Thứ ba 28/04/2026 00:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi) phải hỗ trợ “cứu” doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế đất nước

Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giải quyết phá sản theo tinh thần, chủ trương về cải cách tư pháp được đặt ra trong Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW); kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia thủ tục; phù hợp với xu thế chung của thế giới; góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Tòa án nhân dân tối cao xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi). Một trong những kỳ vọng nhất khi Luật này được ban hành là hỗ trợ “cứu” doanh nghiệp, hợp tác xã thoát khỏi tình trạng phá sản, góp phần phục hồi, phát triển kinh tế đất nước.

05 chính sách trong xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi) góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Ngày 19/6/2014, Quốc hội thông qua Luật Phá sản năm 2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, thay thế Luật Phá sản năm 2004. Luật Phá sản năm 2014 đã tiếp tục lành mạnh hóa nền kinh tế; thúc đẩy lưu thông vốn trong nền kinh tế thị trường, thu hút đầu tư; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và các chủ nợ cũng như lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ; từ đó, góp phần cải thiện chỉ số môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, thực tiễn thi hành đã cho thấy Luật còn nhiều hạn chế, vướng mắc, như một số quy định chưa rõ ràng, khó áp dụng, không khả thi hoặc không còn phù hợp với thực tiễn; nhu cầu giải quyết vụ việc phá sản không ít nhưng việc giải quyết vụ việc phá sản chưa nhiều, thời gian giải quyết một vụ việc phá sản kéo dài; chỉ số phá sản doanh nghiệp bị tụt hạng trong đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia[1]… Trong khi đó, nhiều chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp được đề ra trong Nghị quyết số 27-NQ/TW cần phải được thể chế hóa để triển khai thực hiện trên thực tế. Ngoài ra, xu thế cải cách mạnh mẽ luật phá sản trên toàn thế giới trong những năm gần đây đã cho thấy hiệu quả cao trong giải quyết phục hồi, phá sản của các quốc gia thực hiện cải cách và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bền vững. Do vậy, Luật Phá sản năm 2014 cần phải được sửa đổi để cải cách hơn nữa nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết phá sản theo tinh thần cải cách tư pháp của Nghị quyết số 27-NQ/TW, phù hợp với xu hướng chung của thế giới.

Chính vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi) nhằm kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia thủ tục, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam; đồng thời, giải quyết vụ việc phá sản hiệu quả, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo đó, các chính sách được đề xuất như sau: Chính sách 1 - Xây dựng, hoàn thiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã; Chính sách 2 - Xây dựng thủ tục phục hồi giản lược, thủ tục phá sản giản lược đối với doanh nghiệp, hợp tác xã; Chính sách 3 - Xây dựng thủ tục tố tụng điện tử giải quyết vụ việc phá sản; Chính sách 4 - Hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Quản tài viên, người tiến hành thủ tục phá sản, người tham gia thủ tục phá sản; Chính sách 5 - Hoàn thiện trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc phá sản.

Tách thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh độc lập với thủ tục phá sản

Luật Phá sản năm 2014 quy định thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh là một giai đoạn nằm trong thủ tục phá sản. Sau khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết có nội dung đề nghị áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh bao gồm các biện pháp để phục hồi hoạt động kinh doanh; các điều kiện, thời hạn và kế hoạch thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hầu như không được áp dụng. Theo thống kê, trong gần 09 năm thi hành Luật Phá sản năm 2014, toàn quốc có chưa đến 10 vụ việc áp dụng thủ tục phục hồi.

Nguyên nhân của thực trạng trên là do: (i) thủ tục phục hồi được tiến hành trong thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã đã mất khả năng thanh toán - tình trạng khó khăn nghiêm trọng về tài chính và không thể cứu vãn. Vì vậy, việc xây dựng, triển khai phương án phục hồi khó thành công; đồng thời, không khuyến khích được các doanh nghiệp, hợp tác xã chủ động nộp đơn để được áp dụng thủ tục phục hồi khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán; (ii) thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh cần sự tham gia của các chủ thể có chuyên môn về kinh doanh và quản trị doanh nghiệp, trong khi đó, thủ tục phục hồi được tiến hành trong thủ tục phá sản thì những đặc thù này không được chú trọng, dẫn đến giảm hiệu quả thực hiện; (iii) chưa có những chính sách phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã chủ động đề nghị thực hiện thủ tục này từ khi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp chưa lâm vào tình trạng trầm trọng. Cụ thể: doanh nghiệp, hợp tác xã không được quyền làm đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi ngay mà phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và trong quá trình giải quyết đơn yêu cầu phá sản mới xem xét áp dụng thủ tục phục hồi; có ít quy định ưu đãi cho doanh nghiệp, hợp tác xã đang trong tình trạng khó khăn về tài chính.

Về vấn đề này, nghiên cứu kinh nghiệm của những nước có cơ chế phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và giải quyết phá sản hiệu quả, như Hàn Quốc, Ai Cập, Singapore, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Hà Lan, cho thấy, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và thủ tục phá sản (hay còn gọi là thủ tục thanh lý) là hai thủ tục độc lập với nhau, ngay từ khi nộp đơn, người nộp đơn phải lựa chọn một trong hai thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc giải quyết thanh lý phá sản. Điều này khác với Luật Phá sản Việt Nam chỉ có 01 thủ tục là yêu cầu mở thủ tục phá sản. Bên cạnh đó, các nước này cũng có cơ chế tạo điều kiện “cứu” doanh nghiệp từ sớm, ngay từ khi doanh nghiệp chỉ mới sắp mất khả năng thanh toán. Khi tiến hành thủ tục phục hồi, Tòa án sẽ xem xét, quyết định áp dụng các chính sách, biện pháp hỗ trợ, ưu đãi cụ thể, phù hợp đối với từng doanh nghiệp. Trong quá trình giải quyết phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp, Tòa án có thể chuyển vụ việc sang thủ tục phá sản nếu việc phục hồi không thành công; ngược lại, trong quá trình giải quyết phá sản, Tòa án cũng có thể chuyển vụ việc sang thủ tục phục hồi nếu xét thấy có đủ điều kiện để phục hồi.

Chính vì vậy, tại dự án Luật Phá sản (sửa đổi), một trong những chính sách được đề xuất là “Xây dựng, hoàn thiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã” để: khuyến khích, ưu tiên áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh từ sớm, từ khi doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ mất khả năng thanh toán nhằm thoát khỏi tình trạng khó khăn, khôi phục hoạt động kinh doanh; tạo điều kiện để thủ tục phục hồi kinh doanh được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả; đồng thời, xây dựng hành lang pháp lý để Tòa án thụ lý và giải quyết vụ việc phá sản hiệu quả hơn.

Để đạt được mục tiêu của Chính sách này, một số giải pháp được Ban soạn thảo đề xuất như sau:

Một là, xây dựng, hoàn thiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo hướng phù hợp, linh hoạt, độc lập với thủ tục phá sản.

Hai là, kế thừa thủ tục và những chính sách hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã đã được quy định trong Luật Phá sản năm 2014 (quy định hai biện pháp: tạm dừng trả lãi đối với các khoản nợ của doanh nghiệp; tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực, nếu xét thấy việc thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện sẽ có khả năng gây bất lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã) và các văn bản pháp luật hiện hành khác có liên quan.

Ba là, bổ sung mới những chính sách đặc thù khác phù hợp với chính sách quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã, điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay mà có tính đồng thuận cao để khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã chủ động nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi từ sớm trước khi lâm vào tình trạng trầm trọng như: khoanh tiền nợ thuế; tạm dừng việc thanh toán một số khoản nợ; tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí, tử tuất; cung cấp danh sách các tổ chức nghề nghiệp có chức năng, khả năng hỗ trợ quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp, hợp tác xã; danh sách các chuyên gia kinh tế có kiến thức, kinh nghiệm tham gia hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã trong quá trình tái cấu trúc lại hoạt động sản xuất kinh doanh…

Bốn là, doanh nghiệp, hợp tác xã không đủ điều kiện phục hồi hoạt động kinh doanh thì Tòa án chuyển vụ việc sang thủ tục phá sản.

Khi thực hiện Chính sách này, có nhiều tác động tích cực đối với kinh tế - xã hội. Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đây là chính sách thay đổi lớn so với quy định hiện hành, phù hợp và có thể tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được phục hồi, giảm nguy cơ phá sản[2]. Từ đó, tăng số lượng các doanh nghiệp, hợp tác xã được phục hồi góp phần vào phát triển kinh tế đất nước. Việc phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã cũng sẽ giúp ổn định việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, các cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội, người lao động, chủ nợ có cơ hội thu được tiền thuế, bảo hiểm xã hội, tiền nợ khi doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi, bảo đảm ổn định trật tự, giảm các hệ lụy khác cho xã hội. Thực hiện hiệu quả Chính sách này sẽ góp phần lành mạnh hóa môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Đối với Tòa án, việc hoàn thiện thủ tục phục hồi sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong thụ lý, giải quyết vụ án, vì chỉ phải áp dụng theo một thủ tục nhất định, qua đó rút ngắn được thời gian giải quyết vụ án.

Quy định thủ tục phục hồi giản lược, thủ tục phá sản giản lược

Luật phá sản năm 2014 quy định thủ tục phá sản, bao gồm cả thủ tục thanh lý và thủ tục tổ chức lại, áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp thuộc đối tượng điều chỉnh của luật, không phân biệt quy mô lớn hay nhỏ. Trong khi đó, xuất phát từ việc giá trị tài sản nhỏ, số lượng chủ nợ ít nên doanh nghiệp, hợp tác xã có quy mô nhỏ sẽ gặp khó khăn về tài chính trong thủ tục phục hồi, phá sản theo thủ tục chung áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã, điển hình là không bảo đảm chi phí Quản tài viên làm cho quá trình phục hồi, phá sản gặp nhiều khó khăn. Các chủ nợ cũng không có động lực để nộp đơn yêu cầu giải quyết phá sản đối với những trường hợp này, dẫn đến việc doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô nhỏ và siêu nhỏ tự biến mất khỏi thị trường, gây nên hệ lụy đối với nền kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, có thể thấy, các doanh nghiệp, hợp tác xã nhỏ thường có quy mô tổ chức đơn giản, phạm vi kinh doanh, lĩnh vực hoạt động nhỏ lẻ, tài sản ít, có giá trị không lớn nên việc giải quyết phục hồi hoạt động kinh doanh, phá sản với những trường hợp này không phức tạp. Tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy, cơ chế giải quyết phá sản thành công là thiết kế và thực hiện thủ tục hợp lý, giảm bớt sự phức tạp và chi phí so với thủ tục phá sản thông thường, cung cấp các cơ chế nhanh chóng và linh hoạt để phục hồi hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp có tài sản nhỏ và lượng chủ nợ ít. Thủ tục rút gọn mà một số nước, như Hàn Quốc, Ai Cập, Hoa Kỳ đã sử dụng, bao gồm: Giảm thời hạn tiến hành các thủ tục, giảm bớt điều kiện hợp lệ để thông qua hội nghị chủ nợ; giảm các điều kiện và các chủ thể tham gia; giảm chi phí phá sản; giải quyết bằng hình thức trực tuyến (điển hình như Ai Cập, Hy Lạp).

Chính vì vậy, chính sách “Xây dựng thủ tục phục hồi giản lược, thủ tục phá sản giản lược đối với doanh nghiệp, hợp tác xã” được đề xuất khi xây dựng dự án Luật Phá sản (sửa đổi).

Trong xây dựng thủ tục phục hồi giản lược, thủ tục phá sản giản lược đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, các giải pháp được Ban soạn thảo đề xuất bao gồm: giảm thời gian tiến hành các thủ tục phục hồi, thủ tục phá sản giản lược so với thủ tục chung; giảm điều kiện hợp lệ để tổ chức họp và thông qua phương án phục hồi kinh doanh, nghị quyết của hội nghị chủ nợ; áp dụng đồng thời việc xác minh khoản nợ, thương lượng, hòa giải, giải quyết tranh chấp và hội nghị chủ nợ trong một phiên họp trực tuyến; không chỉ định Quản tài viên, trừ một số trường hợp nhất định, không thành lập ban đại diện chủ nợ…

Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, nếu đáp ứng những điều kiện sau thì được áp dụng thủ tục giản lược: (i) doanh nghiệp, hợp tác xã nhỏ, siêu nhỏ hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã có khoản nợ phải thanh toán dưới 10 tỷ đồng thì được xem xét áp dụng thủ tục phục hồi giản lược; (ii) doanh nghiệp, hợp tác xã có dưới 10 chủ nợ không có bảo đảm, không có tranh chấp về khoản nợ và có dưới 200 người lao động hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã nhỏ, siêu nhỏ được xem xét áp dụng thủ tục phá sản giản lược.

Khi chính sách xây dựng thủ tục phục hồi giản lược, thủ tục phá sản giản lược mà được áp dụng, sẽ có những tác động tích cực đối với kinh tế - xã hội như:

Thứ nhất, doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô nhỏ có quy mô kinh doanh, nguồn lực tài chính nhỏ, thường gặp khó khăn trong giải quyết các vấn đề pháp lý phức tạp, đặc biệt trong thủ tục phục hồi, phá sản. Do vậy, việc tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã có quy mô nhỏ với thủ tục phục hồi, phá sản riêng, đơn giản hơn thủ tục chung sẽ tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội, phù hợp với tinh thần chung của Nhà nước và xã hội về việc quan tâm và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô nhỏ.

Thứ hai, tăng số doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi hoặc chấm dứt theo đúng quy định của pháp luật góp phần ổn định việc làm của người lao động, cho các chủ nợ, bảo đảm ổn định trật tự xã hội, giảm các hệ lụy khác cho xã hội.

Thứ ba, cơ chế phục hồi, phá sản hiệu quả đối với doanh nghiệp, hợp tác xã nhỏ và siêu nhỏ góp phần lành mạnh hóa môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước.

Thứ tư, giúp đẩy nhanh quá trình giải quyết phục hồi, phá sản, tiết kiệm chi phí cho quá trình giải quyết phục hồi, phá sản; giảm chi phí để giải quyết các hậu quả xã hội do phá sản gây ra.

Cân nhắc, xem xét một số vấn đề bảo đảm tính hiệu quả, khả thi của chính sách

Về cơ bản, 05 chính sách được đề xuất trong xây dựng dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi) nêu trên nhận được sự ủng hộ của nhiều cá nhân, cơ quan, doanh nghiệp[3]. Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả, bảo đảm tính khả thi của chính sách, còn một số vấn đề đặt ra cần được xem xét, cân nhắc, cụ thể:

Thứ nhất, đối với Chính sách 1 “Xây dựng, hoàn thiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã”, cơ quan chủ trì cần đánh giá kỹ tính khả thi, tránh làm phát sinh thêm thủ tục mới cho doanh nghiệp. Do đó, có thể nghiên cứu đưa thủ tục này lồng ghép vào thủ tục giải quyết phá sản; qua đó, tăng cường trách nhiệm của thẩm phán giải quyết; bảo đảm đúng tinh thần “không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”[4].

Vì vậy, VCCI cho rằng, cần thiết kế quy định này hợp lý để tránh tình trạng thủ tục phá sản bị kéo dài, bởi sau khi xem xét theo thủ tục phục hồi doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp không đủ điều kiện phục hồi thì Tòa án sẽ chuyển vụ việc sang thủ tục phá sản. Như vậy, quy trình phá sản của doanh nghiệp sẽ bị kéo dài vì phải trải qua một bước thủ tục phục hồi trước đó. Điều này sẽ cản trở doanh nghiệp lựa chọn phương thức này để rút lui khỏi thị trường[5].

Thứ hai, VCCI đặt ra một số vấn đề khác đối với chính sách xây dựng, hoàn thiện thủ tục phục hồi và các thủ tục giản lược; đồng thời, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, bổ sung làm rõ vấn đề để bảo đảm tính hiệu quả và khả thi của các chính sách[6], cụ thể:

- Đối với thủ tục phục hồi, vấn đề đặt ra là căn cứ để yêu cầu mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp là gì? Trong khi đó, đây chính là cơ sở để doanh nghiệp hoặc chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi, cũng như Tòa án xem xét thụ lý đơn.

- Về các chính sách hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp, Ban soạn thảo có bổ sung chính sách đặc thù “cung cấp danh sách các tổ chức nghề nghiệp có chức năng, khả năng hỗ trợ quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp, hợp tác xã; danh sách các chuyên gia kinh tế có kiến thức, kinh nghiệm có thể hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã trong quá trình tái cấu trúc lại hoạt động sản xuất kinh doanh”. Việc cung cấp danh sách chuyên gia hay tổ chức để hỗ trợ quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp có thể thực hiện theo quy định của pháp luật phá sản hiện hành ở quy trình phục hồi doanh nghiệp, tuy nhiên, vấn đề là doanh nghiệp hoặc chủ nợ có sử dụng các chuyên gia/tổ chức này hay không? Do đó, VCCI cho rằng, vẫn chưa nhìn thấy điểm đặc thù của chính sách này so với quy định hiện hành.

- Liên quan đến chính sách xây dựng thủ tục phục hồi giản lược, thủ tục phá sản giản lược đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, có đề xuất “không chỉ định Quản tài viên, trừ một số trường hợp nhất định”. Tuy nhiên, trong thủ tục phá sản, Quản tài viên đóng vai trò rất quan trọng (thống kê tài sản, chủ nợ, giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là người đại diện của doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp không có người đại diện theo pháp luật, bán tài sản của doanh nghiệp…). Như vậy, trong trường hợp không chỉ định Quản tài viên, thì chủ thể nào sẽ thực hiện các công việc mà Quản tài viên thực hiện ở thủ tục giản lược?

Ngoài 05 chính sách nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao cho biết, trong quá trình nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng Luật, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp tục tham khảo kinh nghiệm quốc tế, tiếp thu ý kiến góp ý để hoàn thiện, bổ sung những chính sách cần thiết khác. Theo dự kiến, dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi) sẽ trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp tháng 5/2025, thông qua tại kỳ họp tháng 10/2025.

Uyên Nhi

Ảnh: Internet


[1] Nghị quyết số 19/2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo.

[2] Anh Khôi, Cân nhắc tính khả thi khi xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi), https://diendandoanhnghiep.vn/can-nhac-tinh-kha-thi-khi-xay-dung-luat-pha-san-sua-doi-10143994.html, truy cập ngày 19/11/2024.

[3] Tham khảo thêm nguồn: An Như, Tăng cường sử dụng phương thức điện tử để thực hiện các hoạt động tố tụng phá sản, https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo.aspx?ItemID=6629, truy cập ngày 19/11/2024; Anh Khôi, Cân nhắc tính khả thi khi xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi), https://diendandoanhnghiep.vn/can-nhac-tinh-kha-thi-khi-xay-dung-luat-pha-san-sua-doi-10143994.html, truy cập ngày 19/11/2024; Khôi Nguyên, Sửa Luật Phá sản 2014 để “cứu” doanh nghiệp, https://diendandoanhnghiep.vn/sua-luat-pha-san-2014-de-cuu-doanh-nghiep-10141417.html, truy cập ngày 19/11/2024.

[4] An Như, Tăng cường sử dụng phương thức điện tử để thực hiện các hoạt động tố tụng phá sản, https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo.aspx?ItemID=6629, truy cập ngày 19/11/2024.

[5] Anh Khôi, Cân nhắc tính khả thi khi xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi), https://diendandoanhnghiep.vn/can-nhac-tinh-kha-thi-khi-xay-dung-luat-pha-san-sua-doi-10143994.html, truy cập ngày 19/11/2024.

[6] Anh Khôi, Cân nhắc tính khả thi khi xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi), https://diendandoanhnghiep.vn/can-nhac-tinh-kha-thi-khi-xay-dung-luat-pha-san-sua-doi-10143994.html, truy cập ngày 19/11/2024.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Chính sách xây dựng Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tập trung hoàn thiện các quy định hiện hành liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản; làm rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia thị trường; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Chiều ngày 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Kết quả biểu quyết có 494/494 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật này, chiếm tỷ lệ 100% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết và chiếm 98,80% tổng số đại biểu Quốc hội.
Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả biểu quyết cho thấy, có 492/493 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành thông qua luật này (chiếm tỷ lệ 98,04% số ĐBQH).
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Chiều ngày 23/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành biểu quyết thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60% tán thành.
Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đa dạng phương thức, truyền thông chính sách ngay từ khi soạn thảo.
Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).
Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, chiều ngày 22/4/2026, Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm (dự thảo Nghị định). Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đồng chí Trương Hải Long, Thứ trưởng Bộ Nội vụ và các thành viên Hội đồng thẩm định gồm đại diện các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Sở Nội vụ thành phố Hà Nội và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.
Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 21/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường, về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026. Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành Phiên họp.

Theo dõi chúng tôi trên: