Thứ tư 29/07/2026 05:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng Luật Đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động đấu giá tài sản đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm. Ở Việt Nam, hoạt động đấu giá tài sản do các hỗ giá viên thực hiện đã hình thành và tồn tại trong thời kỳ Pháp thuộc. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chức danh hỗ giá viên tiếp tục được quy định và việc đấu giá tài sản trong thời kỳ này tạm thời được giữ nguyên theo các quy định của thời kỳ Pháp thuộc[1]. Trong giai đoạn tiếp theo, hoạt động đấu giá tài sản chủ yếu liên quan đến việc phát mại tài sản để thi hành án[2]. Đến năm 1989, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự, trong đó có một số quy định về trình tự, thủ tục đấu giá tài sản đã kê biên để thi hành án.

1. Bối cảnh xây dựng dự án Luật Đấu giá tài sản

Năm 1996, trên cơ sở quy định về bán đấu giá tài sản của Bộ luật Dân sự, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 86/CP ngày 19/12/1996 về việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản, từ đó hoạt động đấu giá được hình thành và từng bước phát triển thành dịch vụ bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp. Để góp phần thống nhất về trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản, đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân về dịch vụ bán đấu giá tài sản, Quốc hội đã ban hành Luật Thương mại, trong đó quy định việc bán đấu giá tài sản của thương nhân. Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định về lĩnh vực này, trong đó có Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 về bán đấu giá tài sản (sau đây gọi tắt là Nghị định số 17/2010/NĐ-CP)[3].

Sau 5 năm thi hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, hoạt động đấu giá tài sản đã đạt được những kết quả đáng kể. Các loại tài sản bắt buộc đấu giá được mở rộng hơn, chất lượng hoạt động đấu giá ngày càng được nâng cao. Số hợp đồng đấu giá thành, giá trị tài sản bán được cao hơn nhiều so với giá khởi điểm, thu ngân sách nhà nước thông qua hoạt động đấu giá đạt hiệu quả cao[4]. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và các ngành dịch vụ theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động đấu giá tài sản đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập như:

Thứ nhất, chất lượng dịch vụ đấu giá nhìn chung còn chưa hiệu quả, còn tồn tại tình trạng “quân xanh, quân đỏ”, thông đồng, dìm giá trong các phiên đấu giá; chưa có cơ chế hữu hiệu kiểm soát việc đấu giá, nhất là đấu giá tài sản nhà nước. Đặc biệt, việc bàn giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá đối với tài sản thi hành án, tài sản giao dịch bảo đảm còn gặp rất nhiều khó khăn, dẫn đến tình trạng người mua được tài sản đấu giá ngay tình chịu nhiều rủi ro, quyền lợi hợp pháp bị ảnh hưởng do không nhận được tài sản trúng đấu giá.

Thứ hai, doanh nghiệp đấu giá đã có sự phát triển đáng kể về số lượng, nhưng tổ chức và hoạt động còn chưa chuyên nghiệp. Số doanh nghiệp thực chất hoạt động chuyên nghiệp về đấu giá tài sản là rất ít, phần lớn doanh nghiệp còn lại chỉ đăng ký hoạt động đấu giá tài sản mà không thực hiện phiên đấu giá nào trên thực tế. Số Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tự chủ về kinh phí hoạt động còn chưa nhiều; một số Trung tâm hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách của nhà nước (theo số liệu thống kê đến ngày 31/12/2014, có 12/63 Trung tâm tự chủ 100% về tài chính, 46/63 Trung tâm được Nhà nước bao cấp một phần kinh phí, 5/63 Trung tâm được bao cấp 100% kinh phí). Ngoài ra, vẫn còn tình trạng thành lập Hội đồng để bán đấu giá tài sản không đúng quy định của pháp luật. Chất lượng của đội ngũ đấu giá viên tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế.

Thứ ba, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá tài sản ở một số nơi còn buông lỏng; công tác thanh tra, kiểm tra còn chưa thực hiện thường xuyên; chế tài và việc xử lý các vi phạm trong hoạt động đấu giá còn chưa nghiêm, chưa kịp thời, dẫn đến hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao.

Thứ tư, ở các nước phát triển, đấu giá là hình thức bán tài sản công khai, minh bạch, hiệu quả, rất thông dụng và chủ yếu bán tài sản của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, tại Việt Nam hoạt động đấu giá chủ yếu tập trung vào các tài sản mà theo quy định của pháp luật bắt buộc phải đấu giá, chủ yếu là tài sản nhà nước (tính từ tháng 7/2010 đến hết ngày 31/12/2014, trong cả nước mới chỉ có 37 cuộc đấu giá do cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn dịch vụ đấu giá để xử lý tài sản của mình). Ngoài ra, còn tồn tại tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động đấu giá, nhất là giữa doanh nghiệp đấu giá tài sản là tổ chức kinh tế hoạt động theo pháp luật doanh nghiệp với Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản là đơn vị sự nghiệp công lập.

Những hạn chế trên xuất phát từ các nguyên nhân chính sau đây:

Một là, thể chế pháp luật về đấu giá tài sản hiện hành chưa đồng bộ, chưa thống nhất; dịch vụ đấu giá là một hoạt động quan trọng trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, nhưng đến nay vẫn chưa có luật riêng điều chỉnh; còn tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, chưa hợp lý giữa các văn bản quy phạm pháp luật về trình tự, thủ tục đấu giá[5], chưa tạo điều kiện cho việc xử lý tài sản một cách nhanh chóng, thuận tiện, nhất là đối với việc đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân.

Hai là, quy định hiện hành về điều kiện để trở thành đấu giá viên còn đơn giản, dễ dãi; thời gian đào tạo nghề đấu giá còn ít so với các chức danh bổ trợ tư pháp khác, nhất là chưa có quy định về tập sự hành nghề đối với đấu giá viên, do đó, chất lượng và tính chuyên nghiệp của đội ngũ đấu giá viên còn hạn chế.

Ba là, năng lực quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về đấu giá tài sản ở một số địa phương còn bất cập, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý và hỗ trợ phát triển đối với doanh nghiệp đấu giá còn chưa rõ ràng, thiếu hiệu quả. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý về lĩnh vực đấu giá tài sản còn mỏng, chưa được đào tạo bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực mới mẻ này.

Bốn là, do điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta đang phát triển, nhận thức của cơ quan nhà nước, tổ chức, người dân, đặc biệt là các chủ thể có liên quan về hoạt động đấu giá chưa đầy đủ, chưa toàn diện nên đã có tác động không nhỏ đến việc phát triển hoạt động đấu giá theo cơ chế thị trường. Bên cạnh đó, do truyền thống tâm lý của tổ chức, cá nhân còn e ngại việc công khai tài sản khi đấu giá, ngại tiếp cận các thủ tục đấu giá và thanh toán các chi phí đấu giá đã làm cho phương thức đấu giá trở nên thiếu sức hấp dẫn đối với đấu giá tài sản tự nguyện. Ngoài ra, đấu giá tài sản là loại hình dịch vụ mới hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, do vậy, chưa theo kịp với các nước đã có lịch sử nghề đấu giá lâu đời ở khu vực và trên thế giới.

Từ thực tế nêu trên cho thấy sự cần thiết phải xây dựng Luật Đấu giá tài sản để đáp ứng nhu cầu hoàn thiện pháp luật trong tình hình mới.

2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện chất lượng hoạt động đấu giá

Để nâng cao chất lượng hoạt động đấu giá, dự thảo Luật Đấu giá tài sản cần tập trung giải quyết các vấn đề sau:

Thứ nhất, cần chuẩn hóa việc đào tạo nghề đấu giá, quy trình tập sự hành nghề đấu giá, từ đó, nâng cao chất lượng đội ngũ đấu giá viên, chất lượng hoạt động đấu giá tài sản, tính chuyên môn, chuyên nghiệp của hoạt động đấu giá tài sản.

Thứ hai, cần thống nhất về trình tự, thủ tục đấu giá tài sản áp dụng đối với các loại tài sản bán đấu giá, bao gồm cả tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá và tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức có lựa chọn hình thức bán đấu giá.

Thứ ba, cần đảm bảo tính công khai, minh bạch, khách quan của việc niêm yết, thông báo bán đấu giá, việc đăng ký tham gia đấu giá, tính chặt chẽ, phù hợp đối với các hình thức đấu giá nhằm hạn chế tình trạng thông đồng, móc nối để dìm giá, làm sai lệch kết quả đấu giá.

Thứ tư, cần nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ của người có tài sản trong việc tổ chức bán đấu giá, đồng thời, có cơ chế kiểm soát hữu hiệu trong quá trình tổ chức bán đấu giá tài sản nhất là đối với tài sản nhà nước.

Thứ năm, cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động đấu giá tài sản của đấu giá viên, tổ chức bán đấu giá tài sản.

3. Một số định hướng xây dựng Luật Đấu giá tài sản

Một là, về phạm vi điều chỉnh

- Dự thảo Luật Đấu giá tài sản áp dụng đối với việc đấu giá các tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá và tài sản thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân lựa chọn hình thức bán thông qua đấu giá, ngoại trừ việc đấu giá chứng khoán và tài sản nhà nước ở nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật điều chỉnh đối với loại tài sản đó.

- Dự thảo Luật Đấu giá tài sản quy định việc đấu giá tài sản nhà nước ở nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước ở nước ngoài và Luật Đấu giá tài sản, bởi lẽ, theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thì việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan nhà nước của Việt Nam tại nước ngoài được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, phù hợp với quy chế ngoại giao và pháp luật của nước sở tại. Như vậy, việc xử lý tài sản nêu trên ngoài pháp luật Việt Nam còn phải tuân theo pháp luật nước sở tại, phù hợp với cam kết quốc tế của Việt Nam và nước đó về mở cửa thị trường dịch vụ đấu giá tài sản[6]. Nếu quy định việc bán đấu giá tài sản nhà nước ở nước ngoài theo Luật Đấu giá tài sản thì có thể phát sinh mâu thuẫn trong trường hợp pháp luật nước sở tại có quy định khác (ví dụ như trường hợp pháp luật nước sở tại không cho phép tổ chức đấu giá Việt Nam hành nghề tại nước đó).

- Dự thảo Luật Đấu giá tài sản quy định việc đấu giá chứng khoán được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán xuất phát từ lý do là việc đấu giá chứng khoán được thực hiện theo trình tự, thủ tục với số lượng người tham gia có thể lên đến hàng nghìn người, hàng triệu chứng khoán có thể được giao dịch cùng lúc, việc đấu giá phải có tổ chức bảo lãnh phát hành, đồng thời, việc niêm yết chứng khoán được tiến hành theo cách thức khác biệt hoàn toàn so với niêm yết tài sản thông thường như phải có bản cáo bạch, công bố thông tin... Bên cạnh đó, việc đấu giá chứng khoán hoàn toàn được thực hiện trên sàn giao dịch điện tử hiện đại, thực hiện phiên khớp lệnh liên tục, đòi hỏi yêu cầu chuyên môn kỹ thuật cao mà điều kiện về cơ sở vật chất và trang thiết bị của các doanh nghiệp đấu giá hiện nay không thể đáp ứng được; việc bán đấu giá chứng khoán không phải do đấu giá viên điều hành. Trên thế giới, việc đấu giá chứng khoán đều được thực hiện trên các sàn giao dịch chứng khoán như sàn giao dịch Nasdaq, Tokyo, New York, Thượng Hải...

Hai là, về mối quan hệ giữa Luật Đấu giá tài sản và các luật khác

Hiện nay có rất nhiều loại tài sản bắt buộc phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật như: Tài sản để thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung công quỹ nhà nước, tài sản giao dịch bảo đảm, tài sản nhà nước, hàng dự trữ quốc gia, tài sản thanh lý của doanh nghiệp phá sản... Trong số những tài sản nêu trên, một số loại tài sản được bán đấu giá theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 17/2010/NĐ-CP; một số tài sản khác được thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành, tuy nhiên, trình tự, thủ tục bán đấu giá không khác biệt so với trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 17/2010/NĐ-CP. Điểm khác biệt lớn nhất trong việc bán đấu giá các loại tài sản này là việc xác định giá khởi điểm và việc chuyển giao tài sản sau khi bán đấu giá.

Nhằm thống nhất trình tự, thủ tục bán đấu giá đối với các loại tài sản phải bán đấu giá, tránh tình trạng quy định tản mạn, trùng lặp, mâu thuẫn hoặc chồng chéo trong các văn bản quy phạm pháp luật về bán đấu giá tài sản, qua đó, góp phần làm minh bạch hóa hoạt động bán đấu giá, chống thất thoát tài sản nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, dự thảo Luật Đấu giá tài sản quy định thống nhất trình tự, thủ tục bán đấu giá đối với các loại tài sản bán đấu giá thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu giá tài sản như đã nêu trên; trong trường hợp có sự khác nhau về trình tự, thủ tục đấu giá giữa quy định của Luật Đấu giá tài sản và các luật khác thì áp dụng quy định của Luật Đấu giá tài sản.

Ba là, về tách bạch những vấn đề liên quan đến trước và sau khi tổ chức cuộc đấu giá

Pháp luật hiện hành về bán đấu giá quy định hợp đồng mua bán tài sản được ký kết giữa người mua được tài sản với tổ chức bán đấu giá. Quy định này đã dẫn đến tình trạng bên đứng tên ký hợp đồng mua bán không phải là người có tài sản dẫn tới người có tài sản không thể hiện ý chí của mình trong hợp đồng nên ảnh hưởng tới việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người có tài sản. Để khắc phục bất cập này, dự thảo Luật Đấu giá tài sản tách quy trình về bán đấu giá với quy trình thẩm định giá, xác định giá khởi điểm và quy trình ký hợp đồng, chuyển quyền sở hữu tài sản theo hướng việc thẩm định giá, xác định giá khởi điểm được thực hiện trước khi ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá và được thực hiện theo quy định của pháp luật điều chỉnh đối với loại tài sản đó; tổ chức bán đấu giá tài sản chỉ cung cấp dịch vụ bán đấu giá, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được ký trực tiếp giữa bên bán tài sản và người mua tài sản bán đấu giá.

Bốn là, về chuyển đổi mô hình hoạt động Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản

Nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động đấu giá tài sản, góp phần chuyên nghiệp hóa hoạt động nghề nghiệp đấu giá tài sản, dự thảo Luật Đấu giá tài sản quy định căn cứ tình hình thực tiễn tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xem xét, quyết định việc giao cơ chế tự chủ cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Trong trường hợp không cần thiết duy trì Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thì Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xem xét, quyết định việc chuyển đổi Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp hoặc giải thể Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản. Quy định này xuất phát từ tình hình thực tiễn là trong thời gian qua, mặc dù các doanh nghiệp đấu giá tài sản đã có sự đóng góp tích cực trong hoạt động đấu giá tài sản, nhưng tại một số địa phương, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản vẫn giữ vai trò nòng cốt trong việc đấu giá, nhất là tại 12 tỉnh hiện nay chưa có doanh nghiệp đấu giá tài sản.

Năm là, về một số định hướng cụ thể

- Về tài sản đấu giá

Dự thảo Luật Đấu giá tài sản quy định tài sản bán đấu giá bao gồm tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá và tài sản do tổ chức, cá nhân tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá. Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá, dự thảo Luật Đấu giá tài sản liệt kê cụ thể các loại tài sản này (ví dụ như: Tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, tài sản của doanh nghiệp phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản...), đồng thời, có quy định mở trong trường hợp pháp luật chuyên ngành sau này có quy định tài sản phải bán thông qua đấu giá thì cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu giá tài sản.

- Về tiêu chuẩn đấu giá viên, đào tạo nghề, tập sự hành nghề đấu giá

Nghề đấu giá đòi hỏi cần có kiến thức, kỹ năng tổng hợp về pháp luật, tài chính, xã hội và thường xuyên phải cọ xát với thực tiễn, đặc biệt là kỹ năng điều hành phiên đấu giá. Pháp luật của đa số các nước quy định người hành nghề đấu giá phải qua đào tạo nghề, tập sự hành nghề, có nơi còn phải qua kỳ thi tuyển của Hiệp hội đấu giá viên (như ở Mỹ, Pháp, Trung Quốc...). Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng đội ngũ đấu giá viên và tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề đáp ứng yêu cầu thực tiễn, dự thảo Luật Đấu giá tài sản quy định theo hướng nâng cao tiêu chuẩn trở thành đấu giá viên, cụ thể để trở thành đấu giá viên thì người đó phải tham gia khóa đào tạo nghề đấu giá với thời gian là 06 tháng; thực hiện tập sự hành nghề đấu giá trong thời gian 06 tháng và đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá. Thông lệ quốc tế về nghề đấu giá tài sản, dự thảo Luật Đấu giá tài sản cũng quy định rõ những đối tượng được miễn đào tạo nghề đấu giá bao gồm những người đã qua các khóa đào tạo về nghề nghiệp và có kỹ năng hành nghề trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp và lĩnh vực có liên quan như luật sư, quản tài viên, thừa phát lại, kiểm toán viên, công chứng viên...

- Về doanh nghiệp đấu giá tài sản

Dự thảo Luật Đấu giá tài sản quy định doanh nghiệp đấu giá tài sản được thành lập dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh. Quy định này trước hết xuất phát từ tính chất của hoạt động đấu giá tài sản liên quan đến tiền, tài sản của bên thứ ba và theo quy định của Luật Đầu tư, đấu giá tài sản là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Do đó, doanh nghiệp đấu giá tư nhân hoặc công ty hợp danh là các tổ chức kinh tế chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động của mình sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đấu giá trong hành nghề, qua đó góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người có tài sản, người tham gia đấu giá, đảm bảo tính chuyên nghiệp về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản. Mặt khác, hình thức doanh nghiệp đấu giá tài sản là doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh cũng tương thích với hình thức tổ chức hành nghề trong một số lĩnh vực hành nghề bổ trợ tư pháp khác có tính chất tương tự như quản tài viên, công chứng viên đã được Luật Phá sản, Luật Công chứng quy định.

- Về trình tự, thủ tục đấu giá

Dự thảo Luật Đấu giá quy định về trình tự, thủ tục đấu giá tài sản chung và trình tự, thủ tục đấu giá các loại tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá theo hướng chặt chẽ, đảm bảo tính minh bạch, khách quan, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, hạn chế tối đa tình trạng “quân xanh, quân đỏ”, thông đồng, dìm giá, tránh gây thất thoát cho tài sản nhà nước, thể hiện qua một số nội dung chính như sau:

- Việc niêm yết các thông tin đấu giá tài sản được công khai rộng rãi, minh bạch tới các đối tượng có nhu cầu mua tài sản đấu giá; việc tổ chức đăng ký tham gia đấu giá đảm bảo tính chặt chẽ, khách quan, thuận lợi và tổ chức đấu giá tài sản không được đặt thêm yêu cầu, điều kiện nào đối với người đăng ký tham gia đấu giá ngoài các điều kiện đã được pháp luật quy định; nâng tỷ lệ tiền đặt trước lên mức phù hợp để hạn chế tình trạng người không có nhu cầu mua tài sản, nhưng vẫn đăng ký tham gia đấu giá để trục lợi hoặc gây khó khăn cho cuộc đấu giá; thủ tục mua hồ sơ, đăng ký tham gia đấu giá được thực hiện công khai, thuận lợi nhằm tránh tình trạng tổ chức đấu giá cản trở hoặc hạn chế người đăng ký tham gia đấu giá; khoản tiền đặt trước, tiền mua tài sản đấu giá được quản lý chặt chẽ hơn.

- Quy định rõ ràng, rành mạch hơn hình thức đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp, bỏ phiếu gián tiếp; bổ sung hình thức đấu giá trực tuyến, qua đó góp phần hạn chế tình trạng “quân xanh, quân đỏ”, thông đồng, móc nối để dìm giá, làm sai lệch kết quả đấu giá; bổ sung phương thức đặt giá xuống theo thông lệ của các nước trong khu vực và trên thế giới như đấu giá hàng hóa ở Thái Lan, đấu giá hoa tulip ở Hà Lan, đấu giá cá tại Anh và Israel, thị trường tín dụng ở Rumani, trao đổi ngoại thương ở Bolivia… để đáp ứng yêu cầu thực tiễn tại Việt Nam cũng như xu thế hội nhập quốc tế.

- Quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người có tài sản đấu giá, người trúng đấu giá, theo đó, trong quá trình tổ chức đấu giá, người có tài sản đấu giá có quyền dừng việc tổ chức đấu giá nếu có hành vi vi phạm trình tự, thủ tục đấu giá, dừng cuộc đấu giá nếu có hành vi thông đồng, móc nối để dìm giá; tại cuộc đấu giá, đấu giá viên có quyền truất quyền tham dự cuộc đấu giá đối với người vi phạm quy chế cuộc đấu giá.

- Quy định thống nhất tên gọi là thù lao dịch vụ đấu giá và thù lao dịch vụ đấu giá được tính theo cơ chế giá dịch vụ thị trường do các bên thỏa thuận. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản khi bán tài sản thuộc sở hữu của nhà nước, tài sản thuộc sở hữu của bên thứ ba (như tài sản thi hành án, giao dịch bảo đảm), dự thảo Luật Đấu giá tài sản quy định thù lao dịch vụ đấu giá được xác định theo khung do Bộ Tài chính quy định.

- Quy định các trường hợp hủy kết quả đấu giá đảm bảo chặt chẽ, khách quan, bảo vệ quyền, lợi ích của các bên có liên quan, phù hợp với thực tiễn hoạt động đấu giá tài sản và quy định của pháp luật về dân sự. Cụ thể, dự thảo Luật Đấu giá tài sản bỏ trường hợp kết quả đấu giá bị hủy theo quyết định của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã được quy định tại Nghị định số 17/2010/NĐ-CP.

Hiến pháp năm 2013 đã có hiệu lực thi hành được hơn 2 năm, nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động đấu giá tài sản đã và đang được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện như: Luật Đất đai, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi), Bộ luật Dân sự (sửa đổi), Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi), Luật Doanh nghiệp... Việc ban hành Luật Đấu giá tài sản sẽ tạo sự chuyển biến mạnh mẽ đối với lĩnh vực này theo hướng chuyên nghiệp hóa, xã hội hóa, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới là rất cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý ổn định, thống nhất cho hoạt động đấu giá tài sản, khắc phục những bất cập, hạn chế hiện nay.

Đỗ Hoàng Yến
Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Sắc lệnh ngày 02/9/1935 được bổ khuyết bởi các sắc lệnh ngày 6/12/1936, ngày 12/5/1937, ngày 07/4/1938 và ngày 04/5/1938 quy định thể lệ về hỗ giá viên; Nghị định ngày 02/8/1933 được sửa đổi do Nghị định ngày 31/01/1934 ấn định tiền lệ phí về việc bán đấu giá ở phòng đấu giá. Nghị định số 37 ngày 01/12/1945 về tổ chức Bộ Tư pháp quy định Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm soạn thảo và tổ chức thi hành các đạo luật về quyền tự do, dân chủ cá nhân, về dân sự, thương sự, hình sự, luật sư, đại tụng viên, thừa phát lại… trong đó có hỗ giá viên. Nghị định số 83-TP/NĐ ngày 27/02/1946 của Bộ Tư pháp quy định những luật lệ hiện hành về hỗ giá viên tạm thời giữ nguyên như cũ.

[2]. Theo Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 quy định về việc phát mại tài sản theo lệnh của Tòa án và Thông tư 04-NCPL ngày 14/4/1966 của Tòa án nhân dân tối cao quy định về việc Tòa án kê biên, phát mại tài sản để thi hành án.

[3]. Trước Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 quy định về bán đấu giá tài sản.

[4]. Theo số liệu thống kê thì từ tháng 7/2010 đến tháng 12/2014, các tổ chức đấu giá tài sản đã ký 47.449 hợp đồng đấu giá với giá khởi điểm hơn 62.010 tỷ đồng, giá trị tài sản bán được hơn 67.273 tỷ đồng (vượt hơn 5.262 tỷ đồng so với giá khởi điểm).

[5]. Trình tự, thủ tục đấu giá tài sản hiện nay được điều chỉnh bởi nhiều văn bản như Luật Thương mại, Luật Khoáng sản, Luật Chứng khoán, Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư liên tịch của các bộ, ngành.

[6]. Hiện nay, trong WTO, TPP và Hiệp định song phương, đa phương, Việt Nam không có cam kết về dịch vụ đấu giá tài sản.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: