Thứ ba 03/03/2026 19:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng trong một số hiệp định thương mại Việt Nam là thành viên

Ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng được quy định trong nhiều hiệp định thương mại mà Việt Nam là thành viên. Ngoại lệ này cho phép vì bảo vệ đạo đức công cộng, thành viên được không tuân thủ các quy định trong hiệp định. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến nội dung và cách thức áp dụng ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng trong một số hiệp định thương mại mà Việt Nam là thành viên, từ đó đưa ra khuyến nghị để Việt Nam thực thi hiệu quả ngoại lệ này.


1. Nội dung quy định ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng trong một số hiệp định thương mại mà Việt Nam là thành viên

Trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1994 (GATT 1994) quy định ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng tại điểm a Điều XX (Các ngoại lệ chung) như sau: “Với bảo lưu rằng, các biện pháp đề cập ở đây không được áp dụng theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế, không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi hành hay áp dụng các biện pháp: a) Cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng...”. Theo đó, thành viên của WTO có thể viện dẫn ngoại lệ về đạo đức công cộng để bảo vệ cho một biện pháp vi phạm bất kỳ quy định nào trong GATT 1994[1]. Tuy nhiên, nội dung của điểm a Điều XX GATT 1994 nói chung được nhận định là quá rộng và không rõ ràng[2]. WTO không có quy định giải thích về nội dung của điểm a Điều XX GATT 1994, vì vậy, rất khó xác định đạo đức nào được coi là đạo đức công cộng (public morals)? Với 164 thành viên[3], sự đa dạng về tôn giáo, văn hóa dân tộc và nguồn gốc xã hội có thể tạo ra ngày càng nhiều sự xung đột trong quan điểm về đạo đức công cộng giữa các thành viên WTO[4]. Điều này dẫn đến hệ quả là, dù thành viên WTO, nhất là các thành viên là nước đang phát triển muốn vận dụng điểm a Điều XX nhằm bảo vệ giá trị đạo đức công cộng của nước mình, nhưng chưa biết rõ áp dụng như thế nào cho hợp pháp.

Trong khuôn khổ ASEAN, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) quy định về trường hợp ngoại lệ giống hệt với điểm a Điều XX GATT 1994: “Theo yêu cầu rằng các biện pháp không được áp dụng theo cách tạo nên sự phân biệt đối xử không công bằng hoặc bất bình đẳng giữa các quốc gia thành viên trong cùng một điều kiện, hoặc tạo nên sự hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, không quy định nào trong Hiệp định này sẽ được hiểu là ngăn cản việc áp dụng hoặc thực thi của các quốc gia thành viên các biện pháp: a) Cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng…” (điểm a Điều 8). Nội dung quy định này cũng được thể hiện trong Hiệp định thương mại hàng hóa thuộc Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Hàn Quốc (Điều 11), Hiệp định thương mại hàng hóa thuộc Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Điều 12).

Một số hiệp định thương mại khác mà Việt Nam là thành viên lại quy định theo cách dẫn chiếu đến Điều XX GATT 1994, ví dụ như Hiệp định thương mại hàng hóa thuộc Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Ấn Độ: “Mỗi bên được duy trì quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều XX của GATT 1994, được đưa vào Hiệp định này và là một phần không thể tách rời của Hiệp định này, với những sửa đổi phù hợp” (Điều 12). Cách quy định dẫn chiếu này cũng được áp dụng tại Hiệp định về quan hệ đối tác kinh tế toàn diện giữa các quốc gia thành viên ASEAN và Nhật Bản (Điều 7); Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) (Điều 29.1), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Chile (VCFTA) (Điều 13.1), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) (Điều 16.1).

Tuy nhiên, cũng giống như GATT 1994, các hiệp định thương mại mà Việt Nam là thành viên nêu trên không có quy định cụ thể hóa nội dung hay cách thức áp dụng ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng. Trong thương mại quốc tế, những quy định chưa thực sự rõ ràng này có thể được giải thích sáng tỏ trong các án lệ. Trong các hiệp định thương mại mà Việt Nam là thành viên, án lệ liên quan đến ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng chỉ có trong WTO. Tính đến ngày 31/12/2018, có bốn án lệ về giải thích và áp dụng ngoại lệ về điểm a Điều XX GATT 1994[5], đó là: Vụ Trung Quốc - Xuất bản phẩm và các sản phẩm nghe nhìn[6], vụ EC - Các sản phẩm hải cẩu[7], vụ Colombia - Dệt may[8] và vụ Brazil - Thuế[9].

2. Giải thích và áp dụng ngoại lệ về đạo đức công cộng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO

Các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO cho thấy, để một biện pháp vi phạm quy định của GATT 1994 có thể viện dẫn điểm a Điều XX làm cơ sở pháp lý, phải căn cứ vào cả hai vấn đề pháp lý: (i) Biện pháp đó phải “cần thiết” để bảo vệ “đạo đức công cộng”. Điều này sẽ phụ thuộc rất lớn vào khái niệm “đạo đức công cộng” là gì và biện pháp được áp dụng có “cần thiết” hay không?; (ii) Biện pháp đã được xác định là “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng” còn phải đáp ứng điều kiện quy định tại Đoạn mở đầu của Điều XX.

2.1. Khái niệm “đạo đức công cộng”

Nội dung thuật ngữ đạo đức công cộng theo ngoại lệ tại điểm a Điều XX GATT 1994 được nêu ra lần đầu tiên bởi Ban hội thẩm vụ Trung Quốc - Xuất bản phẩm và các sản phẩm nghe nhìn, theo đó: (i) Đạo đức công cộng là các tiêu chuẩn về hành vi đúng và sai được duy trì bởi hoặc nhân danh cộng đồng hoặc quốc gia; (ii) Nội dung của các thuật ngữ này tại các thành viên có thể thay đổi theo thời gian và không gian, tùy thuộc vào một loạt các yếu tố, bao gồm các giá trị xã hội, văn hóa, đạo đức và tôn giáo phổ biến; (iii) Các thành viên được tự xác định phạm vi và áp dụng khái niệm về đạo đức công công trong lãnh thổ của mình, phù hợp với hệ thống và thang đo giá trị riêng của họ[10].

Nhưng thực chất, Ban hội thẩm vụ Trung Quốc - Xuất bản phẩm và các sản phẩm nghe nhìn đã thừa nhận và nêu lại cách giải thích về đạo đức công cộng theo điểm a Điều XIV Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của Ban hội thẩm vụ Hoa Kỳ - Đánh bạc[11]. Cơ quan phúc thẩm vụ EC - Các sản phẩm hải cẩu cũng chấp nhận định nghĩa đạo đức công cộng do Ban hội thẩm vụ Hoa Kỳ - Đánh bạc đưa ra, đồng thời nhấn mạnh rằng, các thành viên phải được cho phép có một phạm vi nhất định để tự xác định và áp dụng riêng cho mình khái niệm đạo đức công cộng theo hệ thống và giá trị của riêng họ[12].

2.2. Kiểm tra sự “cần thiết”

Điểm a Điều XX GATT 1994 quy định “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng”. Do vậy, việc đánh giá sự “cần thiết” của một biện pháp đang bị khiếu kiện đòi hỏi phải phân tích sâu hơn, toàn diện hơn về mối quan hệ giữa biện pháp và bảo vệ đạo đức công cộng. Việc phân tích sự “cần thiết” sẽ được thực hiện theo trình tự:

Thứ nhất, xem xét biện pháp bị khiếu kiện có đạt được sự “cân bằng” (weigh and balance) hay không[13]

Sự “cần thiết” không chỉ giới hạn ở nghĩa là không thể thiếu (indispensable). Sự “cần thiết” trước hết phải được xem xét thông qua một quá trình cân bằng một loạt các yếu tố (a process of weighing and balancing a series of factors)[14]. Các yếu tố của sự “cân bằng” gồm có:

- Tầm quan trọng của các lợi ích và giá trị được bảo vệ bởi biện pháp vi phạm quy định của GATT. Đạo đức công cộng là một trong các giá trị và lợi ích quan trọng nhất mà các thành viên theo đuổi. Nếu bảo vệ đạo đức công cộng được thể hiện là mục tiêu của biện pháp, thì càng dễ được chấp nhận là “cần thiết”;

- Sự đóng góp của biện pháp đó cho mục tiêu được bảo vệ: Đóng góp càng lớn, thì càng dễ dàng được coi là “cần thiết”;

- Tác động hạn chế đối với thương mại quốc tế: Biện pháp ít có tác động hạn chế thương mại quốc tế sẽ dễ dàng được coi là “cần thiết” hơn là biện pháp có tác động mạnh hoặc rộng rãi đối với thương mại quốc tế.

Thứ hai, xác định sự tồn tại các biện pháp thay thế khả thi có sẵn (reasonable available alternatives)[15]

Khi biện pháp bị khiếu kiện đáp ứng được yêu cầu về sự “cân bằng”, thì cần tiếp tục xác định xem có tồn tại hay không các biện pháp thay thế khả thi có sẵn cho các biện pháp bị khiếu kiện. Đây là biện pháp ít hạn chế thương mại hơn, nhưng vẫn giúp đạt mục tiêu bảo vệ đạo đức công cộng.

Về vấn đề này, Cơ quan phúc thẩm vụ EC - Các sản phẩm hải cẩu cho rằng, trách nhiệm chứng minh biện pháp bị khiếu kiện là cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng theo điểm a Điều XX GATT 1994 là của bên bị đơn, nhưng bên nguyên đơn có nghĩa vụ phải đưa ra được ít nhất một biện pháp thay thế khả thi có sẵn đối với bên bị đơn. Nếu bên bị đơn không chứng minh được giải pháp thay thế mà nguyên đơn đề xuất sẽ tạo ra cho bị đơn một gánh nặng không đáng có, cho dù là về tài chính hay bất kỳ khía cạnh nào khác, thì bị đơn đã không chứng minh được biện pháp thay thế không có sẵn với họ. Lúc này, biện pháp bị khiếu kiện của bị đơn sẽ được xác định là không cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng. Đặc biệt, tất cả các biện pháp bị khiếu kiện đã được xác định là không cần thiết theo quy định của điểm a Điều XX GATT 1994, Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm sẽ không cần phải tiếp tục kiểm tra xem các biện pháp bị khiếu kiện có đáp ứng các yêu cầu của Đoạn mở đầu của Điều XX hay không[16].

2.3. Đáp ứng điều kiện quy định trong Đoạn mở đầu của Điều XX

Trong bốn vụ tranh chấp liên quan tới điểm a Điều XX GATT 1994, chỉ có biện pháp bị khiếu kiện của Liên minh Châu Âu (EU) trong vụ EC - các sản phẩm hải cẩu được xác định là “cần thiết”. Do đó, biện này tiếp tục được xem xét liệu có đáp ứng được điều kiện tại Đoạn mở đầu của Điều XX hay không[17]. Cơ quan phúc thẩm vụ này đã viện dẫn lại quan điểm của Cơ quan phúc thẩm vụ Hoa Kỳ - Tôm[18] có 03 yếu tố cấu thành nên sự “phân biệt đối xử tùy tiện hay vô căn cứ” trong Đoạn mở đầu của Điều XX, gồm[19]: Việc áp dụng biện pháp đó phải gây ra sự phân biệt đối xử; sự phân biệt đối xử này phải mang tính chất tùy tiện hoặc vô căn cứ; sự phân biệt đối xử này phải diễn ra giữa các quốc gia có cùng điều kiện như nhau.

Trên cơ sở đó, Cơ quan phúc thẩm xác định rằng, mặc dù mục tiêu của Quy chế áp dụng đối với hải cẩu của EC (EC seal regime) là nhằm đảm bảo phúc lợi dành cho hải cẩu (seal welfare)[20], nhưng ngoại lệ của Quy chế này (IC hunts exception - ngoại lệ IC)[21] được áp dụng theo cách tạo ra tạo ra công cụ phân biệt đối xử tùy tiện hay vô căn cứ giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, vì: (i) EU đã không chứng minh được sự tồn tại của ngoại lệ IC cũng nhằm đạt được mục tiêu chung là bảo vệ phúc lợi hải cẩu; (ii) Ngoại lệ IC không có giải thích rõ ràng về tiêu chí để xác định sản phẩm hải cẩu thuộc ngoại lệ này. Do đó, việc xác định sản phẩm hải cẩu có thuộc ngoại lệ IC hay không để nhập khẩu vào thị trường EU phụ thuộc hoàn toàn vào cơ quan có thẩm quyền công nhận sản phẩm hải cẩu; (iii) EU cũng không chứng minh được họ đã thực hiện “những nỗ lực tương đương” (comparable efforts) để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận ngoại lệ IC với người Eskimo tại Canada, như đã tạo điều kiện cho người Eskimo tại Đan Mạch; (iv) Cơ quan phúc thẩm kết luận, Quy chế áp dụng đối với hải cẩu của EC không thể viện dẫn điểm a Điều XX GATT 1994[22].

Các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của WTO nêu trên cho thấy, quốc gia thành viên WTO đang được trao quyền trong việc quyết định nội dung của đạo đức công cộng nước mình. Đồng thời, các báo cáo cũng đã chỉ rõ cách thức để áp dụng ngoại lệ theo điểm a Điều XX GATT 1994: Bên cạnh việc xác định đạo đức công cộng, thành viên WTO còn phải vượt qua hai rào cản khó khăn gồm chứng minh sự “cần thiết” của biện pháp hạn chế thương mại, chứng minh đáp ứng đủ hai điều kiện tại Đoạn mở đầu Điều XX.

3. Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về ngoại lệ liên quan đến bảo vệ đạo đức công cộng và một số khuyến nghị

3.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam

Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy định để áp dụng ngoại lệ “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng” theo các hiệp định thương mại Việt Nam là thành viên. Song, cơ sở pháp lý chung cho việc thực thi quy định này gồm: Luật Điều ước quốc tế năm 2016; Luật Quản lý ngoại thương năm 2017; Pháp lệnh Đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế năm 2002; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Theo đó, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên được thực hiện căn cứ vào quy định của Luật Điều ước quốc tế năm 2016. Việt Nam sẽ không trực tiếp áp dụng nội dung của các điều ước quốc tế, mà sẽ tiến hành sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế (khoản 4 Điều 76). Luật Điều ước quốc tế năm 2016 của Việt Nam không có quy định trường hợp ngoại lệ “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng”.

Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 quy định về biện pháp quản lý ngoại thương, phát triển hoạt động ngoại thương, giải quyết tranh chấp về áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương của Việt Nam (Điều 1). Nhà nước quản lý ngoại thương theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Điều 4). Luật này cũng không có quy định trường hợp ngoại lệ “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng”.

Pháp lệnh Đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế năm 2002 quy định về phạm vi, nguyên tắc, trường hợp áp dụng đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế, gồm các lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ. Mặc dù, văn bản này quy định ngoại lệ chung tại Điều 5, ngoại lệ về đối xử tối huệ quốc trong thương mại hàng hóa tại Điều 8, ngoại lệ về đối xử quốc gia tại Điều 17, nhưng trong đó cũng không bao gồm ngoại lệ “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng”.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), quy định nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (khoản 5 Điều 5). Thậm chí, ngay từ khi tiến hành đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định, phải nêu rõ căn cứ đề nghị là dựa trên cam kết quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (điểm d khoản 2 Điều 32, điểm d khoản 3 Điều 84). Nhưng Luật này không quy định quy trình riêng cho việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để nội luật hóa điều ước quốc tế. Do đó, cũng không có quy định trong việc thực thi các trường hợp ngoại lệ theo các hiệp định thương mại Việt Nam là thành viên.

3.2. Khuyến nghị đối với Việt Nam trong xây dựng quy định ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng theo các hiệp định thương mại

Trong khuôn khổ WTO, báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm liên quan đến giải thích và áp dụng điểm a Điều XX GATT 1994 sau khi được thông qua sẽ có giá trị tham khảo và được Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm các vụ tranh chấp sau đó áp dụng như một dạng án lệ không ràng buộc về mặt pháp lý[23]. Còn đối với các hiệp định thương mại khác mà Việt Nam là thành viên, các hiệp định này được gọi là “thỏa thuận thương mại khu vực” (RTA), được thành lập căn cứ vào quy định tại Điều XXIV GATT 1994. Do đó, dù có quy định giống hệt điểm a Điều XX GATT 1994, hay quy định dẫn chiếu, thì trong tương lai, nếu có tranh chấp xảy ra, báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm liên quan đến giải thích và áp dụng điểm a Điều XX GATT 1994 trong khuôn khổ WTO cũng có thể được cơ quan giải quyết tranh chấp của RTA sử dụng để tham khảo, thậm chí định hướng cho quyết định của các cơ quan giải quyết tranh chấp này[24].

Vì vậy, trên cơ sở nghiên cứu án lệ của WTO, tác giả đưa ra đề xuất về việc xây dựng quy định để áp dụng ngoại lệ “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng” theo các hiệp định thương mại Việt Nam là thành viên như sau:

Thứ nhất, quy định thừa nhận trường hợp ngoại lệ “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng”. Đây là cơ sở pháp lý rõ ràng cho phép Việt Nam bảo vệ các lợi ích xã hội, những giá trị quan trọng được coi là “đạo đức công cộng” tại Việt Nam.

Thứ hai, quy định rõ các tiêu chí để đảm bảo sự “cần thiết” của những biện pháp được ban hành nhằm mục đích bảo vệ đạo đức công cộng, bao gồm: (i) “Cân bằng” được ba yếu tố: Tầm quan trọng của mục tiêu mà biện pháp bị khiếu kiện muốn bảo vệ, sự đóng góp của biện pháp bị khiếu kiện để bảo vệ cho mục tiêu và tác động hạn chế thương mại của biện pháp bị khiếu kiện; (ii) Khẳng định không có biện pháp thay thế có sẵn ít tác động hạn chế thương mại hơn. Bởi vì, ngay khi có biện pháp này, Việt Nam bắt buộc phải thực hiện thay thế cho biện pháp ban đầu. Nếu không thực hiện, biện pháp của Việt Nam không còn đáp ứng được tính “cần thiết”.

Thứ ba, thực thi biện pháp này phải luôn tuân thủ nguyên tắc chung là không được áp dụng theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế.

Tóm lại, về bản chất, ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng trong các hiệp định thương mại là quyền lợi của Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam cần có quy định rõ ràng trong hệ thống pháp luật và sẵn sàng áp dụng khi cần thiết phải bảo vệ đạo đức công cộng của nước mình.

ThS. Tào Thị Huệ
Đại học Luật Hà Nội



[1]. Christoph T. Feddersen, “Focusing on Substantive Law in International Economic Reltions: The Public Morals of GATT’s Article XX (a) and Conventional Rules of Interpretation”, Minnesota Journal of International Law [Vol. 7:751998], p. 93.

[2]. Tlđd, Christoph T. Feddersen, p. 84.

[3]. WTO, “Members and Observers”, https://www.wto.org/english/thewto_e/whatis_e/tif_e/org6_e.htm (truy cập ngày 25/12/2019).

[4]. Pelin Serpin, “The public morals exception after the WTO seal products dispute: Has the exception swallowed the rules?”, Columbia Business Law Review [Vol. 2016 No. 1:217], p. 227.

[5]. Số liệu do tác giả thống kê từ tài liệu: WTO, WTO ANALYTICAL INDEX, GATT 1994 - Article XX (Jurisprudence), https://www.wto.org/english/res_e/publications_e/ai17_e/gatt1994_art20_jur.pdf (truy cập ngày 25/12/2019).

[6]. WTO, DS363: China - Measures Affecting Trading Rights and Distribution Services for Certain Publications and Audiovisual Entertainment Products, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_ e/cases_e/ds363_e.htm (truy cập ngày 31/12/2019).

[7]. WTO, “DS401: European Communities - Measures Prohibiting the Importation and Marketing of Seal Products”, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds401_e.htm (truy cập ngày 31/12/2019).

[8]. WTO, “DS461: Colombia - Measures Relating to the Importation of Textiles, Apparel and Footwear”, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds461_e.htm (truy cập ngày 31/12/2019).

[9]. WTO, “DS472: Brazil - Certain Measures Concerning Taxation and Charges”, https://www.wto.org/ english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds472_e.htm (truy cập ngày 31/12/2019).

[10]. Panel Report, China - Publications and Audiovisual Products, para.7.759.

[11]. Vụ tranh chấp này do hai nước Antigua và Barbuda khởi kiện Hoa Kỳ liên quan đến dịch vụ các cược và đánh bạc qua biên giới. Nhưng ngoại lệ công cộng trong vụ này được viện dẫn theo điểm a Điều XVI GATS 1994, chứ không phải GATT 1994. Xem tại: WTO, DS285: United States - Measures Affecting the Cross-Border Supply of Gambling and Betting Services, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds285_e.htm (truy cập ngày 31/12/2019).

[12]. Appellate Body Reports, EC - Seal Products, para. 5.199.

[13]. Appellate Body Report, China - Publications and Audiovisual Products, paras. 240-243; Appellate Body Report, Colombia - Textiles, paras. 5.71-5.74.

[14]. Panel Report, China - Publications and Audiovisual Products, para.7.782.

[15]. Appellate Body Report, China - Publications and Audiovisual Products, paras. 246 and 249.

[16]. Panel Report, China – Publications and Audiovisual Products, para. 7.910 - 7.914.

[17]. Biện pháp bị khiếu kiện của Liên minh Châu Âu là quy định việc cấm nhập khẩu và buôn bán sản phẩm hải cẩu mang tính thương mại tại EC theo Quy chế áp dụng đối với hải cẩu của EC (EC seal regime). Biện pháp này bị khiếu kiện bởi Canada và Na Uy, hai quốc gia có ngành công nghiệp hải cẩu lớn nhất thế giới.

[18]. WTO, DS58: United States - Import Prohibition of Certain Shrimp and Shrimp Products, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds58_e.htm (truy cập ngày 31/12/2019).

[19]. Appellate Body Reports, EC - Seal Products, para.5.302.

[20]. Được hiểu là ngăn chặn việc săn bắt, giết hại và lột da hải cẩu theo cách gây đau đớn, đau khổ, sợ hãi và các hình thức đau khổ khác cho những con vật này, đây một giá trị được coi là đạo đức công cộng của EU.

[21]. Ngoại lệ IC cho phép sản phẩm hải cẩu có nguồn gốc từ các cuộc săn bắn của người Eskimo bản địa hoặc tại các nước khác được mua bán, trao đổi, do các cuộc đi săn này một phần văn hóa truyền thống của họ.

[22]. Appellate Body Reports, EC - Seal Products, para. 5.338, 5.339.

[23]. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, TS. Nguyễn Bá Bình chủ biên, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2018, tr. 66.

[24]. TS. Trần Thị Thu Phương, Thỏa thuận thương mại khu vực trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại Thế giới, Tạp chí Luật học số 12/2012, tr. 40.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: