Thứ ba 21/04/2026 20:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng "Chính phủ mở" và quyền tiếp cận thông tin trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin

Theo quy định của Tổ chức ARTICLE 19[1], một trong những nguyên tắc khi xây dựng Luật Tiếp cận thông tin là nội dung của Luật phải nhằm khuyến khích xây dựng mô hình “Chính phủ mở”. Theo đó, “Chính phủ mở” cũng được coi là một cách tiếp cận ở tầm vĩ mô để thực thi quyền tiếp cận thông tin, đồng thời là kết quả của việc thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin của công dân[2].

1. “Chính phủ mở” và mối liên hệ đến quyền tiếp cận thông tin


Quan niệm về “Chính phủ mở” (Open Government) hàm ý một bộ máy nhà nước có độ công khai, minh bạch cao trong tổ chức và hoạt động để đáp ứng hiệu quả nhu cầu của công dân, doanh nghiệp. Đây là khái niệm không mới, nhưng gần đây được quan tâm mạnh mẽ bởi cộng đồng quốc tế và mang thêm một số nội hàm mới do sự phát triển của công nghệ thông tin[3].

Cụ thể, trước đây, khái niệm “Chính phủ mở” đơn thuần chỉ việc công dân “tiếp cận thông tin” từ bên trong bộ máy nhà nước, bộ máy thuộc hệ thống chính trị, chính quyền, nhưng hiện nay khái niệm này còn bao gồm sự “chủ động” chia sẻ và cung cấp thông tin giữa các cơ quan chính quyền với các tổ chức xã hội, người dân, doanh nghiệp và cộng đồng. Nội hàm của sự “chia sẻ” thông tin hàm ý các mối quan hệ song phương, tính gợi mở, sự tin tưởng cũng như sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau trong quá trình phát triển xã hội.

Từ một góc độ khác, “Chính phủ mở” theo nghĩa hiện đại là một bộ máy chính quyền có khả năng lắng nghe và biết quan tâm đến suy nghĩ của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế, để tìm cách đáp ứng. Ở đây, một Chính phủ “mở” và “biết lắng nghe” không đồng nghĩa với việc chính quyền có khả năng giải quyết mọi vấn đề và thách thức của xã hội, song họ có nhiều ý tưởng và sáng kiến, đặc biệt là luôn trăn trở làm những gì tốt nhất trong khả năng của họ để đáp ứng yêu cầu của người dân, làm cho xã hội tốt đẹp hơn.

“Chính phủ mở” theo nghĩa hiện đại đồng nghĩa với sự minh bạch, sự tham gia của người dân, trách nhiệm giải trình, công nghệ thông tin và đổi mới. “Chính phủ mở” theo nghĩa hiện đại rộng hơn khái niệm “Chính phủ điện tử”[4].

2. “Chính phủ mở” và quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay

Tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị, được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948. Trong tiến trình hội nhập quốc tế thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến quyền con người và luôn có các biện pháp cụ thể nhằm bảo đảm không ngừng nâng cao quyền tiếp cận thông tin của người dân, coi đây là một giải pháp hữu hiệu bảo đảm quyền con người được thực thi ở Việt Nam, cũng như thể hiện thái độ tích cực hội nhập quốc tế theo xu thế nhân quyền và hòa bình. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân ở Việt Nam trong mối tương quan với các loại quyền chính trị - dân sự khác vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn do chưa có cơ chế pháp lý hữu hiệu, đầy đủ để người dân thực hiện quyền của mình.

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình; việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Thực chất, ở Việt Nam, quyền tiếp cận thông tin của người dân chỉ đến Hiến pháp năm 1992 mới được đề cập trong Điều 69: Công dân có quyền được thông tin. Trước đó, trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 chưa có các quy định về quyền tiếp cận thông tin. Thực chất, quyền tiếp cận thông tin hay quyền được thông tin trong Hiến pháp năm 1992 và 2013 là sự thể chế tinh thần của Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (được bổ sung, phát triển năm 2011): “Bảo đảm quyền được thông tin... của công dân”. Tiếp theo, để thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 và 2013, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành có các quy định về quyền được thông tin và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin do cơ quan nhà nước đang nắm giữ như: Luật Kế toán; Luật Kiểm toán; Luật Nhà ở; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm; Luật Bảo vệ môi trường; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn… Trong đó, một số cơ quan công quyền trung ương đã được xác định về nghĩa vụ thông tin:

Người đứng đầu cơ quan quyền lực tối cao phải thực hiện quy định về thông tin đến người dân, cụ thể như quy định của Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội phải được Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực và Chủ tịch nước công bố chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày thông qua. Hay người đứng đầu cơ quan hành pháp trung ương phải thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân về những vấn đề quan trọng thông qua những báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội, trả lời của Chính phủ đối với chất vấn của đại biểu Quốc hội và ý kiến phát biểu với cơ quan thông tin đại chúng.

Các cơ quan công quyền buộc phải thực hiện các nguyên tắc và nội dung công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước và những nội dung khác theo quy định của Chính phủ như cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai hoạt động của mình, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước và những nội dung khác theo quy định của Chính phủ.

Việc công khai thông tin có nhiều biện pháp khác nhau, trong đó một công cụ hữu hiệu nhất đó là báo chí. Theo Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí ban hành kèm theo Quyết định số 25/2013/QĐ-TTg ngày 04/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ còn quy định, các cơ quan nhà nước thực hiện việc cung cấp thông tin cho báo chí thông qua người phát ngôn, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí về hoạt động của cơ quan mình, về lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi quản lý của mình.

Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 quy định niêm yết công khai tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã, thông tin trên hệ thống truyền thanh của cấp xã, công khai thông qua trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến người dân các nội dung trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội như dự án, công trình đầu tư, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức...

Từ các quy định trên đây của pháp luật, thực tế người dân đã được tiếp cận thông tin trên một số lĩnh vực cụ thể như hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật, giải quyết yêu cầu của công dân, hoạt động của chính quyền nhà nước, trong lĩnh vực tư pháp, báo chí.

Người dân được tham gia các hoạt động hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật thông qua các cuộc hội thảo, tọa đàm, phiếu lấy ý kiến, đăng dự thảo trên trang thông tin điện tử của cơ quan... Quốc hội, Chính phủ đã mở chuyên mục, diễn đàn để công dân, tổ chức, doanh nghiệp đóng góp ý kiến trên trang thông tin điện tử. Các báo, tạp chí cũng đã đăng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức các diễn đàn để công dân tham gia đóng góp ý kiến. Nhiều phiên họp của Quốc hội khi thảo luận về việc hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật cũng đã được truyền hình trực tiếp đến với người dân.

Cơ chế “một cửa” với thời gian rút ngắn tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đã tạo thuận lợi cho công dân, tổ chức, doanh nghiệp khi tham gia giao dịch với cơ quan nhà nước. Các thông tin về thủ tục hành chính, thời gian giải quyết, phí, lệ phí trong một số lĩnh vực được niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của cơ quan hành chính. Nhiều cơ quan còn chủ động công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc trang thông tin điện tử về các lĩnh vực đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, cấp giấy phép xây dựng, các quyết định về đầu tư, các lĩnh vực về đăng ký hộ khẩu, hộ tịch...

Các cơ quan tư pháp như Tòa án, Viện kiểm sát cũng từng bước nâng cao hoạt động công khai các bản án, phán quyết của Tòa án, bảo đảm việc cung cấp thông tin cho các đương sự trong vụ kiện dân sự, quy định công khai, minh bạch trong quá trình tranh tụng, quy định cho phép luật sư được tiếp cận với vụ án cũng như sao chụp các tài liệu phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp...

Song song với việc cụ thể hóa các quy định từ Hiến pháp, Nhà nước ta đã “nội luật hóa” một số quy định trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin của công dân trong nước và công dân nước ngoài đến Việt Nam. Tuy nhiên, việc thể chế và chi tiết hóa quyền được thông tin hay tiếp cận thông tin được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn kiện pháp lý quốc tế khác thành các quy định của luật và văn bản pháp quy còn chậm, chưa hệ thống, chưa bao quát đầy đủ các lĩnh vực của cuộc sống, chưa có một cơ chế pháp lý cụ thể, đơn giản, nên việc thực hiện quyền được thông tin của công dân còn hạn chế.

Hầu hết các văn bản hiện hành mới chỉ dừng lại ở việc xác định trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước cũng như quyền tự do thông tin mang tính nguyên tắc chung chung và ít tính thực tiễn. Các quy định về tiếp cận thông tin chủ yếu giao quyền tự quyết định việc cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thông tin thuộc lĩnh vực mà cơ quan đó phụ trách, do đó mỗi cơ quan, mỗi lĩnh vực lại có những quy định khác nhau về cách thức, quy trình cung cấp thông tin.

Do các quy định pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập, nên việc tiếp cận thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ vẫn rất khó khăn, dẫn tới tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan công quyền chưa được thực hiện, biểu hiện rõ nhất là trên lĩnh vực đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, các khoản vay ưu đãi hay viện trợ ODA không hoàn lại, cứu đói trong trường hợp thiên tai, các gói hỗ trợ doanh nghiệp, kích cầu tiêu dùng… Vì thế, hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch, lợi dụng các kẽ hở của pháp luật trong cơ quan nhà nước vẫn phổ biến, dẫn tới hiện tượng khiếu kiện đông người, khiếu kiện kéo dài, khiếu kiện vượt cấp và thậm chí có sử dụng vũ khí nóng để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

3. Một số đề xuất về xây dựng “Chính phủ mở” và quyền tiếp cận thông tin trong Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin

3.1. Về nội hàm thuật ngữ “thông tin”

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin[5] (Dự thảo) thì “thông tin là tin được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình”.

Cách quy định như Dự thảo mới chỉ quan niệm thông tin theo nghĩa hẹp nên chưa thể giúp được các chủ thể có liên quan khi tiếp nhận thông tin thực hiện quyền dân chủ của mình một cách triệt để như quan niệm xây dựng “Chính phủ mở”. Bởi lẽ, thông tin không chỉ là tin, mà còn là những kiến thức được chứa đựng trong các hồ sơ, tài liệu...

Đồng thời, trong quá trình hoạt động, cơ quan nhà nước thường nắm giữ hai loại thông tin là thông tin do chính cơ quan mình “tạo ra” và “nắm giữ” trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và thông tin mà cơ quan khác gửi cho mình trong quá trình phối hợp hoạt động[6].

Dự thảo cần thống nhất quan niệm, việc thông tin do cơ quan hiện đang nắm giữ không chỉ gồm những thông tin do cơ quan nhà nước “tạo ra”, mà còn bao gồm những thông tin do cơ quan nhà nước “thu thập được” trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Trong thực tiễn quản lý nhà nước sẽ có những thông tin không do cơ quan nhà nước tạo ra nhưng vẫn được lưu giữ tại cơ quan này theo chức năng, nhiệm vụ quản lý, như thông tin về điều tra ô nhiễm môi trường, báo cáo tình trạng tham nhũng, tính công khai minh bạch do các tổ chức trong nước hoặc quốc tế thực hiện đã được gửi đến cơ quan nhà nước. Do đó cần có quan niệm lại, thông tin phải là những kiến thức được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu và tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước “tạo ra, có sẵn, nắm giữ” hoặc có thể thu thập được phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình.

3.2. Về nội hàm chủ thể có quyền tiếp cận thông tin

Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 và Điều 2 Dự thảo quy định, đối tượng được thực hiện quyền tiếp cận thông tin là công dân; đồng thời tại Điều 32 Dự thảo cũng quy định, người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có quyền yêu cầu cung cấp thông tin liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ.

Việc quy định của Dự thảo là bó hẹp phạm vi chủ thể có quyền, nên cần quy định việc tiếp cận thông tin là quyền của mọi chủ thể, không chỉ giới hạn đối với công dân và người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. Theo đó, Dự thảo nên tiếp cận mở rộng phạm vi chủ thể theo hướng quy định rộng rãi để bảo đảm tính phổ quát của quyền tiếp cận thông tin. Do đó, Dự thảo nên sử dụng cụm từ như “mọi người”, “bất kể người nào”, “công chúng”[7] để thể hiện tính phổ quát của quyền tiếp cận thông tin.

Kinh nghiệm ở phần lớn các quốc gia, chủ thể của quyền thông tin có thể là cá nhân hay tổ chức. Đối với các chủ thể là cá nhân, một số Luật Tự do thông tin hoặc Luật Bảo vệ dữ liệu[8] cho phép các cá nhân được tiếp cận tài liệu lưu trữ do các cá nhân và các tổ chức tư nhân nắm giữ, đồng thời cũng cho phép tiếp cận hoặc sửa đổi các tài liệu lưu trữ cá nhân. Cá nhân có thể là công dân, người không mang quốc tịch, người nước ngoài không cần tính đến việc họ có các lợi ích pháp lý liên quan hay không; cụ thể hơn, có thể là trẻ em hay công chức nhà nước. Theo đó, các văn bản thường sử dụng các cụm từ như “mọi người”, “bất kể người nào”, “công chúng”[9] để thể hiện tính phổ quát của quyền tiếp cận thông tin[10].

3.3. Về cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin

Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Dự thảo, các cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin chỉ bao gồm các cơ quan nhà nước mà không bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội.

Việc quy định như vậy không thỏa mãn được những đặc thù của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay. Chúng ta nên mạnh dạn hướng tới mục đích của việc ban hành Luật này là để bảo đảm quyền thông tin - quyền con người thì tất cả các cơ quan, tổ chức sử dụng quyền lực công hoặc tài sản, ngân sách do người dân đóng góp đều phải có trách nhiệm cung cấp thông tin, dù cơ quan đó được hình thành dưới hình thức nào và hoạt động theo nguyên tắc nào[11], nhằm bảo đảm quyền được thông tin, biết và tham gia vào công việc quốc gia của người dân; bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động của Nhà nước và cả hệ thống chính trị.

3.4. Về việc từ chối cung cấp thông tin theo yêu cầu

Điều 24 Dự thảo quy định việc hạn chế cung cấp thông tin trong một số trường hợp. Cần có những quy cụ thể hơn theo quan điểm liệt kê danh sách các loại thông tin, tài liệu phải công bố và được cung cấp theo yêu cầu. Về nguyên tắc, tất cả những yêu cầu thông tin đối với cơ quan công quyền cần phải đáp ứng cho người có nhu cầu, trừ khi cơ quan đó chứng minh được rằng, thông tin yêu cầu thuộc loại hạn chế miễn cung cấp. Tránh quy định chung chung vì về nguyên tắc, đây là trách nhiệm xây dựng “Chính phủ mở”, không thể từ chối trong trường hợp “vượt quá khả năng đáp ứng của cơ quan, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan”; “cuộc họp nội bộ”… quy định như vậy dễ bị lợi dụng để từ chối.

ThS. Trần Văn Duy

Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam


[1] ARTICLE 19 là một tổ chức quốc tế chuyên nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin trên thế giới, rất có uy tín về giới học thuật, các tổ chức quốc tế và Chính phủ của các quốc gia trong việc xây dựng và thực thi pháp luật tiếp cận/tự do thông tin.

[2] GS.TSKH. Đào Trí Úc, PGS.TS. Vũ Công Giao, Những Điều cần biết về Pháp luật Tiếp cận Thông tin, Nxb. Quốc gia Hà Nội, 2015, tr.35.

[3] GS.TSKH. Đào Trí Úc, PGS.TS. Vũ Công Giao, Những Điều cần biết về Pháp luật Tiếp cận Thông tin, Nxb. Quốc gia Hà Nội, 2015, tr.35.

[4] GS.TSKH. Đào Trí Úc, PGS.TS. Vũ Công Giao, Những Điều cần biết về Pháp luật Tiếp cận Thông tin, Nxb. Quốc gia Hà Nội, 2015, tr.36.

[5] Dự thảo đăng tải trên:

http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=448&LanID=1200&TabIndex=1.

[6] GS.TSKH. Đào Trí Úc, PGS.TS. Vũ Công Giao, Những Điều cần biết về Pháp luật Tiếp cận Thông tin, Nxb. Quốc gia Hà Nội, 2015, tr.16.

[7] Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường (ngày 25/6/1998); Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua vào tháng 10/2003 và có hiệu lực thi hành từ tháng 12/2005; Công ước của Liên minh châu Phi về phòng, chống tham nhũng tháng 6/2003; Hiến pháp Estonia tại Điều 44; Hiến pháp Anbani năm 1998 tại Điều 23, Điều 56; Luật về quyền tiếp cận thông tin trong các tài liệu chính thức của Anbani năm 1999; Luật Tiếp cận thông tin của Canada năm 1985; Luật của Nhật Bản về tiếp cận thông tin của các cơ quan hành chính năm 2001; Luật Tự do thông tin Thuỵ Điển được ban hành vào năm 1949 và được sửa đổi vào năm 1976; Luật về tiếp cận hồ sơ hành chính nhà nước của Đan Mạch năm 1985; Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền của Hàn Quốc năm 1996...

[8] Luật Tăng cường tiếp cận thông tin Nam Phi.

[9] Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường (ngày 25/6/1998); Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua vào tháng 10/2003 và có hiệu lực thi hành từ tháng 12/2005; Công ước của Liên minh châu Phi về phòng, chống tham nhũng tháng 6/2003; Hiến pháp Estonia tại Điều 44; Hiến pháp Anbani năm 1998 tại Điều 23, Điều 56; Luật về quyền tiếp cận thông tin trong các tài liệu chính thức của Anbani năm 1999; Luật tiếp cận thông tin của Canada năm 1985; Luật của Nhật Bản về tiếp cận thông tin của các cơ quan hành chính năm 2001; Luật Tự do thông tin Thuỵ Điển được ban hành vào năm 1949 và được sửa đổi vào năm 1976; Luật về tiếp cận hồ sơ hành chính Nhà nước của Đan Mạch năm 1985; Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền của Hàn Quốc năm 1996...

[10] GS.TSKH. Đào Trí Úc, PGS.TS. Vũ Công Giao, Những Điều cần biết về Pháp luật Tiếp cận Thông tin, Nxb. Quốc gia Hà Nội, 2015, tr.35.

[11] Xem: Toby Mendel, Freedom of information: A comparative legal survey, Second Edition, United Nations, UNESCO, Paris, 2008, trang 144.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: