẳng định tính tối cao của pháp luật, trong đó Hiến pháp là đạo luật cơ bản; mọi chủ thể trong xã hội đều phải thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật. Còn pháp luật lại là hạt nhân cốt lõi của pháp chế (là thực trạng xã hội khi pháp luật được thực hiện một cách đầy đủ, thống nhất và nghiêm minh). Đây là mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời giữa pháp luật, pháp chế và Nhà nước pháp quyền. Pháp chế và Nhà nước pháp quyền có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau; pháp chế được thực hiện nghiêm túc là tiền đề để thúc đẩy việc xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền. Khi pháp luật được thực thi nghiêm túc, đầy đủ, mọi quan hệ xã hội đều được điều chỉnh bởi pháp luật thì sẽ giúp cho trật tự an toàn xã hội được ổn định, pháp chế được thực thi, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền thì pháp luật phải được thực hiện một cách đồng bộ, thống nhất và nghiêm chỉnh trong toàn xã hội.

Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền cũng đặt ra nhiều yêu cầu về công tác pháp chế. Để việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đạt hiệu quả, công tác pháp chế phải đáp ứng một số yêu cầu: Cơ quan nhà nước phải thực thi pháp luật một cách nghiêm túc, đầy đủ, cơ quan nhà nước cấp dưới phải phục tùng cơ quan nhà nước cấp trên; Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của cơ quan nhà nước ở địa phương phải đảm bảo đồng bộ, thống nhất với VBQPPL ở Trung ương; cán bộ, công chức phải nêu cao tinh thần gương mẫu, chấp hành nghiêm quy định của pháp luật trong quá trình thực thi công vụ; các tổ chức, cá nhân khác phải chấp hành và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật.

Như vậy, cũng giống như pháp luật, nếu như pháp luật là hạt nhân của pháp chế thì trong Nhà nước pháp quyền, pháp chế và công tác pháp chế có vị trí, vai trò là hạt nhân, cốt lõi. Pháp chế và công tác pháp chế có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bố trí, sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; có pháp chế và công tác pháp chế được thực thi nghiêm túc thì việc xây dựng Nhà nước pháp quyền được đảm bảo, kỉ luật, kỉ cương trong xã hội được thiết lập, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các lợi ích công cộng, quyền và lợi ích chính đáng của cơ quan, tổ chức, cá nhân được đảm bảo.

3. Yêu cầu của Nhà nước pháp quyền về pháp chế và công tác pháp chế

Thực chất của việc tăng cường pháp chế là tăng cường chế độ quản lý nhà nước, quản lý xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo vệ pháp luật; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra việc thi hành pháp luật và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật.

Hiện nay, đất nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức. Trong bối cảnh đó, yêu cầu, nhiệm vụ tiếp tục tăng cường công tác pháp chế nhằm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là vô cùng cần thiết.

Một trong những đặc điểm của Nhà nước pháp quyền là mọi chủ thể xã hội đều phải thực hiện theo pháp luật. Vì vậy, yếu tố quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay là vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Hệ thống pháp luật phải đảm bảo tính đầy đủ để có thể điều chỉnh hết các lĩnh vực của đời sống xã hội; phải đảm bảo tính khả thi, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; phải đảm bảo tính tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên... Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là điều kiện tiên quyết, khách quan để xây dựng Nhà nước pháp quyền.

Để thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Muốn xây dựng được hệ thống pháp luật thực sự chất lượng tốt về nội dung và hình thức, đảm bảo tính khả thi thì việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, ban hành VBQPPL là vô cùng quan trọng.

Pháp luật phải được ban hành theo đúng quy trình, trình tự do pháp luật quy định, phải lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp; phải có cơ chế pháp lý cho phản biện xã hội và tiếp thu ý kiến của các tầng lớp nhân dân đối với các dự án, dự thảo VBQPPL. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nghiên cứu chuyên ngành trong hoạt động xây dựng pháp luật. Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc xây dựng, ban hành VBQPPL. Đồng thời, cần có cơ chế thu hút các cơ quan, tổ chức, cá nhân vào hoạt động xây dựng pháp luật. Bên cạnh đó phải thực hiện tốt công tác rà soát, hệ thống hóa hệ thống pháp luật. Để có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh cần phải hệ thống được những VBQPPL nào còn hiệu lực, những văn bản nào hết hiệu lực, xác định những vấn đề bức thiết cần thiết phải ban hành VBQPPL để điều chỉnh, ban hành văn bản nào trước, văn bản nào sau…

Thứ hai, tổ chức tốt việc triển khai thực hiện pháp luật. Để pháp luật khi được ban hành đi vào cuộc sống, việc tổ chức triển khai thực hiện pháp luật cần phải được quan tâm. Để làm tốt việc này cần phải làm tốt các công tác phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến pháp luật; tăng cường giải thích pháp luật; tổng kết việc thực hiện pháp luật. Bên cạnh đó, cần phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật; xử lý kịp thời, nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời, phải tăng cường hơn nữa các hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước, của nhân dân đối với việc thực hiện pháp luật.

Thứ ba, bảo vệ và mở rộng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, việc bảo vệ và mở rộng quyền của công dân phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Đồng thời, việc mở rộng dân chủ phải đi đôi với việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương, quyền đi đôi với trách nhiệm; dân chủ phải trong khuôn khổ của pháp luật.

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện thể chế về chế độ công chức, công vụ; đề cao trách nhiệm đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo, điều hành và thực thi công vụ của cán bộ, công chức, hướng đến mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức hành chính chuyên nghiệp, hiện đại. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ người làm công tác xây dựng pháp luật, người làm công tác tư pháp... bảo đảm cho đội ngũ này luôn có kỹ năng nghề nghiệp và có kiến thức thực tiễn, có phẩm chất, đạo đức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Thứ năm, tăng cường, nâng cao hiệu quả của công tác theo dõi thi hành pháp luật. Quy định cụ thể, rõ ràng tiêu chí đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước làm công cụ phục vụ nhiệm vụ theo dõi thi hành pháp luật; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, xác định trách nhiệm phối hợp của các cơ quan ngoài hệ thống hành pháp để Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện tốt công việc tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

Thứ sáu, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thi hành pháp luật nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật…

Như vậy, để thực hiện thành công công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, trước hết là vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; tổ chức tốt việc triển khai thực hiện pháp luật; bảo vệ và mở rộng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ và mở rộng quyền của công dân phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước; thể chế về chế độ công chức, công vụ được hoàn thiện; hiệu quả của công tác theo dõi thi hành pháp luật được tăng cường, nâng cao; công tác thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thi hành pháp luật được tăng cường nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật… Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp nêu trên giúp cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta được thuận lợi, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của Nhà nước pháp quyền.

ThS. Đỗ Thanh Hương

Vụ các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, tr. 56.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: