Thứ hai 27/07/2026 08:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý về đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Tóm tắt: Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài không chỉ nhằm giải quyết việc làm cho người lao động mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước.

Tuy nhiên, thực tiễn thực thi pháp luật trong lĩnh vực này còn nhiều bất cập, hạn chế. Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Abstract: Sending Vietnamese workers to work overseas is not only with the aim of solving unemployment problems but also improving the quality of country’s labour forces. However, the law enforcement practice in this field shows many shortcomings and obstacles. Based on the assessment of practical situation of sending Vietnamese workers to work overseas, the article proposes some recommendations to complete legal provisions on sending Vietnamese workers to work overseas.

Đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm giải quyết việc làm trong nước và tăng thu nhập cho đất nước. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển với lực lượng lao động đông đảo và hàng năm có hàng triệu lao động cần việc làm. Bên cạnh đó, do sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, đất nông nghiệp bị thu hẹp, lao động nông thôn dư thừa ngày càng nhiều, bổ sung thêm vào nguồn cung lao động. Còn tại khu vực công nghiệp, dịch vụ, do sức ép cạnh tranh, nhiều doanh nghiệp không đứng vững buộc phải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc thay đổi công nghệ… dẫn đến hậu quả là bộ phận lớn người lao động bị dôi dư không có việc làm, gây ảnh hưởng tiêu cực cho chính bản thân và gia đình họ cũng như toàn xã hội.

Đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là hoạt động kinh tế dưới hình thức cung ứng lao động Việt Nam ra nước ngoài theo hợp đồng có thời hạn, phục vụ cho nhu cầu nhân công lao động của doanh nghiệp nước ngoài. Hoạt động này bắt đầu từ năm 1980 dưới hình thức hợp tác lao động với các nước xã hội chủ nghĩa, trong tình hình kinh tế Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn. Kết quả đã đem lại nhiều thuận lợi cho đất nước.

Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, hoạt động xuất khẩu lao động phát triển mạnh mẽ, mở rộng thị trường ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Bước sang thế kỷ XXI, có sự tăng đột biến lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài góp phần giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho nhiều người dân, tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước và nhiều lợi ích kinh tế khác. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những bất cập về cơ chế, chính sách, quản lý từ cả hai phía trong và ngoài nước, những hạn chế về trình độ và ý thức người lao động, tình trạng lưu trú bất hợp pháp…, bên cạnh đó, người lao động còn có thể đối mặt với việc bị lừa đảo, bóc lột và ngược đãi.

1. Thực trạng hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Trong năm 2016, Việt Nam có tổng số 126.296 lao động đi làm việc ở nước ngoài, tăng 8,99% so với năm 2015 và vượt 26,29% so với kế hoạch đề ra. Chỉ trong tháng 12/2016, các doanh nghiệp đã cung ứng được 17.766 lao động, tăng 75,55% so với tháng 11/2016. Cụ thể, tổng số lao động đi làm việc tại thị trường khu vực Đông Bắc Á trong năm 2016 là 116.948 người, chiếm tỷ trọng 92,6% tổng số đưa đi, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động đi làm việc tại Đài Loan là 68.244 người, chiếm 58,35% số lao động đưa đi trong khu vực này. Thị trường Nhật Bản có 39.938 người, tăng 47,86% so với số lao động đưa đi năm 2015, chỉ trong tháng 12/2016 con số này là 6.345 người. Đây cũng là con số cung ứng lao động sang làm việc tại Nhật Bản cao nhất so với các năm qua. Đồng thời, số lao động cung ứng trong tháng 12/2016 cũng là con số cung ứng đạt mức kỷ lục của một tháng. Thị trường Hàn Quốc trong năm 2016 tiếp nhận tổng số 8.442 lao động. Năm 2016, quy mô tiếp nhận lao động Việt Nam của thị trường này tăng 40,25% so với năm 2015. Các thị trường khác như: Ma Cao là 266 người, Hồng Kông với 11 người. Khu vực Đông Nam Á có tổng số 2.109 lao động Việt Nam đi làm việc, chiếm 1,67% tổng số lao động đưa đi, giảm 71,45% so với năm 2015. Đáng chú ý, chỉ có hai thị trường tiếp nhận lao động là Malaysia và Singapore. Trong đó, Singapore được đánh giá là thị trường đòi hỏi người lao động không chỉ có tay nghề cao mà cần cả trình độ tốt về ngoại ngữ. Cũng trong năm 2016, thị trường các nước khu vực Trung Đông tiếp nhận 5.641 lao động, chiếm 4,46% tổng số lao động đưa đi, tăng 10,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong năm 2015, các doanh nghiệp chỉ cung ứng lao động cho 4 thị trường có số lượng đáng kể là UAE với 616 người, Israel với 250 người, Qatar với 702 người và Ả Rập Xê-út với 4.033 người. Số lao động đi làm việc tại các nước Bắc Phi là 1.223 người, chiếm 0,97% tổng số lao động đưa đi, giảm 40,48% so với năm 2015. Trong năm 2016, lao động đi làm việc tại các thị trường khác là 375 người, chiếm 0,3% tổng số lao động đưa đi. Đáng chú ý, cũng trong năm 2016, một số doanh nghiệp đã xúc tiến đưa lao động vào các thị trường mới như: Thổ Nhĩ Kỳ với 136 người và CHLB Đức với 78 người. Hiện số lao động này đều có việc làm ổn định và thu nhập tốt. Theo đánh giá của Hiệp hội Xuất khẩu lao động Việt Nam (VAMAS), trong số 29 thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam năm 2016 thì chỉ có 06 thị trường tiếp nhận với quy mô từ 1.000 lao động trở lên là Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Ả rập Xê-út và Algieri. Các thị trường tiếp nhận lớn lao động Việt Nam vẫn tập trung vào các nước thuộc khu vực Đông Bắc Á, sự gia tăng lớn hơn cả vẫn là hai thị trường Đài Loan và Nhật Bản. Trong khi đó, thị trường khu vực Trung Đông có xu hướng tăng so với năm 2015, còn thị trường các nước Đông Nam Á giảm mạnh so với trước, đặc biệt thị trường Malaysia có sự sụt giảm đáng kể[1]. Tính đến hết tháng 12/2016, toàn quốc có 277 doanh nghiệp có giấy phép hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài (trong đó có 15 doanh nghiệp nhà nước, 207 công ty cổ phần và 55 công ty trách nhiệm hữu hạn)[2].

Tuy nhiên, hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vẫn còn những khó khăn, hạn chế. Nguồn lao động được đưa đi còn yếu về ngoại ngữ, tay nghề chưa phù hợp yêu cầu của thị trường, chưa quen tác phong làm việc công nghiệp, vẫn còn tồn tại hiện tượng lao động bỏ trốn, cư trú bất hợp pháp (tính đến hết năm 2016, Việt Nam còn 16.100 lao động cư trú bất hợp pháp, chiếm 39% tổng số lao động đang làm việc tại Hàn Quốc)[3]. Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, giành hợp đồng cung ứng lao động giữa các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước dẫn đến giảm quyền lợi, tăng chi phí đóng góp của người lao động; vẫn tồn tại tình trạng doanh nghiệp được cấp phép hoạt động nhưng không trực tiếp khai thác, tìm kiếm hợp đồng cung ứng lao động, tư vấn. Đáng chú ý, tình trạng các doanh nghiệp dịch vụ thu phí của người lao động cao hơn mức quy định của pháp luật chưa được giải quyết triệt để. Ở trong nước, tại các địa phương mà doanh nghiệp đến tuyển lao động cũng gặp nhiều khó khăn, rào cản từ lãnh đạo địa phương[4].

2. Yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý về đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Từ thực trạng đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hiện nay đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động này nhằm khắc phục tình trạng bất cập, tăng cường hiệu quả giải quyết việc làm trong nước và tăng thu nhập cho đất nước, cụ thể:

Thứ nhất, cần có các biện pháp hữu hiệu hạn chế và ngăn chặn tình trạng các doanh nghiệp dịch vụ thu phí của người lao động đi làm việc ở nước ngoài không đúng quy định, khiến cho người lao động phải chịu mức phí thực tế cao hơn nhiều.

Tiền môi giới và tiền dịch vụ luôn là mối quan tâm hàng đầu của người lao động và doanh nghiệp dịch vụ. Người lao động thì mong muốn khoản tiền mà mình phải trả càng ít càng tốt, còn doanh nghiệp dịch vụ sống bằng những khoản thu này, vì vậy, không có một doanh nghiệp nào lại không cố gắng tạo thêm cho mình những khoản thu “ngoài luồng”. Mặc dù pháp luật hiện hành đã có quy định rõ ràng, minh bạch về mức trần tiền dịch vụ và tiền môi giới trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, trong thực tế, người lao động phải đóng mức phí môi giới cao hơn nhiều. Trong mối quan hệ với doanh nghiệp dịch vụ, người lao động đứng ở vị trí là người phụ thuộc, vì mong muốn nhanh chóng sang nước ngoài làm việc nên dù bị thu bao nhiêu, dù biết là không đúng quy định của pháp luật thì họ vẫn phải trả và không ít người bán nhà, bán của cải hoặc phải vay nợ ngân hàng… Có thể nói, đây chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vi phạm hợp đồng bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp. Do phải trả mức phí môi giới cao, lao động đi làm việc tại nước ngoài vốn toàn người nghèo, lâm cảnh nặng nợ khi ra đi, người lao động mong muốn nhanh chóng kiếm tiền để trả nợ, hơn nữa chênh lệch mức thu nhập giữa làm ngoài và theo hợp đồng quá cao. Cũng xuất phát từ lý do phải trả phí quá cao để được sang làm việc ở nước ngoài nên nhiều người lao động ở nước ngoài trái phép khi đã hết hạn hợp đồng, đặc biệt là thị trường lao động Hàn Quốc, mục đích của họ là để được làm việc lâu hơn.

Những hành vi vi phạm pháp luật của cả doanh nghiệp và người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã và đang gây ảnh hưởng xấu đến chính sách của Nhà nước về đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Để xảy ra tình trạng người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải trả mức phí quá cao so với mức phí luật định như trên là do pháp luật Việt Nam còn nhiều sơ hở, vẫn còn tồn tại những quy định và thủ tục pháp lý không rõ ràng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lợi dụng lách luật để cuối cùng bắt người lao động phải chịu những chi phí cao một cách bất hợp lý và mức chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm này chưa đủ sức răn đe. Đồng thời công tác kiểm tra, xử lý còn nhiều yếu kém.

Thứ hai, pháp luật cần quy định cụ thể, rõ ràng về yêu cầu dạy nghề, ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu.

Rất nhiều thị trường của nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động người Việt Nam vì ưu điểm cần cù, chịu khó, tiếp thu công việc nhanh… Tuy nhiên, đa số người lao động không đáp ứng được những tiêu chuẩn về trình độ tay nghề và ngoại ngữ mà người sử dụng lao động đưa ra. Đây cũng là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm cho sức cạnh tranh của chúng ta kém hơn hẳn so với các nước cùng tham gia đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài như Philippin, Thái lan, Indonesia. Chúng ta chưa chiếm lĩnh được những thị trường có đòi hỏi cao và mức thu nhập cao như Singapore, Úc, Hoa Kỳ, Canada hay một số nước châu Âu, lao động kỹ thuật cao ở Nhật Bản, Hàn Quốc… Một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những hạn chế đó là do việc dạy nghề, ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài chưa được thực hiện tốt.

Thứ ba, cần xây dựng được hành lang pháp lý đầy đủ, có khả năng bảo vệ hiệu quả cho quyền lợi của người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, đặc biệt là đối với lao động nữ.

Mặc dù thời gian qua, Nhà nước và các doanh nghiệp đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng, thực hiện các quy định pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vẫn chưa thực sự được bảo vệ đầy đủ quyền lợi hợp pháp. Tình trạng người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài bị bóc lột, bị lạm dụng, bị xâm hại đến sức khỏe thậm chí cả tính mạng... vẫn xảy ra và chưa được khắc phục kịp thời, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người lao động. Đặc biệt là lao động nữ, đối tượng rất cần được bảo vệ do đặc điểm khác biệt về giới vì lao động nữ dễ có nguy cơ bị lạm dụng hơn nam giới. Có thể thấy, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài chưa được bảo vệ đầy đủ và chắc chắn về quyền lợi. Có thể lý giải một phần nguyên nhân là do công tác quản lý lao động còn yếu kém của doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; phần khác là do sự thiếu kết hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở quốc gia tiếp nhận lao động trong công tác bảo vệ quyền lợi hợp pháp người lao động Việt Nam ở nước ngoài. Ngoài ra, một phần trách nhiệm thuộc về pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa đầy đủ, chưa cụ thể và thiếu tính khả thi khi quy định về các biện pháp bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Thứ tư, đối với công tác quản lý nhà nước: Cần nâng cao điều kiện được xem xét cấp phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đối với các doanh nghiệp nhằm đảm bảo chỉ các doanh nghiệp thực sự có năng lực, có khả năng mới được phép hoạt động trong lĩnh vực này. Nên chăng quy định cấp giấy phép có thời hạn 03 - 05 năm, hết thời hạn đó mà doanh nghiệp không đáp ứng đủ yêu cầu sẽ không được cấp lại giấy phép. Đối với những giấy phép, quy định, thủ tục về phía đối tác, quy định thấy rườm rà, bất hợp lý thì cần kiên quyết đàm phán để loại bỏ. Về phía cơ quan quản lý, từ hơn một chục văn bản cần tích hợp, phấn đấu tối đa đối với mỗi thị trường chỉ còn một đến hai văn bản hướng dẫn.

ThS. Nguyễn Văn Sinh

Đại học Hòa Bình

Tài liệu tham khảo:

[1]. Các số liệu nói trên do Hiệp hội Xuất khẩu lao động Việt Nam (VAMAS) công bố cuối năm 2016.

[2]. Số liệu công bố tại Hội nghị nâng cao chất lượng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội tổ chức tại Hà Nội, tháng 3/2017.

[3]. Số liệu do Cục Quản lý lao động ngoài nước công bố.

[4]. Tại Hội nghị nâng cao chất lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài tháng 3/2017, ông Nguyễn Văn Minh, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Dịch vụ xuất khẩu lao động và chuyên gia Thanh Hóa phát biểu: “Dù Bộ (LĐTB&XH) và tỉnh đã cho phép, nhưng nhiều huyện ở các tỉnh miền Tây, Tây Nguyên và một số tỉnh ở phía Bắc nhất định không cho chúng tôi xuống gặp dân mà yêu cầu phải có công văn của tỉnh, huyện”. Ông Đàm Phương Bắc, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Toàn Cầu cho biết: “Sau khi có được “giấy phép con” không hẳn doanh nghiệp đã gặp thuận lợi, bởi nội dung trong giấy phép này thường bị giới hạn về thời gian, khu vực và số lượng lao động cần tuyển. Mà nói thật, không có tiền thì các anh ấy không cho phép đâu”.



In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với tội phạm mua bán người trong bối cảnh hội nhập quốc tế Một số vấn đề về quản lý và sử dụng đất ở Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào hiện nay Đưa Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” vào cuộc sống theo lời Bác Hồ Một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau trong Dự thảo Luật Hợp tác xã Những vấn đề cần chứng minh trong tố tụng hành chính Công tác phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-Pu-Chia đánh bạc thực trạng và giải pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: