Thứ tư 04/03/2026 05:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế trong vụ việc Brexit

Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland rời khỏi Liên minh châu Âu (còn được gọi Brexit) là một trong những sự kiện chính trị - pháp lý lớn của thế giới trong năm 2016. Vụ việc được nghiên cứu dưới góc độ pháp lý quốc tế khi xem xét tính hợp pháp cách thức Anh rời khỏi Liên minh châu Âu.

Việc Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (gọi tắt là Anh) rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) hay còn được gọi là Brexit (ghép từ Britain và Exit), là một mục tiêu chính trị được nhiều cá nhân, nghiệp đoàn và đảng phái chính trị theo đuổi nhằm yêu cầu Anh rút tư cách thành viên EU theo Điều 50 của Hiệp ước Liên minh châu Âu.

Anh gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu vào năm 1973. Tuy nhiên, tới năm 1975, một cuộc trưng cầu dân ý đã được thực hiện với số phiếu đa số ủng hộ quốc gia này ở lại tổ chức. Việc rời khỏi Liên minh châu Âu một lần nữa được nhắc tới với cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016. Cuộc trưng cầu dân ý này được tổ chức bởi Quốc hội sau khi Điều luật tổ chức trưng cầu dân ý về Liên minh châu Âu năm 2015 được thông qua. Kết quả chính thức được công bố vào lúc 07 giờ sáng (giờ London) ngày 24/6/2016, phe Brexit giành chiến thắng với khoảng cách 1 triệu phiếu (51,89 % số phiếu)[1].

Brexit diễn ra vào thời điểm trong nội bộ EU đứng trước nhiều vấn đề lớn, gây chia rẽ sâu sắc như: Vấn đề nhập cư gây sức ép lên chính sách an sinh xã hội của EU, sự chênh lệch lớn về mức độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia thành viên, tình trạng suy thoái kinh tế và vỡ nợ công ở một số quốc gia thành viên trở nên nghiêm trọng đã gây khó khăn trong việc thực hiện chính sách về tài khoá, tiền tệ chung của EU… nên Anh cho rằng, đã ảnh hưởng lớn đến lợi ích của Anh nếu ở lại EU. Quyết định rời khỏi EU, xét thấy đây là vấn đề quan trọng mà Chính phủ hiện tại không thể tự quyết định được, Anh đã đưa vấn đề này ra lấy ý kiến toàn thể nhân dân. Đặc biệt, với việc Điều luật tổ chức trưng cầu dân ý về Liên minh châu Âu năm 2015 được thông qua và căn cứ vào Điều 50 Hiệp ước Liên minh châu Âu quy định về điều kiện và thủ tục để quốc gia thôi tư cách thành viên của tổ chức này đã hội tụ đầy đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc rời đi của Anh khỏi EU. Đây là vụ việc nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế vì những hệ quả kéo theo của hậu Brexit tác động lên nhiều mặt của đời sống chính trị, kinh tế, pháp lý quốc tế.

Theo Tuyên bố của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 24/10/1970 về những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc (Tuyên bố năm 1970) thì Liên Hợp Quốc đã thừa nhận sự phát triển và pháp điển hóa bảy nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế sau đây (các nguyên tắc có tính Jus Cogens):

- Nguyên tắc tất cả các quốc gia từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế của mình chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc là bất cứ cách thức nào khác không phù hợp với những mục đích của Liên Hợp Quốc.

- Nguyên tắc tất cả các quốc gia giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình miễn là không làm xâm hại đến hoà bình, an ninh và công lý.

- Nghĩa vụ không can thiệp vào những công việc thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia nào, phù hợp với Hiến chương này.

- Nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia khác phù hợp với Hiến chương.

- Nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc.

- Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia .

- Nguyên tắc các quốc gia sẽ thực hiện một cách thiện chí các nghĩa vụ của mình phù hợp với Hiến chương để bảo đảm rằng việc áp dụng những nguyên tắc đó có hiệu quả trong cộng đồng quốc tế sẽ khuyến khích việc thừa nhận các mục đích của Liên Hợp Quốc.

Bài viết đi sâu nghiên cứu Brexit dưới góc độ pháp lý quốc tế, xem xét tính hợp pháp của Brexit trong mối quan hệ với một số nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, từ đó đánh giá việc tuân thủ pháp luật quốc tế của Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland khi rời khỏi Liên minh châu Âu.

1. Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

Bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia được xem là nguyên tắc quan trọng số một trong số các nguyên tắc Jus Cogens của luật quốc tế, đây là nguyên tắc làm nền tảng cho sự hình thành, phát triển, điều kiện đảm bảo cho sự thực thi của các nguyên tắc Jus Conges khác và các quy phạm pháp luật quốc tế. Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia được ghi nhận tại Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc và Tuyên bố năm 1970.

Chủ quyền là thuộc tính chính trị - pháp lý không thể tách rời của một quốc gia, bao gồm hai nội dung cơ bản là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Đối với quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân sống trên lãnh thổ đó, ý chí của nhân dân là nền tảng quyền lực của Chính phủ. Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của quốc gia thể hiện qua quyền tự quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của quốc gia, không có sự áp đặt từ chủ thể khác, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc gia trong cộng đồng quốc tế.

Trong suốt quá trình từ khi khởi động Brexit cho đến khi Brexit được thông qua, Anh đã vận dụng và tuân thủ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, như Brexit được đưa ra các diễn đàn quốc tế lấy ý kiến từ các quốc gia hữu quan, các tổ chức quốc tế có tầm ảnh hưởng quan trọng trên thế giới như Liên Hợp Quốc, Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF)[2], Ngân hàng Thế giới (World Bank)… và đặc biệt là EU, để đánh giá các “kịch bản” có thể xảy ra nếu Anh rời khỏi EU dưới nhiều góc độ khác nhau, từ đó người dân Anh - chủ thể có quyền quyết định cuối, được cung cấp đầy đủ thông tin khi quyết định nội dung lá phiếu đi hay ở lại EU. Trưng cầu dân ý là hình thức dân chủ mà ở đó người dân được quyết định trực tiếp các vấn đề đối nội và đối ngoại của quốc gia, trong vụ việc này, Anh đã chọn cách thức thực hiện Brexit là lấy ý kiến toàn thể nhân dân để đưa ra quyết định cuối cùng hoàn toàn phù hợp với nội dung của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia trong quan hệ đối nội và đối ngoại.

Đến nay, kết quả cuối cùng của trưng cầu dân ý ở Anh không gây ra bất kỳ sự hoài nghi về tính chân thực, đó thật sự là quyết định của người dân Anh và không chịu bất kỳ sức ép chính trị nào từ bên ngoài.

2. Nguyên tắc dân tộc tự quyết và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác

Nguyên tắc dân tộc tự quyết được ghi nhận tại Nghị quyết số 1514 (XV) của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 14/12/1960 về trao trả độc lập cho các dân tộc thuộc địa và Tuyên bố năm 1970. Dân tộc tự quyết được hiểu là tất cả các dân tộc có quyền tự do quyết định thể chế chính trị của dân tộc mình và tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội mà không phải chịu bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài và mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền này.

Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác được ghi nhận tại Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc và trong Tuyên bố năm 1970. Theo đó, nguyên tắc có một số nội dung quan trọng như cấm sử dụng các biện pháp kinh tế, chính trị… để buộc quốc gia khác phụ thuộc vào mình, tôn trọng quyền của mỗi quốc gia tự do lựa chọn cho mình hệ thống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội mà không có sự can thiệp từ phía các quốc gia khác.

Anh gia nhập Cộng đồng kinh tế châu Âu năm 1973 và rời khỏi EU vào năm 2016 đều thực hiện cùng một thủ tục trưng cầu dân ý để đưa ra quyết định, đây là cách thức mà các quốc gia thường thực hiện để đưa ra các quyết định đối với những vấn đề đặc biệt quan trọng của quốc gia, là biểu hiện sinh động nhất của nguyên tắc dân tộc tự quyết trong luật quốc tế. Kết quả trưng cầu dân ý đã cho thấy, người dân Anh hoàn toàn được tự do quyết định con đường phát triển về kinh tế, chính trị và xã hội, quyết định tương lai của đất nước mình.

Mặc dù kết quả trưng cầu dân ý đi ngược với mong muốn và những nỗ lực của EU trong việc “níu giữ” Anh ở lại với EU trước đó, nhưng khi kết quả được thông qua đã không gặp phải bất kỳ hành động hay tuyên bố phản bác nào từ phía EU, mặt khác, EU luôn thể hiện sự tôn trọng Brexit vì đó là sự lựa chọn của người dân Anh. Việc Anh rời EU cũng được dự đoán sẽ gây ra hệ quả khó lường theo chiều hướng xấu về kinh tế không những với EU mà đối với cả thế giới. Tuy nhiên, có thể thấy, Liên Hợp Quốc, nhiều quốc gia lớn trên thế giới như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản… và ngay chính EU chỉ dừng lại đưa ra tuyên bố tại các hội nghị, diễn đàn quốc tế dưới hình thức khuyến nghị Anh nên cần thêm thời gian để cân nhắc, tính toán thật kỹ lưỡng trước khi đưa Brexit ra trưng cầu dân ý, vì một khi đã đi rất khó để được trở lại.

Trong vụ việc này, nguyên tắc dân tộc tự quyết và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác là những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đã được Anh, EU và cộng đồng quốc tế nghiêm túc thực thi.

3. Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda)

Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế được ghi nhân tại Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc và Tuyên bố năm 1970. Nguyên tắc này yêu cầu mọi quốc gia đều phải thực hiện tự nguyện, thiện chí, đầy đủ các nghĩa vụ từ điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên. Mặt khác, quốc gia không được viện dẫn pháp luật trong nước để từ chối thực hiện điều ước quốc tế, không được ký kết những điều ước quốc tế trái với những điều ước quốc tế đã ký kết và không được phép đơn phương ngừng thực hiện hoặc xét lại điều ước quốc tế mà mình đã ký kết.

Hiệp ước Liên minh châu Âu (còn gọi Hiệp ước Maastricht) được ký ngày 07/02/1992 ở Maastricht, Hà Lan sau khi các nước thành viên của Cộng đồng châu Âu thương thuyết xong nội dung của Hiệp ước, có hiệu lực từ ngày 01/11/1993. Hiệp ước đã tạo tiền đề cho việc thành lập Liên minh châu Âu và đưa tới việc tạo ra đồng Euro sau này. Điều 50 Hiệp ước Liên minh châu Âu quy định về điều kiện và thủ tục để quốc gia thôi tư cách thành viên của tổ chức này như sau:

“1. Bất kỳ quốc gia thành viên có thể quyết định rút khỏi Liên minh châu Âu phù hợp với yêu cầu Hiến pháp riêng của mình.

2. Một quốc gia thành viên quyết định rút khỏi phải thông báo cho Hội đồng châu Âu về ý định của mình. Sau khi xem xét hướng dẫn của Hội đồng châu Âu, Liên minh tiến hành đàm phán và ký kết một thỏa thuận với quốc gia đó và sắp xếp cho rút khỏi, có tính đến các khuôn khổ cho mối quan hệ trong tương lai với Liên minh với quốc gia đã rút khỏi. Đó là thỏa thuận được đàm phán theo Điều 218 (3) của Hiệp ước về các chức năng của Liên minh châu Âu. Thỏa thuận này phải được Nghị viện châu Âu thông qua, sau đó Hội đồng mới thay mặt Liên minh ký kết thỏa thuận cho phép rời đi.

3. Các hiệp ước sẽ ngừng áp dụng với quốc gia yêu cầu khi thoả thuận rút khỏi có hiệu lực. Tiến trình đàm phán dự kiến sẽ diễn ra trong vòng hai năm tính từ khi quốc gia đề nghị rút khỏi thông báo theo khoản 2. Tiến trình này sẽ được kéo dài nếu cần thiết nhưng chỉ với điều kiện các bên liên quan cùng đạt được đồng thuận”.

Anh đã khởi động hiệu lực Điều 50 Hiệp ước Liên minh châu Âu cho quá trình rời khỏi EU, đây là quốc gia đầu tiên trong lịch sử thành lập EU viện dẫn quy định này cho việc rời đi của mình. Quá trình thực hiện Brexit, Anh đã tiến hành tuần tự đầy đủ các thủ tục theo quy định của Điều 50, mặt khác, kết hợp với Điều luật tổ chức trưng cầu dân ý về Liên minh châu Âu năm 2015 được thông qua đã hội tụ đầy đủ cơ sở pháp lý quốc tế cho việc rời đi của Anh khỏi EU.

Đối với pháp luật quốc gia, xét thấy việc đi hay ở lại EU là vấn đề quan trọng, ảnh hưởng sâu rộng đến mọi phương diện của đất nước, Anh đã chọn cách thức lấy ý kiến toàn thể nhân dân quyết định là phù hợp với pháp luật của Anh. Quốc gia quyết định các vấn đề pháp lý quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật quốc gia là một trong những điều kiện cần thiết để Điều 50 Hiệp ước Liên minh châu Âu phát sinh hiệu lực.

Trình tự, thủ tục Anh thực hiện khi rời EU tuân thủ đúng với Hiệp ước Liên minh châu Âu mà Anh là thành viên, bên cạnh đó, cách thức Anh đưa ra quyết định cuối cùng là trưng cầu dân ý đã đảm bảo sự hài hoà, phù hợp giữa pháp luật quốc gia với điều ước quốc tế mà Anh là thành viên, cũng chính là cách thức thể hiện sự tuân thủ nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế.

4. Nguyên tắc tôn trọng các quyền cơ bản của con người[3]

Tôn trọng các quyền cơ bản của con người không được ghi nhận trong Tuyên bố năm 1970, tuy nhiên, được ghi nhận tại Điều 1 Hiến chương Liên Hợp Quốc[4] đã cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của các vấn đề liên quan đến quyền con người sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Các quyền cơ bản của con người còn được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, tại nhiều điều ước quốc tế lớn khác như Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cùng được Liên Hợp Quốc thông qua năm 1966.

Quyền con người là các quyền không thể thiếu để cá nhân, con người có thể tồn tại và phát triển bình thường với tư cách là một thành viên của cộng đồng xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của con người, hợp tác với các quốc gia khác trong việc bảo vệ quyền con người. Tuy nhiên, việc tôn trọng quyền con người phải trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc khác của luật quốc tế như nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác…

Từ khi trở thành thành viên của Cộng đồng kinh tế Châu Âu và sau này là EU ở Anh luôn tồn tại chủ nghĩa hoài nghi châu Âu, đặc biệt trong những năm trở lại đây Anh cho rằng việc mình là thành viên EU đã gặp nhiều bất lợi như nguy cơ bị vướng vào vòng xoáy suy thoái kinh tế, vỡ nợ công của một số quốc gia thành viên của EU, chính sách an sinh xã hội giảm sút do phải chia sẻ gánh nặng cùng EU đối với người nhập cư gia tăng nhanh từ Trung Đông đổ vào châu Âu… điều này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân Anh ở hiện tại và trong tương lai.

Đứng trước những thách thức đó, Anh quyết định rời khỏi EU như là một biện pháp nhằm thoát khỏi các khó khăn nói trên. Người dân Anh bỏ phiếu trực tiếp để quyết định rời khỏi Châu Âu cho thấy các quyền công dân, quyền con người được Chính phủ Anh thực thi, tôn trọng ở mức độ cao nhất. Kết quả trưng cầu dân ý ở Anh về Brexit được EU nói riêng và cộng động quốc tế nói chung công nhận đã thể hiện nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm của thế giới đối với quyền của người dân Anh được quyết định vận mệnh, con đường đi của mình.

Brexit là một trong những sự kiện pháp lý quốc tế chứng minh được một điều rằng, trong trường hợp quốc gia muốn quyết định vận mệnh của chính mình cũng phải tuân thủ các nguyên tắc Jus Cogens, quy phạm pháp luật quốc tế, điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên và pháp luật của chính quốc gia đó. Khi thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ quốc tế, các nguyên tắc Jus Cogens luôn có mối quan hệ tương tác trong một chỉnh thể thống nhất. Khi giải thích sự kiện dưới góc độ pháp lý quốc tế hay vận dụng các nguyên tắc Jus Cogens để điều chỉnh một sự kiện có tính pháp lý quốc tế tránh tình trạng áp dụng tách rời nội dung từng nguyên tắc mà phải áp dụng chúng trong mối quan hệ với nhau, có như vậy, các nguyên tắc cơ bản mới hoàn thành được chức năng là “xương sống”, nền tảng của hệ thống pháp luật quốc tế hiện đại.

Mặt khác, sự phát triển của lịch sử nhân loại luôn hướng đến hoà bình, công lý, tự do và hạnh phúc cho con người, vì vậy, pháp luật quốc tế với vai trò là một bộ phận của “kiến trúc thượng tầng quốc tế” trong tương lai sẽ được bổ sung thêm những nguyên tắc cơ bản mới có tính chất Jus Cogens phù hợp với quan hệ pháp lý quốc tế ngày càng phát triển, văn minh đáp ứng mong mỏi của nhân loại tiến bộ trên thế giới.

Đinh Phạm Văn Minh

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình


[1] Xem: https://vi.wikipedia.org, cập nhật ngày 17/12/2016.

[2] IMF từng cảnh báo, nếu như Anh quyết định rời EU sẽ kéo theo hậu quả “lớn và tiêu cực” cho nền kinh tế nước này, làm giảm thu nhập của người dân và nguy hại đến nền kinh tế của các nước châu Âu khác. Trong ngắn hạn, việc rời bỏ EU sẽ khiến nền kinh tế Anh rơi vào tình trạng suy thoái trong hai năm tới. Về mặt lâu dài, những tổn thất trong giai đoạn bất ổn và chi phí thương mại lớn sẽ “quét sạch” toàn bộ lợi nhuận mà Anh thu được từ việc không phải đóng góp cho EU trong trường hợp không còn là thành viên.

Bên cạnh đó, một khi rời xa “người tình lâu năm” EU, Anh sẽ phải thiết lập một mối quan hệ mới. Bởi theo lãnh đạo EU, “một khi đã đi là không được trở lại” (Nguồn: Hồng Hạnh, Thế giới ra sao sau cơn ác mộng Brexit?, http://baomoi.com, cập nhật ngày 10/12/2016).

[3] Nguyễn Bá Diến (Chủ biên), Giáo trình Công pháp quốc tế, năm 2013, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 111 - 116.

[4] Khoản 3 Điều 1 Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định: Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá, nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: