05 chính sách trong xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi) góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Ngày 19/6/2014, Quốc hội thông qua Luật Phá sản năm 2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, thay thế Luật Phá sản năm 2004. Luật Phá sản năm 2014 đã tiếp tục lành mạnh hóa nền kinh tế; thúc đẩy lưu thông vốn trong nền kinh tế thị trường, thu hút đầu tư; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và các chủ nợ cũng như lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ; từ đó, góp phần cải thiện chỉ số môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, thực tiễn thi hành đã cho thấy Luật còn nhiều hạn chế, vướng mắc, như một số quy định chưa rõ ràng, khó áp dụng, không khả thi hoặc không còn phù hợp với thực tiễn; nhu cầu giải quyết vụ việc phá sản không ít nhưng việc giải quyết vụ việc phá sản chưa nhiều, thời gian giải quyết một vụ việc phá sản kéo dài; chỉ số phá sản doanh nghiệp bị tụt hạng trong đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia[1]… Trong khi đó, nhiều chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp được đề ra trong Nghị quyết số 27-NQ/TW cần phải được thể chế hóa để triển khai thực hiện trên thực tế. Ngoài ra, xu thế cải cách mạnh mẽ luật phá sản trên toàn thế giới trong những năm gần đây đã cho thấy hiệu quả cao trong giải quyết phục hồi, phá sản của các quốc gia thực hiện cải cách và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bền vững. Do vậy, Luật Phá sản năm 2014 cần phải được sửa đổi để cải cách hơn nữa nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết phá sản theo tinh thần cải cách tư pháp của Nghị quyết số 27-NQ/TW, phù hợp với xu hướng chung của thế giới.
Chính vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi) nhằm kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia thủ tục, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam; đồng thời, giải quyết vụ việc phá sản hiệu quả, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo đó, các chính sách được đề xuất như sau: Chính sách 1 - Xây dựng, hoàn thiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã; Chính sách 2 - Xây dựng thủ tục phục hồi giản lược, thủ tục phá sản giản lược đối với doanh nghiệp, hợp tác xã; Chính sách 3 - Xây dựng thủ tục tố tụng điện tử giải quyết vụ việc phá sản; Chính sách 4 - Hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Quản tài viên, người tiến hành thủ tục phá sản, người tham gia thủ tục phá sản; Chính sách 5 - Hoàn thiện trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc phá sản.
Tách thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh độc lập với thủ tục phá sản
Luật Phá sản năm 2014 quy định thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh là một giai đoạn nằm trong thủ tục phá sản. Sau khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết có nội dung đề nghị áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh bao gồm các biện pháp để phục hồi hoạt động kinh doanh; các điều kiện, thời hạn và kế hoạch thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hầu như không được áp dụng. Theo thống kê, trong gần 09 năm thi hành Luật Phá sản năm 2014, toàn quốc có chưa đến 10 vụ việc áp dụng thủ tục phục hồi.
Nguyên nhân của thực trạng trên là do: (i) thủ tục phục hồi được tiến hành trong thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã đã mất khả năng thanh toán - tình trạng khó khăn nghiêm trọng về tài chính và không thể cứu vãn. Vì vậy, việc xây dựng, triển khai phương án phục hồi khó thành công; đồng thời, không khuyến khích được các doanh nghiệp, hợp tác xã chủ động nộp đơn để được áp dụng thủ tục phục hồi khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán; (ii) thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh cần sự tham gia của các chủ thể có chuyên môn về kinh doanh và quản trị doanh nghiệp, trong khi đó, thủ tục phục hồi được tiến hành trong thủ tục phá sản thì những đặc thù này không được chú trọng, dẫn đến giảm hiệu quả thực hiện; (iii) chưa có những chính sách phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã chủ động đề nghị thực hiện thủ tục này từ khi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp chưa lâm vào tình trạng trầm trọng. Cụ thể: doanh nghiệp, hợp tác xã không được quyền làm đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi ngay mà phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và trong quá trình giải quyết đơn yêu cầu phá sản mới xem xét áp dụng thủ tục phục hồi; có ít quy định ưu đãi cho doanh nghiệp, hợp tác xã đang trong tình trạng khó khăn về tài chính.
Về vấn đề này, nghiên cứu kinh nghiệm của những nước có cơ chế phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và giải quyết phá sản hiệu quả, như Hàn Quốc, Ai Cập, Singapore, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Hà Lan, cho thấy, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và thủ tục phá sản (hay còn gọi là thủ tục thanh lý) là hai thủ tục độc lập với nhau, ngay từ khi nộp đơn, người nộp đơn phải lựa chọn một trong hai thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc giải quyết thanh lý phá sản. Điều này khác với Luật Phá sản Việt Nam chỉ có 01 thủ tục là yêu cầu mở thủ tục phá sản. Bên cạnh đó, các nước này cũng có cơ chế tạo điều kiện “cứu” doanh nghiệp từ sớm, ngay từ khi doanh nghiệp chỉ mới sắp mất khả năng thanh toán. Khi tiến hành thủ tục phục hồi, Tòa án sẽ xem xét, quyết định áp dụng các chính sách, biện pháp hỗ trợ, ưu đãi cụ thể, phù hợp đối với từng doanh nghiệp. Trong quá trình giải quyết phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp, Tòa án có thể chuyển vụ việc sang thủ tục phá sản nếu việc phục hồi không thành công; ngược lại, trong quá trình giải quyết phá sản, Tòa án cũng có thể chuyển vụ việc sang thủ tục phục hồi nếu xét thấy có đủ điều kiện để phục hồi.
Chính vì vậy, tại dự án Luật Phá sản (sửa đổi), một trong những chính sách được đề xuất là “Xây dựng, hoàn thiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã” để: khuyến khích, ưu tiên áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh từ sớm, từ khi doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ mất khả năng thanh toán nhằm thoát khỏi tình trạng khó khăn, khôi phục hoạt động kinh doanh; tạo điều kiện để thủ tục phục hồi kinh doanh được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả; đồng thời, xây dựng hành lang pháp lý để Tòa án thụ lý và giải quyết vụ việc phá sản hiệu quả hơn.
Để đạt được mục tiêu của Chính sách này, một số giải pháp được Ban soạn thảo đề xuất như sau:
Một là, xây dựng, hoàn thiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo hướng phù hợp, linh hoạt, độc lập với thủ tục phá sản.
Hai là, kế thừa thủ tục và những chính sách hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã đã được quy định trong Luật Phá sản năm 2014 (quy định hai biện pháp: tạm dừng trả lãi đối với các khoản nợ của doanh nghiệp; tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực, nếu xét thấy việc thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện sẽ có khả năng gây bất lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã) và các văn bản pháp luật hiện hành khác có liên quan.
Ba là, bổ sung mới những chính sách đặc thù khác phù hợp với chính sách quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã, điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay mà có tính đồng thuận cao để khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã chủ động nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi từ sớm trước khi lâm vào tình trạng trầm trọng như: khoanh tiền nợ thuế; tạm dừng việc thanh toán một số khoản nợ; tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí, tử tuất; cung cấp danh sách các tổ chức nghề nghiệp có chức năng, khả năng hỗ trợ quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp, hợp tác xã; danh sách các chuyên gia kinh tế có kiến thức, kinh nghiệm tham gia hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã trong quá trình tái cấu trúc lại hoạt động sản xuất kinh doanh…
Bốn là, doanh nghiệp, hợp tác xã không đủ điều kiện phục hồi hoạt động kinh doanh thì Tòa án chuyển vụ việc sang thủ tục phá sản.
Khi thực hiện Chính sách này, có nhiều tác động tích cực đối với kinh tế - xã hội. Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đây là chính sách thay đổi lớn so với quy định hiện hành, phù hợp và có thể tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được phục hồi, giảm nguy cơ phá sản[2]. Từ đó, tăng số lượng các doanh nghiệp, hợp tác xã được phục hồi góp phần vào phát triển kinh tế đất nước. Việc phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã cũng sẽ giúp ổn định việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, các cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội, người lao động, chủ nợ có cơ hội thu được tiền thuế, bảo hiểm xã hội, tiền nợ khi doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi, bảo đảm ổn định trật tự, giảm các hệ lụy khác cho xã hội. Thực hiện hiệu quả Chính sách này sẽ góp phần lành mạnh hóa môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Đối với Tòa án, việc hoàn thiện thủ tục phục hồi sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong thụ lý, giải quyết vụ án, vì chỉ phải áp dụng theo một thủ tục nhất định, qua đó rút ngắn được thời gian giải quyết vụ án.
Quy định thủ tục phục hồi giản lược, thủ tục phá sản giản lược
Luật phá sản năm 2014 quy định thủ tục phá sản, bao gồm cả thủ tục thanh lý và thủ tục tổ chức lại, áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp thuộc đối tượng điều chỉnh của luật, không phân biệt quy mô lớn hay nhỏ. Trong khi đó, xuất phát từ việc giá trị tài sản nhỏ, số lượng chủ nợ ít nên doanh nghiệp, hợp tác xã có quy mô nhỏ sẽ gặp khó khăn về tài chính trong thủ tục phục hồi, phá sản theo thủ tục chung áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã, điển hình là không bảo đảm chi phí Quản tài viên làm cho quá trình phục hồi, phá sản gặp nhiều khó khăn. Các chủ nợ cũng không có động lực để nộp đơn yêu cầu giải quyết phá sản đối với những trường hợp này, dẫn đến việc doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô nhỏ và siêu nhỏ tự biến mất khỏi thị trường, gây nên hệ lụy đối với nền kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, có thể thấy, các doanh nghiệp, hợp tác xã nhỏ thường có quy mô tổ chức đơn giản, phạm vi kinh doanh, lĩnh vực hoạt động nhỏ lẻ, tài sản ít, có giá trị không lớn nên việc giải quyết phục hồi hoạt động kinh doanh, phá sản với những trường hợp này không phức tạp. Tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy, cơ chế giải quyết phá sản thành công là thiết kế và thực hiện thủ tục hợp lý, giảm bớt sự phức tạp và chi phí so với thủ tục phá sản thông thường, cung cấp các cơ chế nhanh chóng và linh hoạt để phục hồi hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp có tài sản nhỏ và lượng chủ nợ ít. Thủ tục rút gọn mà một số nước, như Hàn Quốc, Ai Cập, Hoa Kỳ đã sử dụng, bao gồm: Giảm thời hạn tiến hành các thủ tục, giảm bớt điều kiện hợp lệ để thông qua hội nghị chủ nợ; giảm các điều kiện và các chủ thể tham gia; giảm chi phí phá sản; giải quyết bằng hình thức trực tuyến (điển hình như Ai Cập, Hy Lạp).
Chính vì vậy, chính sách “Xây dựng thủ tục phục hồi giản lược, thủ tục phá sản giản lược đối với doanh nghiệp, hợp tác xã” được đề xuất khi xây dựng dự án Luật Phá sản (sửa đổi).
Trong xây dựng thủ tục phục hồi giản lược, thủ tục phá sản giản lược đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, các giải pháp được Ban soạn thảo đề xuất bao gồm: giảm thời gian tiến hành các thủ tục phục hồi, thủ tục phá sản giản lược so với thủ tục chung; giảm điều kiện hợp lệ để tổ chức họp và thông qua phương án phục hồi kinh doanh, nghị quyết của hội nghị chủ nợ; áp dụng đồng thời việc xác minh khoản nợ, thương lượng, hòa giải, giải quyết tranh chấp và hội nghị chủ nợ trong một phiên họp trực tuyến; không chỉ định Quản tài viên, trừ một số trường hợp nhất định, không thành lập ban đại diện chủ nợ…
Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, nếu đáp ứng những điều kiện sau thì được áp dụng thủ tục giản lược: (i) doanh nghiệp, hợp tác xã nhỏ, siêu nhỏ hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã có khoản nợ phải thanh toán dưới 10 tỷ đồng thì được xem xét áp dụng thủ tục phục hồi giản lược; (ii) doanh nghiệp, hợp tác xã có dưới 10 chủ nợ không có bảo đảm, không có tranh chấp về khoản nợ và có dưới 200 người lao động hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã nhỏ, siêu nhỏ được xem xét áp dụng thủ tục phá sản giản lược.
Khi chính sách xây dựng thủ tục phục hồi giản lược, thủ tục phá sản giản lược mà được áp dụng, sẽ có những tác động tích cực đối với kinh tế - xã hội như:
Thứ nhất, doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô nhỏ có quy mô kinh doanh, nguồn lực tài chính nhỏ, thường gặp khó khăn trong giải quyết các vấn đề pháp lý phức tạp, đặc biệt trong thủ tục phục hồi, phá sản. Do vậy, việc tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã có quy mô nhỏ với thủ tục phục hồi, phá sản riêng, đơn giản hơn thủ tục chung sẽ tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội, phù hợp với tinh thần chung của Nhà nước và xã hội về việc quan tâm và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô nhỏ.
Thứ hai, tăng số doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi hoặc chấm dứt theo đúng quy định của pháp luật góp phần ổn định việc làm của người lao động, cho các chủ nợ, bảo đảm ổn định trật tự xã hội, giảm các hệ lụy khác cho xã hội.
Thứ ba, cơ chế phục hồi, phá sản hiệu quả đối với doanh nghiệp, hợp tác xã nhỏ và siêu nhỏ góp phần lành mạnh hóa môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước.
Thứ tư, giúp đẩy nhanh quá trình giải quyết phục hồi, phá sản, tiết kiệm chi phí cho quá trình giải quyết phục hồi, phá sản; giảm chi phí để giải quyết các hậu quả xã hội do phá sản gây ra.
Cân nhắc, xem xét một số vấn đề bảo đảm tính hiệu quả, khả thi của chính sách
Về cơ bản, 05 chính sách được đề xuất trong xây dựng dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi) nêu trên nhận được sự ủng hộ của nhiều cá nhân, cơ quan, doanh nghiệp[3]. Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả, bảo đảm tính khả thi của chính sách, còn một số vấn đề đặt ra cần được xem xét, cân nhắc, cụ thể:
Thứ nhất, đối với Chính sách 1 “Xây dựng, hoàn thiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã”, cơ quan chủ trì cần đánh giá kỹ tính khả thi, tránh làm phát sinh thêm thủ tục mới cho doanh nghiệp. Do đó, có thể nghiên cứu đưa thủ tục này lồng ghép vào thủ tục giải quyết phá sản; qua đó, tăng cường trách nhiệm của thẩm phán giải quyết; bảo đảm đúng tinh thần “không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”[4].
Vì vậy, VCCI cho rằng, cần thiết kế quy định này hợp lý để tránh tình trạng thủ tục phá sản bị kéo dài, bởi sau khi xem xét theo thủ tục phục hồi doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp không đủ điều kiện phục hồi thì Tòa án sẽ chuyển vụ việc sang thủ tục phá sản. Như vậy, quy trình phá sản của doanh nghiệp sẽ bị kéo dài vì phải trải qua một bước thủ tục phục hồi trước đó. Điều này sẽ cản trở doanh nghiệp lựa chọn phương thức này để rút lui khỏi thị trường[5].
Thứ hai, VCCI đặt ra một số vấn đề khác đối với chính sách xây dựng, hoàn thiện thủ tục phục hồi và các thủ tục giản lược; đồng thời, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, bổ sung làm rõ vấn đề để bảo đảm tính hiệu quả và khả thi của các chính sách[6], cụ thể:
- Đối với thủ tục phục hồi, vấn đề đặt ra là căn cứ để yêu cầu mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp là gì? Trong khi đó, đây chính là cơ sở để doanh nghiệp hoặc chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi, cũng như Tòa án xem xét thụ lý đơn.
- Về các chính sách hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp, Ban soạn thảo có bổ sung chính sách đặc thù “cung cấp danh sách các tổ chức nghề nghiệp có chức năng, khả năng hỗ trợ quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp, hợp tác xã; danh sách các chuyên gia kinh tế có kiến thức, kinh nghiệm có thể hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã trong quá trình tái cấu trúc lại hoạt động sản xuất kinh doanh”. Việc cung cấp danh sách chuyên gia hay tổ chức để hỗ trợ quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp có thể thực hiện theo quy định của pháp luật phá sản hiện hành ở quy trình phục hồi doanh nghiệp, tuy nhiên, vấn đề là doanh nghiệp hoặc chủ nợ có sử dụng các chuyên gia/tổ chức này hay không? Do đó, VCCI cho rằng, vẫn chưa nhìn thấy điểm đặc thù của chính sách này so với quy định hiện hành.
- Liên quan đến chính sách xây dựng thủ tục phục hồi giản lược, thủ tục phá sản giản lược đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, có đề xuất “không chỉ định Quản tài viên, trừ một số trường hợp nhất định”. Tuy nhiên, trong thủ tục phá sản, Quản tài viên đóng vai trò rất quan trọng (thống kê tài sản, chủ nợ, giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là người đại diện của doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp không có người đại diện theo pháp luật, bán tài sản của doanh nghiệp…). Như vậy, trong trường hợp không chỉ định Quản tài viên, thì chủ thể nào sẽ thực hiện các công việc mà Quản tài viên thực hiện ở thủ tục giản lược?
Ngoài 05 chính sách nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao cho biết, trong quá trình nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng Luật, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp tục tham khảo kinh nghiệm quốc tế, tiếp thu ý kiến góp ý để hoàn thiện, bổ sung những chính sách cần thiết khác. Theo dự kiến, dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi) sẽ trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp tháng 5/2025, thông qua tại kỳ họp tháng 10/2025.
Uyên Nhi
Ảnh: Internet
[1] Nghị quyết số 19/2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo.
[2] Anh Khôi, Cân nhắc tính khả thi khi xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi), https://diendandoanhnghiep.vn/can-nhac-tinh-kha-thi-khi-xay-dung-luat-pha-san-sua-doi-10143994.html, truy cập ngày 19/11/2024.
[3] Tham khảo thêm nguồn: An Như, Tăng cường sử dụng phương thức điện tử để thực hiện các hoạt động tố tụng phá sản, https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo.aspx?ItemID=6629, truy cập ngày 19/11/2024; Anh Khôi, Cân nhắc tính khả thi khi xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi), https://diendandoanhnghiep.vn/can-nhac-tinh-kha-thi-khi-xay-dung-luat-pha-san-sua-doi-10143994.html, truy cập ngày 19/11/2024; Khôi Nguyên, Sửa Luật Phá sản 2014 để “cứu” doanh nghiệp, https://diendandoanhnghiep.vn/sua-luat-pha-san-2014-de-cuu-doanh-nghiep-10141417.html, truy cập ngày 19/11/2024.
[4] An Như, Tăng cường sử dụng phương thức điện tử để thực hiện các hoạt động tố tụng phá sản, https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo.aspx?ItemID=6629, truy cập ngày 19/11/2024.
[5] Anh Khôi, Cân nhắc tính khả thi khi xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi), https://diendandoanhnghiep.vn/can-nhac-tinh-kha-thi-khi-xay-dung-luat-pha-san-sua-doi-10143994.html, truy cập ngày 19/11/2024.
[6] Anh Khôi, Cân nhắc tính khả thi khi xây dựng Luật Phá sản (sửa đổi), https://diendandoanhnghiep.vn/can-nhac-tinh-kha-thi-khi-xay-dung-luat-pha-san-sua-doi-10143994.html, truy cập ngày 19/11/2024.