Thứ tư 23/09/2026 02:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ảnh hưởng của hương ước trong quản lý nhà nước ở thôn, làng Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Hương ước là một công cụ hữu hiệu trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội ở thôn, làng Việt Nam. Hiểu rõ về những ảnh hưởng tích cực cũng như những tác động hạn chế của hương ước đối với xã hội ở thôn, làng sẽ giúp việc quản lý nhà nước ở thôn, làng trở nên hiệu quả hơn.

Tóm tắt: Hương ước là một công cụ hữu hiệu trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội ở thôn, làng Việt Nam. Hiểu rõ về những ảnh hưởng tích cực cũng như những tác động hạn chế của hương ước đối với xã hội ở thôn, làng sẽ giúp việc quản lý nhà nước ở thôn, làng trở nên hiệu quả hơn.


Abstract: The convention is an effective tool in regulating social relations in Vietnamese villages. Understanding the positive effects, as well as the limited effects of the convention on village and village society, will make village governance more effective.

Làng Việt Nam xuất hiện cùng với quá trình tan rã của công xã thị tộc, hình thành công xã nông thôn. Công xã nông thôn Việt Nam ra đời và tồn tại phổ biến trong thời kỳ hình thành Nhà nước đầu tiên. Vì thế, ở thời kỳ công xã nông thôn phát triển điển hình, tuy có sự quản lý ở mức độ nhất định của Nhà nước nhưng làng Việt Nam về cơ bản vẫn là những đơn vị tự trị, tự quản. Sự tự trị của làng xã được tiếp tục duy trì trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, cho đến tận thế kỷ thứ X. Đến đầu thế kỷ thứ X, với chính quyền tự chủ của họ Khúc, xã bắt đầu được đặt chồng lên làng trở thành một đơn vị hành chính cấp cơ sở của Nhà nước[1]. Bắt đầu từ đây, ở nông thôn Việt Nam xuất hiện thêm hệ thống quản lý hành chính. Cả hai hệ thống hành chính và tự trị cùng tồn tại trong một đơn vị làng xã. Tuy nhiên, không phải lúc nào hai hệ thống quản lý này cũng thống nhất với nhau. Nếu Nhà nước chỉ quan tâm đến quyền thống trị của riêng mình mà không chấp nhận nhu cầu tự trị của làng xã - tức là đã đẩy làng xã về phía đối lập thì cuối cùng, Nhà nước không nắm được quyền quản lý làng xã đó. Trái lại, nếu Nhà nước phó mặc cho làng xã tùy tiện vận hành theo tục thì cũng có nghĩa là Nhà nước đã tự mình bỏ mất quyền quản lý làng xã. Như vậy, việc can thiệp của Nhà nước vào đời sống làng xã đòi hỏi phải được thực hiện một cách khéo léo và hợp lý, sao cho Nhà nước một mặt vẫn để một sự “nhân nhượng” nhất định với làng xã nhưng một mặt vẫn hạn chế và thu hẹp được quyền tự trị của làng xã. Và hương ước ra đời đã đáp ứng được yêu cầu đó bởi hương ước là một sự chấp nhận các tục lệ, các tập quán riêng của mỗi làng xã trên nguyên tắc không được trái với phép nước, không được gây phương hại đến pháp luật hiện hành. Như vậy, hương ước vừa đáp ứng được nhu cầu tự trị, tự quản của làng, vừa khẳng định được quyền quản lý làng xã của bản thân Nhà nước. Một cách tự phát, xu hướng tái lập hương ước để tạo thành “cơ sở pháp lý” để quản lý, điều chỉnh mọi mặt sinh hoạt của cộng đồng làng xã đã phát triển ở nhiều làng thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Ví dụ như, đến cuối năm 1992, ở huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh (Hà Bắc cũ) đã có 127/144 làng có quy ước làng[2]. Sự xuất hiện trở lại của hương ước đã đóng góp vào quá trình quản lý và dân chủ hóa ở nông thôn nước ta thời kỳ này.

1. Những ảnh hưởng tích cực của hương ước đối với việc quản lý nhà nước ở thôn, làng

1.1. Hương ước là công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ở thôn, làng

Khi đánh giá về vai trò của hương ước trong việc quản lý thôn, làng, một số tác giả đã nhận xét như sau: Theo tác giả Bùi Thanh Ba thì “các xã thường lập ra những bản hương ước, vừa có tính chất như nội quy sinh hoạt, vừa có giá trị như luật pháp, mà những người trong xã cũng như khách từ xa đến đều có bổn phận phải tuân theo”[3]. Còn tác giả Trần Từ, trong khi nghiên cứu về cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền Bắc Bộ đã rút ra kết luận rằng, “dù không phải là một bộ luật hoàn chỉnh, hương ước với những quy định về một số nét sinh hoạt riêng biệt của làng xã, vẫn đóng vai trò một cương lĩnh, có thể còn khá chung chung, nhưng dù sao vẫn đáng được xem là một cương lĩnh về nếp sống hàng ngày của làng xã, mà mọi cá nhân, mọi tổ chức trong làng, trong xã phải tuân thủ”[4]. Như vậy, ta có thể thấy, hương ước gắn với cộng đồng của từng thôn, làng, được coi như “cương lĩnh tinh thần”, “cương lĩnh nếp sống phong tục tập quán” của làng Việt. Nội dung của hương ước một mặt phản ánh quy chuẩn của phong tục tập quán, một mặt thể hiện ý chí của cộng đồng dân cư trong việc quản lý các mặt đời sống xã hội, bảo vệ trật tự trị an và các sinh hoạt văn hóa tinh thần gắn với đời sống hàng ngày của cộng đồng. Do đó, có thể ví hương ước như một “bộ luật” của thôn, làng. “Trong làng có khoán lệ để tuân theo cũng như Nhà nước có bộ luật để cai trị”[5]. Thực tế, Nhà nước có luật nước thì thôn, làng có lệ làng. Điều này thường được ghi trong các bài tựa của mỗi tục lệ hay hương ước, như theo hương ước xã Mộ Trạch (Hải Dương): “Nhà nước giữ đạo trị bình ắt phải nêu rõ kỷ cương, xóm làng giữ tục thuần hậu cần phải làm rõ quy ước, theo khuôn mẫu một điều mà lập ra các điều”[6]. Với ý nghĩa đó, hương ước là một loại quy tắc xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội ở thôn, làng. Hương ước trực tiếp điều chỉnh hầu hết các quan hệ giữa cá nhân với nhau, giữa các gia đình, dòng họ trong nội bộ làng, thậm chí cả những quan hệ với các cộng đồng làng khác và với Nhà nước. Hương ước mang một vai trò tích cực trong việc gắn kết mọi thành viên trong thôn, làng thành một cộng đồng chặt chẽ, tổ chức và quản lý có hiệu quả các mặt của đời sống làng xã; duy trì trật tự kỷ cương, tạo ra môi trường sống ổn định và an toàn cho cộng đồng; duy trì và phát huy thuần phong, mỹ tục và truyền thống văn hóa cộng đồng; củng cố các giá trị đạo lý và nhân bản, gắn cá nhân với cộng đồng, xây dựng ý thức cộng đồng làng xã gắn với ý thức quốc gia…

1.2. Hương ước là công cụ để Nhà nước can thiệp vào thôn, làng, quản lý thôn, làng và điều hòa lợi ích giữa làng với Nhà nước

Với phương châm “dùng hương ước để lệ làng hóa phép nước”, Nhà nước đã thông qua hương ước để can thiệp vào đời sống của làng và tìm cách quản lý thôn, làng. Quá trình phát triển của hương ước đã cho thấy điều đó. Hương ước của khá nhiều làng, buổi đầu mới chỉ là những quy ước phản ánh các mặt đời sống của làng xã, dần dần có khá nhiều điều liên quan đến Nhà nước. Ví dụ như, những điều quy định việc bầu cử bộ máy chức dịch ở làng, việc nộp sưu, thuế, điều động phu lính… Những điều này trong hương ước cải lương được ghi lên trên đầu và đứng thành mục riêng là “mục chính trị”, đứng trước “mục phong tục”. Ở nhiều làng, những điều này chiếm một tỷ lệ khá lớn trong nội dung của hương ước và được các làng rất coi trọng trong cả thực tế thực hiện hương ước. Ngày nay, trong nội dung hương ước thời kỳ mới cũng có rất nhiều những nội dung phù hợp với quy định của quản lý nhà nước, cụ thể hóa các quy định của pháp luật trong việc phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh trật tự, bảo vệ truyền thống văn hóa của dân tộc, giúp Nhà nước có thể hài hòa giữa lợi ích của cộng đồng làng xã với mục đích quản lý của Nhà nước.

1.3. Hương ước là công cụ đảm bảo tính dân chủ ở thôn, làng

Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Công cụ để quản lý xã hội của chúng ta là quyền làm chủ của nhân dân lao động với hai hình thức làm chủ, đó là làm chủ trong khuôn khổ các thiết chế nhà nước và làm chủ ngoài phạm vi Nhà nước. Trên thực tế, không thể và cũng không cần thiết phải Nhà nước hóa mọi quan hệ xã hội, đặc biệt là những quan hệ điều chỉnh mối quan hệ giữa các thành viên của các cộng đồng dân cư ở các cơ sở. Và hương ước chính là thể chế thể hiện sự làm chủ của nhân dân lao động ở các thôn, làng nước ta. Hương ước chính là các chuẩn mực, các quy phạm về việc làm chủ ở cơ sở, đặt ra nguyên tắc tự quản ở nông thôn trên cơ sở quyền làm chủ rộng rãi của nhân dân mà phạm vi tự quản là trong khuôn khổ những gì mà pháp luật không điều chỉnh.

Hương ước là văn bản do dân làng cùng nhau ước định ra. Trong thực tế, phương thức xây dựng hương ước ở các làng Việt cổ truyền đã tạo điều kiện cho từng người dân đều được tham gia vào quá trình soạn thảo ra hương ước, góp phần tạo lập một cuộc sống dân chủ ở thôn, làng. Ở Việt Nam, trước khi có sự ra đời của Nhà nước Dân chủ cộng hòa, chưa có một thể chế dân chủ nào tồn tại trong lịch sử. Có chăng chỉ tồn tại những giá trị dân chủ mang tính thỏa thuận của cộng đồng như lệ làng, hương ước.

2. Những hạn chế của hương ước và ảnh hưởng tiêu cực của hương ước đối với hoạt động quản lý thôn, làng

Ngoài những vai trò tích cực góp phần giúp Nhà nước quản lý thôn, làng một cách hiệu quả thì hương ước vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Cụ thể như:

Một là, tư tưởng cục bộ địa phương, bè phái hình thành trên cơ sở “tâm lý làng” đã cản trở sự quản lý của Nhà nước đối với thôn, làng. Với những điều khoản chỉ liên quan tới các công việc, tới tập tục của từng làng, hương ước đã khiến người nông dân chỉ quan tâm tới lợi ích của làng mình, “trống làng nào đánh làng ấy, thánh làng nào làng ấy thờ”, ít quan tâm tới quyền lợi của làng khác và của cả đất nước. Tâm lý này đã khiến cho mỗi làng như có một tính cách riêng mà bất cứ thành viên nào cũng mang trong mình “cái ta làng”[7], với tâm lý cục bộ địa phương, làm nảy sinh sự đối lập giữa “giá trị làng” với “giá trị ngoài làng”. Tính tự trị, tự quản tương đối hoàn chỉnh của thôn, làng nhiều khi đã cản trở sự quản lý của Nhà nước đối với thôn, làng, bởi người dân dễ dàng phản ứng mỗi khi Nhà nước thi hành một chính sách có “đụng chạm” tới lợi ích của thôn, làng.

Hai là, người dân chỉ có thói quen sống theo “lệ làng”, ít quan tâm đến “phép nước”. Khi Nhà nước chấp nhận sử dụng hương ước là một công cụ để quản lý thôn, làng, cũng đồng nghĩa với việc tạo cơ sở để hình thành lối sống theo “lệ làng”. Việc mỗi làng có một hương ước riêng, chỉ liên quan tới tục lệ của thôn, làng, với cuộc sống theo “nhịp điệu”, theo chu kỳ của nền nông nghiệp lúa nước, với các mối quan hệ xóm giềng, họ hàng còn khá bền chặt, với thiết chế tự quản khá chặt chẽ… đã tạo ra sự hạn chế và tiêu cực trong lối sống của người nông dân. Đó là lối sống chỉ theo lệ làng, theo tục lệ, ít quen “sống với pháp luật” - đây là một cản trở lớn đối với công cuộc xây dựng xã hội mới.

Tuy nhiên, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân, làm chủ thông qua đại diện là các cơ quan dân cử và các đoàn thể, làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng các quy ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với luật pháp nhà nước”. Như vậy, dưới góc độ pháp lý và quản lý, hương ước được coi là công cụ tự quản tại cơ sở, thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống lịch sử và quyền làm chủ trực tiếp của cộng đồng dân cư, có ý nghĩa hỗ trợ cho hoạt động quản lý nhà nước đối với xã hội nông thôn ngày nay. Sự cần thiết hay không cần thiết xây dựng hương ước đã không còn là chủ đề tranh luận hiện nay. Vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu để xây dựng một tương quan hợp lý giữa hương ước với pháp luật, giữa hương ước với các quy phạm xã hội khác để đáp ứng yêu cầu quản lý hiệu quả, phù hợp với nhu cầu dân chủ hóa nông thôn ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

ThS. Lại Thị Phương Thảo
Đại học Luật Hà Nội


[1]. PGS.TS. Đào Trí Úc (chủ biên), Hương ước trong quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, 2003, tr. 63.

[2]. Bùi Xuân Đính, “Hương ước và quản lý làng xã”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,1988, tr. 155.

[3]. Viện sử học, Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, Tập 1, tr. 328.

[4]. Trần Từ, Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền Bắc Bộ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984, tr. 103.

[5]. Lời nói đầu của Thụy Phương xã hương ước, Văn bản Nôm, Viện Thông tin Khoa học xã hội, ký hiệu HUN 0642.

[6]. Đinh Khắc Thuân (chủ biên), Tục lệ cổ truyền làng xã Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006, tr. 19, 20.

[7]. Bùi Xuân Đính, Sđd, tr. 138.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: