Thứ tư 10/06/2026 08:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Trong giai đoạn tố tụng và giai đoạn thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều là những chủ thể đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật và việc xác định tư cách pháp lý của chủ thể này trong thực tiễn vẫn còn có những bất cập, cách hiểu khác nhau. Bài viết này phân tích làm rõ tư cách pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện, bổ sung các quy định của pháp luật nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong thời gian tới, bao gồm những nội dung cụ thể về: (i) Khái niệm và tư cách pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; (ii) Quy định quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, (iii) Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.


1. Khái niệm và tư cách pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Khái niệm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (NCQLNVLQ) đã được quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sau đó tiếp tục giữ nguyên tại khoản 4 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật Thi hành án dân sự). Theo đó, NCQLNVLQ được xác định là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự. Tương tự như phạm vi khái niệm “người được thi hành án” và “người phải thi hành án”, phạm vi chủ thể “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” cũng được Luật Thi hành án dân sự quy định gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Thứ nhất, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Các quy định về cá nhân được quy định từ Điều 16 đến Điều 73 Chương III Bộ luật Dân sự năm 2015. Khi xác định NCQLNVLQ trong thi hành án dân sự (THADS) cần lưu ý một số vấn đề như năng lực pháp luật dân sự của cá nhân và năng lực hành vi dân sự của cá nhân (quy định tương ứng tại Điều 16, Điều 19 Bộ luật Dân sự năm 2015). Theo đó, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên, người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22), người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (Điều 23) và hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 24). Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

Thứ hai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là tổ chức

Mặc dù không định nghĩa rõ khái niệm tổ chức, tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã phân biệt nhiều loại tổ chức khác nhau với đặc điểm, cơ cấu, tư cách pháp lý cũng khác nhau (từ Điều 74 đến Điều 96). Tổ chức được hiểu là: “Tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung”[1]. Tổ chức gồm: Tổ chức có tư cách pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015[2]. Tùy thuộc vào đặc điểm, tư cách pháp lý của từng loại NCQLNVLQ khác nhau mà trong quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên phải nghiên cứu các lĩnh vực pháp luật khác nhau bảo đảm thực hiện đúng bản án, quyết định, bảo vệ tối đa quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự và NCQLNVLQ.

Thứ ba, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan

Đến nay, pháp luật THADS cũng chưa có quy định giải thích cụ thể khái niệm “cơ quan” là NCQLNVLQ trong quá trình THADS. Tuy nhiên, thực tiễn công tác THADS cho thấy, khái niệm “cơ quan” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, có thể là cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước (Điều 97, Điều 99, Điều 100 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Khác với quy định của Luật Thi hành án dân sự (đương sự chỉ bao gồm người được thi hành án và người phải thi hành án, không bao gồm NCQLNVLQ), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định đương sự trong vụ án dân sự không những gồm nguyên đơn, bị đơn mà còn bao gồm cả NCQLNVLQ (cơ bản giống với quy định tại Điều 3 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004)[3]. Đương sự trong việc dân sự bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và NCQLNVLQ[4].

So với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ngoài việc kế thừa khái niệm NCQLNVLQ trong vụ án dân sự còn bổ sung thêm khái niệm NCQLNVLQ trong việc dân sự. Theo đó, NCQLNVLQ trong việc dân sự là người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự nhưng việc giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là NCQLNVLQ. Trường hợp giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là NCQLNVLQ thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là NCQLNVLQ trong việc dân sự (khoản 6 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến NCQLNVLQ đó là xác định rõ phạm vi chủ thể những cá nhân, tổ chức, cơ quan nào được gọi là NCQLNVLQ trực tiếp đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự. Việc xác định chính xác, đúng đối tượng NCQLNVLQ ngay từ giai đoạn đầu của quá trình thi hành án cũng như trong suốt quá trình thi hành án nhằm mục đích bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án và quyền lợi cơ bản của người phải thi hành án, đồng thời không xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và lợi ích công cộng. Nếu không xác định đầy đủ các mối quan hệ pháp lý trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án, không xác định hết người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì kết quả thi hành án có nguy cơ bị khiếu nại, tố cáo hoặc có thể đối mặt với nhiều hệ quả pháp lý khác, quyền lợi của các bên liên quan có thể sẽ không được bảo đảm theo bản án, quyết định.

Quá trình tổ chức thi hành án được coi là giai đoạn cuối cùng nhằm bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự và các bên có liên quan trong bản án, quyết định[5]. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp Tòa án xác định được hết phạm vi NCQLNVLQ nên vẫn ra bản án, quyết định. Theo quy định của pháp luật THADS thì trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật, bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật vẫn được tổ chức thi hành[6]. Tuy nhiên, sự phát hiện ra NCQLNVLQ trong giai đoạn thi hành án hoặc sự xuất hiện bất ngờ của họ sẽ dẫn đến những hệ quả pháp lý khác nhau như: Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đã hoặc đang được thi hành có thể sẽ bị tuyên hủy và đề nghị xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm[7] dẫn đến nhiều vướng mắc, bất cập[8].

2. Quy định quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Một là, quyền được thông báo, tham gia vào việc thực hiện biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà mình có liên quan. Theo quy định tại Điều 39 Luật Thi hành án dân sự, quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, NCQLNVLQ để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó. Theo đó, NCQLNVLQ có quyền được thông báo về THADS theo các hình thức: Trực tiếp, niêm yết công khai hoặc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Việc thông báo phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án[9].

NCQLNVLQ còn có quyền được nhận thông báo về thi hành án bằng điện tín, fax, email hoặc hình thức khác. Việc thông báo trực tiếp có thể được thực hiện theo hình thức đó nếu không gây trở ngại cho cơ quan THADS. Họ cũng có quyền từ chối không nhận thông báo về THADS, khi đó, việc thông báo sẽ được lập thành biên bản, có chữ ký của người chứng kiến và được coi là hợp lệ.

Khắc phục thiếu sót trong quy định tại khoản 2 Điều 40 Luật Thi hành án dân sự (mới chỉ quy định về việc giao thông báo cho người thân thích của đương sự trong trường hợp đương sự vắng mặt mà chưa quy định việc giao thông báo trong trường hợp NCQLNVLQ vắng mặt), Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/03/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã bổ sung quy định: “Trường hợp người được thông báo là NCQLNVLQ vắng mặt thì việc thông báo cho họ thông qua người thân thích được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 40 Luật Thi hành án dân sự”. Đối với việc thực hiện các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thì NCQLNVLQ được thông báo về việc cưỡng chế thi hành án#.

Hai là, được yêu cầu Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án. Tương tự như người phải thi hành án, người được thi hành án, NCQLNVLQ cũng có quyền yêu cầu Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án.

Ba là, quyền khiếu nại, tố cáo về thi hành án. Quyền khiếu nại, tố cáo của NCQLNVLQ được quy định cụ thể tại Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2018, Luật Thi hành án dân sự (Điều 140, Điều 154). Theo đó, NCQLNVLQ có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS, chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Bốn là, NCQLNVLQ có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định, yêu cầu của chấp hành viên trong thi hành án. NCQLNVLQ có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định, yêu cầu của chấp hành viên trong thi hành án. Theo quy định tại khoản 2 Điều 165 Luật Thi hành án dân sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện các quyết định về thi hành án thì tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường; nếu là cá nhân thì còn có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Năm là, NCQLNVLQ có nghĩa vụ thông báo cho cơ quan THADS khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú. Khoản 3 Điều 40 Luật Thi hành án dân sự quy định trường hợp người được thông báo đã chuyển đến địa chỉ mới thì phải thông báo theo địa chỉ mới của người được thông báo. Do đó, khi thay đổi địa chỉ, NCQLNVLQ phải có nghĩa vụ thông báo kịp thời cho cơ quan THADS.

3. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về NCQLNVLQ trong giai đoạn THADS vẫn còn một số bất cập, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, cụ thể:

Thứ nhất, cần có sự phân định rõ về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn xét xử của Tòa án với giai đoạn thi hành án

Ví dụ 1: Bản án của Tòa án nhân dân huyện X tuyên: Ông A, bà B phải thanh toán trả Ngân hàng TMCP Z số tiền nợ là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Trong trường hợp ông A bà B không có khả năng thanh toán trả nợ, Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan THADS kê biên phát mại tài sản thế chấp là thửa đất số 25, tờ bản đố số 01, tại thôn X, huyện Y đứng tên chủ sử dụng là ông A, bà B. Trong giai đoạn xét xử, do có nhiều người liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông A, bà B nên Tòa án xác định rất nhiều NCQLNVLQ trong bản án. Bản án xác định: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Z; bị đơn là ông A, bà B; những NCQLNVLQ bao gồm: Ông K là người chuyển nhượng thửa đất nói trên cho ông X, ông X lại chuyển nhượng tiếp cho ông T, ông T lại chuyển nhượng tiếp cho ông A, bà B mảnh đất này; bên cạnh đó, NCQLNVLQ còn được xác định bao gồm cả ông C, bà D (bố mẹ ông A), cháu Nguyễn Văn E, cháu Nguyễn Ngọc T (cháu E và cháu T đều còn nhỏ, là con của ông A, bà B). Vậy tới giai đoạn thi hành án, cần xác định “NCQLNVLQ” ở đây gồm những ai? Về vấn đề này hiện nay vẫn còn có những quan điểm khác nhau:

(i) Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án có ghi tên những NCQLNVLQ thì quyết định thi hành án cũng phải ghi đầy đủ tên những người này, đồng nghĩa với việc những người này cũng chính là NCQLNVLQ trong giai đoạn thi hành án;

(ii) Quan điểm thứ hai cho rằng: Ở đây, cơ quan THADS chỉ cần xác định người phải thi hành án là ông A, bà B, còn đối với những NCQLNVLQ trong giai đoạn xét xử của Tòa án, không phải trường hợp nào cũng là những NCQLNV liên quan trong giai đoạn thi hành án, nên không cần đưa vào quyết định thi hành án.

Ví dụ 2[10]: A cho B mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; B dùng nó để thế chấp vay vốn tại ngân hàng C, sau đó A khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng thế chấp giữa B và ngân hàng C do những sai phạm trong ký kết hợp đồng thế chấp. Tòa án xác định A là bên khởi kiện, ngân hàng C là bên bị kiện; B là NCQLNVLQ. Bản án có hiệu lực của Tòa án tuyên hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa B và ngân hàng C, buộc ngân hàng trả lại cho A giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, với nội dung bản án trên thì ở giai đoạn thi hành án chỉ xuất hiện hai chủ thể là người được thi hành án là A, người phải thi hành án là ngân hàng C; còn B không xuất hiện với tư cách gì cả. B không thể là chủ thể có quyền yêu cầu cơ quan THADS ra quyết định thi hành án buộc ngân hàng C trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình (không phải vì B là NCQLNVLQ mà do B không được hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ gì như trong bản án có hiệu lực đã tuyên hoặc có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự).

Từ những ví dụ và phân tích nêu trên có thể thấy rằng: Người xuất hiện với tư cách NCQLNVLQ trong giai đoạn xét xử vụ án dân sự nhưng không hẳn là sẽ có quyền xuất hiện với tư cách đó trong giai đoạn thi hành án mà còn phụ thuộc vào quyền và nghĩa vụ của các bên phải thực hiện trong nội dung bản án. Mặt khác, người xuất hiện với tư cách là NCQLNVLQ trong giai đoạn thi hành án thì chưa chắc trước đó đã xuất hiện với tư cách NCQLNVLQ trong bản án dân sự[11]. Do đó, NCQLNVLQ được xác định trong bản án có hiệu lực của Tòa án không đồng nhất NCQLNVLQ trong giai đoạn thi hành chính bản án đó nên không thể mặc nhiên coi NCQLNVLQ trong giai đoạn xét xử của Tòa án thành NCQLNVLQ trong giai đoạn thi hành án.

Việc xác định có nên đưa những NCQLNVLQ trong bản án vào quyết định thi hành án hay không là một vấn đề rất quan trọng, bởi điều này liên quan trực tiếp đến quá trình tổ chức thi hành án. Trong quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên phải thực hiện rất nhiều tác nghiệp. Việc xác định phạm vi đối tượng NCQLNVLQ quá rộng dẫn đến tạo thêm các thủ tục và gây kéo dài thời gian tổ chức thi hành án. Ví dụ, về việc thông báo thi hành án, trong trường hợp có quá nhiều NCQLNVLQ, chấp hành viên phải thực hiện rất nhiều thủ tục thông báo thi hành án (trong đó có cả những đối tượng không liên quan đến việc thi hành án của đương sự). Việc này làm ảnh hưởng rất nhiều đến tiến trình giải quyết công việc của chấp hành viên. Mặt khác, việc đưa quá nhiều người liên quan vào quá trình thi hành án, cũng có thể dẫn đến những hệ quả nhất định, khi có những người lợi dụng các quyền của những NCQLNVLQ do pháp luật quy định để gây khó khăn cho quá trình giải quyết việc thi hành án. Do đó, cần thiết sửa đổi, bổ sung bảo đảm sự thống nhất giữa Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Thi hành án dân sự liên quan đến tư cách pháp lý của NCQLNVLQ trong giai đoạn xét xử và giai đoạn THADS.

Thứ hai, cần có sự phân biệt “người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan” và “người thứ ba” trong thi hành án dân sự

Luật Thi hành án dân sự cũng có nhiều quy định đề cập đến nhiệm vụ, quyền hạn của người thứ ba, ví dụ, khoản 4 Điều 54, khoản 2 Điều 66, khoản 3 Điều 71, khoản 6 Điều 73, Điều 81, Điều 91, Điều 105, khoản 1 Điều 107, khoản 1 Điều 116, khoản 3 Điều 135 và Điều 6 Thông tư số 200/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016 của Bộ Tài chính quy định việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan THADS, kinh phí cưỡng chế THADS.

Khái niệm “người thứ ba” chưa được giải thích cụ thể trong Luật Thi hành án dân sự, tuy nhiên, có thể được hiểu đó là bất kỳ tổ chức, cá nhân, cơ quan nào mà quyền lợi, nghĩa vụ của họ có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc tổ chức thi hành án, xuất hiện trước hoặc phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án. Trong khi đó, NCQLNVLQ là những chủ thể (cá nhân, cơ quan, tổ chức) có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đương sự trong quá trình tổ chức thi hành án, và thông thường thì NCQLNVLQ là những chủ thể có thể dễ dàng xác định trên cơ sở bản án, quyết định của Tòa án hoặc có thể xác định rõ ràng, cụ thể các đặc điểm pháp lý của họ (tên, địa chỉ, nghề nghiệp hoặc lĩnh vực hoạt động) và những mối quan hệ ràng buộc giữa quyền lợi, nghĩa vụ của họ với quyền lợi, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án.

Có thể kể đến một số trường hợp liên quan đến “người thứ ba” trong thi hành án như: (i). Trường hợp xác định người thứ ba đang giữ giấy tờ phải giao, trả (Điều 116 Luật Thi hành án dân sự); (ii). Trường hợp người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án (Điều 81 Luật Thi hành án dân sự); (iii). Trường hợp “người thứ ba” phải chịu chi phí về thi hành án (Điều 6 Thông tư số 200/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016 của Bộ Tài chính quy định việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan THADS, kinh phí cưỡng chế thi hành án).

Có thể thấy, việc xác định rõ ràng, đầy đủ NCQLNVLQ trong giai đoạn THADS là vô cùng quan trọng và cần thiết, nó có tác động qua lại và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thi hành án. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc xác định tư cách pháp lý của NCQLNVLQ trong giai đoạn THADS vẫn còn nhiều bất cập, cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác THADS trong thời gian tới.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Hà Nội
TS. Nguyễn Văn Nghĩa
Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp



[1]. Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, năm 2008, tr.1.249.

[2]. Xem: Khoản 1 Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3]. ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa, Hồ Quân Chính, ThS. Nguyễn Văn Nghĩa; Bình luận Luật Thi hành án dân sự, Nxb. Tư pháp, năm 2019; tr. 83.

[4]. Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]. Nguyễn Thị Tuyết, “Không đưa đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, bản án sơ thẩm bị Tòa án cấp phúc thẩm xử hủy”; http://vksbacgiang.gov.vn/chuyendephapluat/59/7001; ngày đăng: 22/9/2017; ngày truy cập: 09/2/2021.

[6]. Khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự.

[7]. Nguyễn Thị Tuyết, “Không đưa đầy đủ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, bản án sơ thẩm bị Tòa án cấp phúc thẩm xử hủy”; http://vksbacgiang.gov.vn/chuyendephapluat/59/7001; ngày đăng: 22/9/2017; ngày truy cập: 09/2/2021.

[8]. ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa, Hồ Quân Chính, ThS. Nguyễn Văn Nghĩa; Bình luận Luật Thi hành án dân sự, Nxb. Tư pháp, năm 2019, tr. 617 - 627.

[9]. Điều 38 Luật Thi hành án dân sự.

[10]. Huy Hùng, Một số ý kiến trao đổi về “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án dân sự”: Những vướng mắc, bất cập và đề xuất hướng giải quyết; https://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_ detail.aspx?itemid=940; ngày đăng: 16/3/2020; ngày truy cập: 21/01/2021.

[11]. Huy Hùng, Một số ý kiến trao đổi về “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án dân sự”: Những vướng mắc, bất cập và đề xuất hướng giải quyết; https://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_ detail.aspx?itemid=940; ngày đăng: 16/3/2020; ngày truy cập: 21/01/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: