Chủ nhật 12/07/2026 13:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế trong vụ việc Brexit

Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland rời khỏi Liên minh châu Âu (còn được gọi Brexit) là một trong những sự kiện chính trị - pháp lý lớn của thế giới trong năm 2016. Vụ việc được nghiên cứu dưới góc độ pháp lý quốc tế khi xem xét tính hợp pháp cách thức Anh rời khỏi Liên minh châu Âu.

Việc Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (gọi tắt là Anh) rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) hay còn được gọi là Brexit (ghép từ Britain và Exit), là một mục tiêu chính trị được nhiều cá nhân, nghiệp đoàn và đảng phái chính trị theo đuổi nhằm yêu cầu Anh rút tư cách thành viên EU theo Điều 50 của Hiệp ước Liên minh châu Âu.

Anh gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu vào năm 1973. Tuy nhiên, tới năm 1975, một cuộc trưng cầu dân ý đã được thực hiện với số phiếu đa số ủng hộ quốc gia này ở lại tổ chức. Việc rời khỏi Liên minh châu Âu một lần nữa được nhắc tới với cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016. Cuộc trưng cầu dân ý này được tổ chức bởi Quốc hội sau khi Điều luật tổ chức trưng cầu dân ý về Liên minh châu Âu năm 2015 được thông qua. Kết quả chính thức được công bố vào lúc 07 giờ sáng (giờ London) ngày 24/6/2016, phe Brexit giành chiến thắng với khoảng cách 1 triệu phiếu (51,89 % số phiếu)[1].

Brexit diễn ra vào thời điểm trong nội bộ EU đứng trước nhiều vấn đề lớn, gây chia rẽ sâu sắc như: Vấn đề nhập cư gây sức ép lên chính sách an sinh xã hội của EU, sự chênh lệch lớn về mức độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia thành viên, tình trạng suy thoái kinh tế và vỡ nợ công ở một số quốc gia thành viên trở nên nghiêm trọng đã gây khó khăn trong việc thực hiện chính sách về tài khoá, tiền tệ chung của EU… nên Anh cho rằng, đã ảnh hưởng lớn đến lợi ích của Anh nếu ở lại EU. Quyết định rời khỏi EU, xét thấy đây là vấn đề quan trọng mà Chính phủ hiện tại không thể tự quyết định được, Anh đã đưa vấn đề này ra lấy ý kiến toàn thể nhân dân. Đặc biệt, với việc Điều luật tổ chức trưng cầu dân ý về Liên minh châu Âu năm 2015 được thông qua và căn cứ vào Điều 50 Hiệp ước Liên minh châu Âu quy định về điều kiện và thủ tục để quốc gia thôi tư cách thành viên của tổ chức này đã hội tụ đầy đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc rời đi của Anh khỏi EU. Đây là vụ việc nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế vì những hệ quả kéo theo của hậu Brexit tác động lên nhiều mặt của đời sống chính trị, kinh tế, pháp lý quốc tế.

Theo Tuyên bố của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 24/10/1970 về những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc (Tuyên bố năm 1970) thì Liên Hợp Quốc đã thừa nhận sự phát triển và pháp điển hóa bảy nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế sau đây (các nguyên tắc có tính Jus Cogens):

- Nguyên tắc tất cả các quốc gia từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế của mình chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc là bất cứ cách thức nào khác không phù hợp với những mục đích của Liên Hợp Quốc.

- Nguyên tắc tất cả các quốc gia giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình miễn là không làm xâm hại đến hoà bình, an ninh và công lý.

- Nghĩa vụ không can thiệp vào những công việc thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia nào, phù hợp với Hiến chương này.

- Nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia khác phù hợp với Hiến chương.

- Nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc.

- Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia .

- Nguyên tắc các quốc gia sẽ thực hiện một cách thiện chí các nghĩa vụ của mình phù hợp với Hiến chương để bảo đảm rằng việc áp dụng những nguyên tắc đó có hiệu quả trong cộng đồng quốc tế sẽ khuyến khích việc thừa nhận các mục đích của Liên Hợp Quốc.

Bài viết đi sâu nghiên cứu Brexit dưới góc độ pháp lý quốc tế, xem xét tính hợp pháp của Brexit trong mối quan hệ với một số nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, từ đó đánh giá việc tuân thủ pháp luật quốc tế của Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland khi rời khỏi Liên minh châu Âu.

1. Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

Bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia được xem là nguyên tắc quan trọng số một trong số các nguyên tắc Jus Cogens của luật quốc tế, đây là nguyên tắc làm nền tảng cho sự hình thành, phát triển, điều kiện đảm bảo cho sự thực thi của các nguyên tắc Jus Conges khác và các quy phạm pháp luật quốc tế. Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia được ghi nhận tại Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc và Tuyên bố năm 1970.

Chủ quyền là thuộc tính chính trị - pháp lý không thể tách rời của một quốc gia, bao gồm hai nội dung cơ bản là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Đối với quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân sống trên lãnh thổ đó, ý chí của nhân dân là nền tảng quyền lực của Chính phủ. Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của quốc gia thể hiện qua quyền tự quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của quốc gia, không có sự áp đặt từ chủ thể khác, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc gia trong cộng đồng quốc tế.

Trong suốt quá trình từ khi khởi động Brexit cho đến khi Brexit được thông qua, Anh đã vận dụng và tuân thủ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, như Brexit được đưa ra các diễn đàn quốc tế lấy ý kiến từ các quốc gia hữu quan, các tổ chức quốc tế có tầm ảnh hưởng quan trọng trên thế giới như Liên Hợp Quốc, Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF)[2], Ngân hàng Thế giới (World Bank)… và đặc biệt là EU, để đánh giá các “kịch bản” có thể xảy ra nếu Anh rời khỏi EU dưới nhiều góc độ khác nhau, từ đó người dân Anh - chủ thể có quyền quyết định cuối, được cung cấp đầy đủ thông tin khi quyết định nội dung lá phiếu đi hay ở lại EU. Trưng cầu dân ý là hình thức dân chủ mà ở đó người dân được quyết định trực tiếp các vấn đề đối nội và đối ngoại của quốc gia, trong vụ việc này, Anh đã chọn cách thức thực hiện Brexit là lấy ý kiến toàn thể nhân dân để đưa ra quyết định cuối cùng hoàn toàn phù hợp với nội dung của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia trong quan hệ đối nội và đối ngoại.

Đến nay, kết quả cuối cùng của trưng cầu dân ý ở Anh không gây ra bất kỳ sự hoài nghi về tính chân thực, đó thật sự là quyết định của người dân Anh và không chịu bất kỳ sức ép chính trị nào từ bên ngoài.

2. Nguyên tắc dân tộc tự quyết và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác

Nguyên tắc dân tộc tự quyết được ghi nhận tại Nghị quyết số 1514 (XV) của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 14/12/1960 về trao trả độc lập cho các dân tộc thuộc địa và Tuyên bố năm 1970. Dân tộc tự quyết được hiểu là tất cả các dân tộc có quyền tự do quyết định thể chế chính trị của dân tộc mình và tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội mà không phải chịu bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài và mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền này.

Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác được ghi nhận tại Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc và trong Tuyên bố năm 1970. Theo đó, nguyên tắc có một số nội dung quan trọng như cấm sử dụng các biện pháp kinh tế, chính trị… để buộc quốc gia khác phụ thuộc vào mình, tôn trọng quyền của mỗi quốc gia tự do lựa chọn cho mình hệ thống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội mà không có sự can thiệp từ phía các quốc gia khác.

Anh gia nhập Cộng đồng kinh tế châu Âu năm 1973 và rời khỏi EU vào năm 2016 đều thực hiện cùng một thủ tục trưng cầu dân ý để đưa ra quyết định, đây là cách thức mà các quốc gia thường thực hiện để đưa ra các quyết định đối với những vấn đề đặc biệt quan trọng của quốc gia, là biểu hiện sinh động nhất của nguyên tắc dân tộc tự quyết trong luật quốc tế. Kết quả trưng cầu dân ý đã cho thấy, người dân Anh hoàn toàn được tự do quyết định con đường phát triển về kinh tế, chính trị và xã hội, quyết định tương lai của đất nước mình.

Mặc dù kết quả trưng cầu dân ý đi ngược với mong muốn và những nỗ lực của EU trong việc “níu giữ” Anh ở lại với EU trước đó, nhưng khi kết quả được thông qua đã không gặp phải bất kỳ hành động hay tuyên bố phản bác nào từ phía EU, mặt khác, EU luôn thể hiện sự tôn trọng Brexit vì đó là sự lựa chọn của người dân Anh. Việc Anh rời EU cũng được dự đoán sẽ gây ra hệ quả khó lường theo chiều hướng xấu về kinh tế không những với EU mà đối với cả thế giới. Tuy nhiên, có thể thấy, Liên Hợp Quốc, nhiều quốc gia lớn trên thế giới như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản… và ngay chính EU chỉ dừng lại đưa ra tuyên bố tại các hội nghị, diễn đàn quốc tế dưới hình thức khuyến nghị Anh nên cần thêm thời gian để cân nhắc, tính toán thật kỹ lưỡng trước khi đưa Brexit ra trưng cầu dân ý, vì một khi đã đi rất khó để được trở lại.

Trong vụ việc này, nguyên tắc dân tộc tự quyết và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác là những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đã được Anh, EU và cộng đồng quốc tế nghiêm túc thực thi.

3. Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda)

Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế được ghi nhân tại Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc và Tuyên bố năm 1970. Nguyên tắc này yêu cầu mọi quốc gia đều phải thực hiện tự nguyện, thiện chí, đầy đủ các nghĩa vụ từ điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên. Mặt khác, quốc gia không được viện dẫn pháp luật trong nước để từ chối thực hiện điều ước quốc tế, không được ký kết những điều ước quốc tế trái với những điều ước quốc tế đã ký kết và không được phép đơn phương ngừng thực hiện hoặc xét lại điều ước quốc tế mà mình đã ký kết.

Hiệp ước Liên minh châu Âu (còn gọi Hiệp ước Maastricht) được ký ngày 07/02/1992 ở Maastricht, Hà Lan sau khi các nước thành viên của Cộng đồng châu Âu thương thuyết xong nội dung của Hiệp ước, có hiệu lực từ ngày 01/11/1993. Hiệp ước đã tạo tiền đề cho việc thành lập Liên minh châu Âu và đưa tới việc tạo ra đồng Euro sau này. Điều 50 Hiệp ước Liên minh châu Âu quy định về điều kiện và thủ tục để quốc gia thôi tư cách thành viên của tổ chức này như sau:

“1. Bất kỳ quốc gia thành viên có thể quyết định rút khỏi Liên minh châu Âu phù hợp với yêu cầu Hiến pháp riêng của mình.

2. Một quốc gia thành viên quyết định rút khỏi phải thông báo cho Hội đồng châu Âu về ý định của mình. Sau khi xem xét hướng dẫn của Hội đồng châu Âu, Liên minh tiến hành đàm phán và ký kết một thỏa thuận với quốc gia đó và sắp xếp cho rút khỏi, có tính đến các khuôn khổ cho mối quan hệ trong tương lai với Liên minh với quốc gia đã rút khỏi. Đó là thỏa thuận được đàm phán theo Điều 218 (3) của Hiệp ước về các chức năng của Liên minh châu Âu. Thỏa thuận này phải được Nghị viện châu Âu thông qua, sau đó Hội đồng mới thay mặt Liên minh ký kết thỏa thuận cho phép rời đi.

3. Các hiệp ước sẽ ngừng áp dụng với quốc gia yêu cầu khi thoả thuận rút khỏi có hiệu lực. Tiến trình đàm phán dự kiến sẽ diễn ra trong vòng hai năm tính từ khi quốc gia đề nghị rút khỏi thông báo theo khoản 2. Tiến trình này sẽ được kéo dài nếu cần thiết nhưng chỉ với điều kiện các bên liên quan cùng đạt được đồng thuận”.

Anh đã khởi động hiệu lực Điều 50 Hiệp ước Liên minh châu Âu cho quá trình rời khỏi EU, đây là quốc gia đầu tiên trong lịch sử thành lập EU viện dẫn quy định này cho việc rời đi của mình. Quá trình thực hiện Brexit, Anh đã tiến hành tuần tự đầy đủ các thủ tục theo quy định của Điều 50, mặt khác, kết hợp với Điều luật tổ chức trưng cầu dân ý về Liên minh châu Âu năm 2015 được thông qua đã hội tụ đầy đủ cơ sở pháp lý quốc tế cho việc rời đi của Anh khỏi EU.

Đối với pháp luật quốc gia, xét thấy việc đi hay ở lại EU là vấn đề quan trọng, ảnh hưởng sâu rộng đến mọi phương diện của đất nước, Anh đã chọn cách thức lấy ý kiến toàn thể nhân dân quyết định là phù hợp với pháp luật của Anh. Quốc gia quyết định các vấn đề pháp lý quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật quốc gia là một trong những điều kiện cần thiết để Điều 50 Hiệp ước Liên minh châu Âu phát sinh hiệu lực.

Trình tự, thủ tục Anh thực hiện khi rời EU tuân thủ đúng với Hiệp ước Liên minh châu Âu mà Anh là thành viên, bên cạnh đó, cách thức Anh đưa ra quyết định cuối cùng là trưng cầu dân ý đã đảm bảo sự hài hoà, phù hợp giữa pháp luật quốc gia với điều ước quốc tế mà Anh là thành viên, cũng chính là cách thức thể hiện sự tuân thủ nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế.

4. Nguyên tắc tôn trọng các quyền cơ bản của con người[3]

Tôn trọng các quyền cơ bản của con người không được ghi nhận trong Tuyên bố năm 1970, tuy nhiên, được ghi nhận tại Điều 1 Hiến chương Liên Hợp Quốc[4] đã cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của các vấn đề liên quan đến quyền con người sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Các quyền cơ bản của con người còn được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, tại nhiều điều ước quốc tế lớn khác như Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cùng được Liên Hợp Quốc thông qua năm 1966.

Quyền con người là các quyền không thể thiếu để cá nhân, con người có thể tồn tại và phát triển bình thường với tư cách là một thành viên của cộng đồng xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của con người, hợp tác với các quốc gia khác trong việc bảo vệ quyền con người. Tuy nhiên, việc tôn trọng quyền con người phải trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc khác của luật quốc tế như nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác…

Từ khi trở thành thành viên của Cộng đồng kinh tế Châu Âu và sau này là EU ở Anh luôn tồn tại chủ nghĩa hoài nghi châu Âu, đặc biệt trong những năm trở lại đây Anh cho rằng việc mình là thành viên EU đã gặp nhiều bất lợi như nguy cơ bị vướng vào vòng xoáy suy thoái kinh tế, vỡ nợ công của một số quốc gia thành viên của EU, chính sách an sinh xã hội giảm sút do phải chia sẻ gánh nặng cùng EU đối với người nhập cư gia tăng nhanh từ Trung Đông đổ vào châu Âu… điều này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân Anh ở hiện tại và trong tương lai.

Đứng trước những thách thức đó, Anh quyết định rời khỏi EU như là một biện pháp nhằm thoát khỏi các khó khăn nói trên. Người dân Anh bỏ phiếu trực tiếp để quyết định rời khỏi Châu Âu cho thấy các quyền công dân, quyền con người được Chính phủ Anh thực thi, tôn trọng ở mức độ cao nhất. Kết quả trưng cầu dân ý ở Anh về Brexit được EU nói riêng và cộng động quốc tế nói chung công nhận đã thể hiện nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm của thế giới đối với quyền của người dân Anh được quyết định vận mệnh, con đường đi của mình.

Brexit là một trong những sự kiện pháp lý quốc tế chứng minh được một điều rằng, trong trường hợp quốc gia muốn quyết định vận mệnh của chính mình cũng phải tuân thủ các nguyên tắc Jus Cogens, quy phạm pháp luật quốc tế, điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên và pháp luật của chính quốc gia đó. Khi thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ quốc tế, các nguyên tắc Jus Cogens luôn có mối quan hệ tương tác trong một chỉnh thể thống nhất. Khi giải thích sự kiện dưới góc độ pháp lý quốc tế hay vận dụng các nguyên tắc Jus Cogens để điều chỉnh một sự kiện có tính pháp lý quốc tế tránh tình trạng áp dụng tách rời nội dung từng nguyên tắc mà phải áp dụng chúng trong mối quan hệ với nhau, có như vậy, các nguyên tắc cơ bản mới hoàn thành được chức năng là “xương sống”, nền tảng của hệ thống pháp luật quốc tế hiện đại.

Mặt khác, sự phát triển của lịch sử nhân loại luôn hướng đến hoà bình, công lý, tự do và hạnh phúc cho con người, vì vậy, pháp luật quốc tế với vai trò là một bộ phận của “kiến trúc thượng tầng quốc tế” trong tương lai sẽ được bổ sung thêm những nguyên tắc cơ bản mới có tính chất Jus Cogens phù hợp với quan hệ pháp lý quốc tế ngày càng phát triển, văn minh đáp ứng mong mỏi của nhân loại tiến bộ trên thế giới.

Đinh Phạm Văn Minh

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình


[1] Xem: https://vi.wikipedia.org, cập nhật ngày 17/12/2016.

[2] IMF từng cảnh báo, nếu như Anh quyết định rời EU sẽ kéo theo hậu quả “lớn và tiêu cực” cho nền kinh tế nước này, làm giảm thu nhập của người dân và nguy hại đến nền kinh tế của các nước châu Âu khác. Trong ngắn hạn, việc rời bỏ EU sẽ khiến nền kinh tế Anh rơi vào tình trạng suy thoái trong hai năm tới. Về mặt lâu dài, những tổn thất trong giai đoạn bất ổn và chi phí thương mại lớn sẽ “quét sạch” toàn bộ lợi nhuận mà Anh thu được từ việc không phải đóng góp cho EU trong trường hợp không còn là thành viên.

Bên cạnh đó, một khi rời xa “người tình lâu năm” EU, Anh sẽ phải thiết lập một mối quan hệ mới. Bởi theo lãnh đạo EU, “một khi đã đi là không được trở lại” (Nguồn: Hồng Hạnh, Thế giới ra sao sau cơn ác mộng Brexit?, http://baomoi.com, cập nhật ngày 10/12/2016).

[3] Nguyễn Bá Diến (Chủ biên), Giáo trình Công pháp quốc tế, năm 2013, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 111 - 116.

[4] Khoản 3 Điều 1 Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định: Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá, nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: