Thứ bảy 14/03/2026 06:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng pháp luật theo quy trình tố tụng dân sự hay quy trình hành chính để giải quyết việc trao nhầm trẻ em

Tóm tắt: Ở Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống. Bài viết đề cập về giải quyết sự việc cụ thể, từ đó có những kiến nghị, đề xuất bổ sung các quy định mới nhằm hoàn thiện pháp luật.

Tóm tắt: Ở Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống. Bài viết đề cập về giải quyết sự việc cụ thể, từ đó có những kiến nghị, đề xuất bổ sung các quy định mới nhằm hoàn thiện pháp luật.

Abstract: Civil rights are acknowledged, respected, protected and ensured for implementation in accordance with the Constitution, law, and bringing law into life in Vietnam. The article is concerned with the settlement of concrete cases, from there, makes proposals, recommendations for supplementing new provisions for law completion.

Theo Hiến pháp và pháp luật, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện, trong đó quyền nhân thân là một quyền cơ bản để “định danh” công dân. Pháp luật quy định quyền nhân thân và các quy trình pháp lý, để khi xảy ra sự kiện thì công dân có thể tự mình hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ. Việc áp dụng pháp luật để giải quyết các quan hệ phát sinh là một bước đưa pháp luật vào cuộc sống, là minh chứng cho thấy quy định pháp luật phù hợp với thực tiễn; không những thế, áp dụng pháp luật còn là cơ sở để bổ sung quy định mới hoàn thiện pháp luật.

Về lý thuyết, quan hệ pháp luật hình thành khi có quy phạm pháp luật, sự kiện pháp lý và năng lực chủ thể. Mọi quan hệ bắt đầu từ sự kiện, trên thực tiễn đã xảy ra sự kiện như sau: Trong thực hiện nhiệm vụ, do sơ ý trong việc trao con cho mẹ, nhân viên y tế đã trao nhầm con giữa hai bà mẹ. Quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, linh cảm đối với đứa con mình đang nuôi dưỡng không cùng huyết thống, nên người mẹ đã nhờ cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động kỹ thuật cần thiết để xác minh nhận định trên. Qua giám định gen (ADN) cho thấy, đứa con đang nuôi dưỡng không cùng huyết thống như nhận định ban đầu và tiến hành tìm kiếm con đẻ. Sau khi đã xác định, đây là lỗi vô ý của nhân viên y tế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đã tiến hành đối chiếu hồ sơ và tìm ra được con đẻ (con ruột) của mình giao cho một người khác nuôi dưỡng, người đang nuôi dưỡng không biết sự trao nhầm của nhân viên y tế và chăm sóc đứa trẻ với cả tình thương của người sinh thành. Khi tiếp cận và giải thích trên cơ sở khoa học (kết quả ADN), các bên đã thống nhất việc giao, nhận con cho nhau với sự chứng kiến của cơ sở y tế (nơi đã xảy ra việc trao nhầm trẻ em) và cơ quan nhà nước (cơ quan tư pháp địa phương). Việc trao đổi trẻ em về cho cha đẻ, mẹ đẻ giữa hai gia đình đã thành công. Về mặt tình cảm, hai gia đình đã có “niềm vui nhân đôi”, nhận lại con đẻ và “được thêm” một người con - người con đã nuôi dưỡng, chăm sóc từ trước. Với hệ thống pháp luật hiện hành, sự kiện này đặt ra một số nội dung sau:

Một là, cơ sở xác lập quan hệ các bên

Một bên gia đình đưa kết quả giám định ADN cho gia đình kia và hai bên gia đình đã đi đến thống nhất sẽ giao, nhận con cho nhau. Trong quan hệ này, các gia đình xác lập trên cơ sở tình cảm của cha, mẹ với các con (tình người), phạm trù đạo đức chi phối quan hệ này. Có thể gọi việc hai gia đình giải quyết theo phương thức này là “trao đổi ngang giá”, phù hợp với tâm lý “vạn cái lý…”.

Hai là, địa vị pháp lý của các cơ quan nhà nước

Trên cơ sở pháp luật, sự tham gia của cơ sở y tế (nơi thực hiện hành vi trao nhầm trẻ em) và cơ quan tư pháp (mang tính chứng kiến) không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật (không phải quan hệ pháp luật dân sự, không phải quan hệ pháp luật hành chính, cũng không phải quan hệ pháp luật hình sự); không thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức; sự tham gia này không phải quan hệ tình cảm. Pháp luật hiện hành không quy định phải có sự tham gia của cơ quan nhà nước trong quan hệ giao, nhận con của hai gia đình, sự tham gia của cơ quan nhà nước trong trường hợp này “chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh”.

Ba là, kết quả giám định gen (ADN)

Trong mối quan hệ pháp luật, kết quả giám định ADN được xem là một chứng cứ (căn cứ) khoa học để chứng minh một nhận định của các bên liên quan, nhưng sự chứng minh của các gia đình trong quan hệ phải được cơ quan có thẩm quyền “phán quyết” công nhận mới có hiệu lực áp dụng với bên liên quan.

Hiện nay, sự kiện trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế đã được các gia đình “giải quyết”, đặt sự kiện trong hệ thống pháp luật hiện hành, thì “áp dụng pháp luật theo quy trình tố tụng dân sự hay quy trình hành chính để giải quyết việc trao nhầm trẻ em”? Trên cơ sở pháp luật về quyền nhân thân và chế tài đảm bảo cho việc bảo vệ quyền nhân thân, hiện nay, có một số ý kiến áp dụng pháp luật trong việc giải quyết trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế như sau:

Ý kiến thứ nhất: Giải quyết theo quy trình hành chính. Ý kiến này thực hiện trên cơ sở pháp luật hiện hành đó là Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hộ tịch năm 2014. Ý kiến này cho rằng, giải quyết việc trao nhầm trẻ em chỉ cần thực hiện theo quy trình hành chính, với kết quả ADN, có sự chứng kiến của cơ sở y tế (nơi thực hiện hành vi trao nhầm) và cơ quan tư pháp (đại diện chính quyền) là đảm bảo được quyền lợi của các bên. Kết quả giám định ADN và sự chứng kiến của cơ quan nhà nước là cơ sở để xác nhận hai gia đình đã giao, nhận trẻ em do nhân viên cơ sở y tế trao nhầm. Cuộc trao đổi thành công, các bên liên quan đến cơ quan nhà nước yêu cầu thực hiện các thủ tục hành chính để hoàn thiện thủ tục pháp lý về quyền nhân thân, như cải chính hộ tịch liên quan (xác định cha đẻ, mẹ đẻ; xác định họ; dân tộc; quê quán…).

Trên cơ sở pháp luật, áp dụng quy trình hành chính này chưa xác định được quan hệ pháp luật liên quan, như: Địa vị pháp lý của các gia đình trong quan hệ giải quyết sự kiện; địa vị pháp lý của các cơ quan nhà nước khi tham gia giải quyết sự việc; giá trị pháp lý của kết quả giám định ADN trong giải quyết sự việc. Về pháp luật dân sự, giải quyết việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế liên quan đến việc thực hiện các quyền nhân thân, như: Xác định họ, xác định dân tộc,…, nhìn xa hơn có thể liên quan đến các quyền thừa kế, sở hữu trí tuệ của công dân.

Ý kiến thứ hai: Giải quyết theo quy trình tố tụng dân sự. Căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành, bản chất của sự kiện, ý kiến này khẳng định, đây là tranh chấp dân sự. Trong sự kiện này, một gia đình đang nuôi con và một người đến nói: “Đó không phải là con của anh, do nhân viên y tế trao nhầm”. Về mặt tâm lý, bất cứ ai trong tình huống đó cũng đều có phản ứng “chiếm hữu” đứa con mình đang nuôi dưỡng, dù có chứng cứ khoa học thì cũng khó chấp nhận. Về khái niệm tranh chấp, theo từ điển Tiếng Việt, thì tranh chấp là “giành nhau một vật không rõ ràng thuộc về bên nào” (Từ điển Tiếng Việt năm 2008 của Nxb. Đà Nẵng). Pháp luật tố tụng hiện hành có quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong giải quyết tranh chấp dân sự liên quan đến hôn nhân và gia đình, trong đó có việc “Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ” (khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Ý kiến này xác định, đây là quan hệ pháp luật tố tụng thì phải theo quy trình tố tụng dân sự, có nghĩa là có khởi kiện, có xét xử và thi hành án theo quy trình tố tụng dân sự. Vậy thì chủ thể nào sẽ tiến hành khởi kiện để giao, nhận con về cho hai gia đình trong quan hệ này, trong khi các bên gia đình đều chấp nhận kết quả giám định ADN và xem nó là cơ sở để các cơ quan nhà nước thực hiện thủ tục hành chính liên quan. Quy định pháp luật hiện hành có Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trong trường hợp trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế có thể đề cập đến Luật Trẻ em năm 2016 và các văn bản hướng dẫn liên quan. Với hệ thống pháp luật hiện hành, có nhiều cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của trẻ em trong trường hợp này, như: Hội Liên hiệp Phụ nữ, với tư cách là chủ thể pháp luật quy định thực hiện khởi kiện các nội dung liên quan đến hôn nhân và gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình (khoản 1 Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015), cũng có thể đề cập đến: Ủy ban nhân dân cấp xã, Đoàn Thanh niên (theo Luật Trẻ em năm 2016),… Trong trường hợp này, cơ sở y tế - nơi thực hiện hành vi trao nhầm trẻ em có thể tiến hành khởi kiện tại Tòa án nhân dân với tư cách là bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em; các bên gia đình là đương sự trong vụ án. Hiện nay, có thể giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn (Chương XVIII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em, sớm ổn định tâm lý của các bên.

Theo quy trình, Tòa án nhân dân ra phán quyết về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ; các bên gia đình giao, nhận con; tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết, như: Cải chính hộ tịch cho trẻ em (xác định cha đẻ, mẹ đẻ; xác định họ; dân tộc; quê quán…).

Ý kiến thứ ba: Xác định các quan hệ pháp luật phát sinh sau đó mới áp dụng quy trình pháp luật ở mỗi giai đoạn. Một sự kiện (hành vi hoặc sự biến) tương tác với các quan hệ xã hội (hoặc sự kiện khác) sẽ phát sinh các quan hệ liên quan, khi sự kiện được quy phạm pháp luật điều chỉnh thì đó là quan hệ pháp luật. Hành vi trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế đã chứng minh cho nhận định trên. Qua cách giải quyết của các bên gia đình; ý kiến áp dụng quy trình hành chính; ý kiến áp dụng quy trình tố tụng dân sự cho thấy, những cách giải quyết trên chưa xác định được quan hệ pháp luật phát sinh và địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ chưa được đặt ra. Ý kiến này đặt sự kiện trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế trong hệ thống pháp luật để thấy được những quan hệ pháp luật phát sinh và đưa ra quy trình áp dụng tổng hợp quy định pháp luật để giải quyết việc trao nhầm trẻ em.

Về hệ thống pháp luật, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các quyền nhân thân từ Điều 25 đến Điều 39. Trong đó, có thể đề cập các quyền liên quan như: Họ, tên; dân tộc; hộ tịch; quốc tịch; hình ảnh; danh dự, nhân phẩm, uy tín; hiến, nhận bộ phận cơ thể; giới tính; bí mật cá nhân; hôn nhân gia đình; sở hữu trí tuệ. Cùng với việc quy định các quyền nhân thân, pháp luật hoàn thiện các quy trình để bảo vệ và thực hiện các quyền nhân thân của công dân như: Quy trình tố tụng, quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; quy trình hành chính, quy định trong Luật Hộ tịch năm 2014. Trên cơ sở pháp luật, hành vi nhân viên y tế trao nhầm trẻ em cho hai gia đình có thể phát sinh các quan hệ pháp luật sau:

(i) Quan hệ pháp luật hình sự. Đối với hành vi trao nhầm trẻ em của nhân viên y tế có thể phát sinh quan hệ pháp luật hình sự, hành vi này có thể cấu thành “Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” (Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017); nếu là lỗi cố ý có thể cấu thành “Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi” (Điều 152 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017).

(ii) Quan hệ pháp luật dân sự. Qua xác minh bằng kỹ thuật khoa học giám định gen (ADN), các gia đình công nhận kết quả ADN là căn cứ xác định con đẻ của mình; nhân viên y tế đã thừa nhận do sơ suất đã thực hiện trao nhầm con cho mẹ (lỗi vô ý). Về quy định pháp luật và bản chất của quan hệ thì đây là tranh chấp con giữa hai gia đình (như đã phân tích tại ý kiến thứ hai).

(iii) Quan hệ pháp luật hành chính. Trong quan hệ pháp luật hành chính xem xét trong hai mối quan hệ: Về mặt tổ chức hành chính, trong tổ chức hành chính phát sinh quan hệ xử lý hành chính và trách nhiệm kỷ luật công vụ của nhân viên y tế đã thực hiện hành vi trao nhầm trẻ em với cơ sở y tế; quan hệ giữa cơ quan nhà nước với công dân khi các gia đình tiến hành cải chính hộ tịch (quan hệ hủ tục hành chính).

(iv) Về trách nhiệm pháp luật. Với mỗi quan hệ pháp luật sẽ có các chế tài áp dụng và có thể phát sinh các trách nhiệm pháp lý, như: Trách nhiệm hình sự của nhân viên y tế thực hiện hành vi trao nhầm trẻ em (nếu cấu thành tội phạm); trách nhiệm bồi thường của cơ sở y tế; trách nhiệm giao, nhận con giữa hai gia đình (theo quy trình tố tụng dân sự); trách nhiệm bồi hoàn của nhân viên y tế cho cơ sở y tế.

Trong các quan hệ pháp luật trên, trọng tâm là quan hệ pháp luật dân sự xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ. Về lý thuyết, có thể khẳng định, việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế là “sự kiện pháp lý phức hợp”. Trên cơ sở pháp luật hiện hành, để giải quyết việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế cần phải áp dụng tổng hợp các quy trình pháp luật (cả quy trình tố tụng, quy trình hành chính và hướng dẫn của cơ quan nhà nước do chưa có quy định pháp luật). Để bảo đảm được quyền lợi của các bên liên quan, ý kiến này đưa ra quy trình áp dụng pháp luật để giải quyết việc trao nhầm trẻ em như sau:

Một là, thẩm quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân. Khi phát hiện sự việc, các bên gia đình, cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật bảo vệ trẻ em hoặc các bên liên quan, như: Hội liên hiệp Phụ nữ, cơ sở y tế, Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc tổ chức liên quan đến trẻ em có thể tiến hành khởi kiện tại Tòa án nhân dân với tư cách bên bảo vệ quyền lợi cho trẻ em.

Hai là, việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế được xét xử theo quy trình tố tụng dân sự, kết quả giám định ADN được phát huy trong trường hợp này là chứng cứ khoa học để Tòa án nhân dân căn cứ ra phán quyết theo thẩm quyền pháp luật, phán quyết của Tòa án nhân dân có hiệu lực được các bên thực hiện.

Ba là, phán quyết của Tòa án nhân dân giải quyết việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế mới là “giấy tờ cần thiết” để các bên gia đình tiến hành cải chính hộ tịch (theo Luật Hộ tịch năm 2014) cho trẻ em trong vụ việc.

Giả thiết đặt ra, sau khi Tòa án nhân dân ra phán quyết, các gia đình tiến hành cải chính hộ tịch, trong trường hợp liên quan đến xác định lại dân tộc cho trẻ em, thì giải quyết trên cơ sở nào? Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về “Quyền xác định, xác định lại dân tộc” thì không có trường hợp xác định lại dân tộc trong việc giải quyết trao nhầm trẻ em. Có ý kiến đề xuất áp dụng như quy định “con nuôi” hoặc “trẻ em bị bỏ rơi” trong điều luật, nhưng trẻ em trong trường hợp này không thuộc diện “con nuôi”, cũng không thuộc diện “bỏ rơi” nên chưa có cơ sở pháp lý giải quyết.

Trong thực tế quan hệ pháp luật có thể xảy ra với nhiều tình tiết tác động đến nhận định của các bên liên quan, cũng như của các cơ quan áp dụng pháp luật, sự kiện trao nhầm con cho mẹ tại cơ sở y tế là “hy hữu”, nhưng phải xác định được các quan hệ pháp luật phát sinh để áp dụng quy trình pháp luật mới bảo vệ được quyền lợi của công dân trong các quan hệ pháp luật trước mắt cũng như lâu dài.

Tác giả cho rằng, việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế là trường hợp “hy hữu” trong hoạt động y tế. Để áp dụng đúng quy trình pháp luật; tránh việc giải quyết theo phương thức “trao đổi ngang giá”; bảo vệ quyền lợi của công dân trong giải quyết việc trao nhầm trẻ em, tác giả có ý kiến như sau:

Thứ nhất, cơ quan chuyên môn cần có hướng dẫn về áp dụng quy trình. Việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế là “sự kiện pháp lý phức hợp”, trong đó các quy trình pháp luật liên quan với nhau để giải quyết việc trao nhầm trẻ em, bảo vệ các quyền nhân thân phát sinh. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền nhân thân và các văn bản pháp luật quy định quy trình để công dân có thể thực hiện bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ, để áp dụng đúng quy trình, cơ quan chuyên môn cần hướng dẫn đối với việc áp dụng quy trình pháp luật giải quyết trao nhầm trẻ em, qua đó bảo vệ được các quyền nhân thân của công dân.

Thứ hai, đối với cải chính hộ tịch liên quan đến “xác định lại dân tộc”. Pháp luật hiện hành và Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa quy định cải chính hộ tịch trong trường hợp giải quyết trao nhầm trẻ em. Do vậy, cơ quan nhà nước cần có hướng dẫn trong trường hợp này, nhưng để áp dụng lâu dài thì cần xem xét bổ sung quy định “xác định lại dân tộc” đối với trường hợp giải quyết trao nhầm trẻ em tại Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trên cơ sở pháp luật và sự hướng dẫn của cơ quan chuyên môn áp dụng quy trình pháp luật giải quyết việc trao nhầm trẻ em, bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ pháp luật phát sinh trong thực tiễn là biểu hiện sự thống nhất giữa “cái lý” (pháp luật) và “cái tình” (tình cảm, đạo đức, cảm tính...) trong xử lý các mối quan hệ xã hội nói chung, quan hệ pháp luật nói riêng, như Đại Thi hào Nguyễn Du đã viết “ngoài thì là lý song trong là tình”, điều đó cũng phù hợp với tâm lý của người Á Đông.

ThS. Trần Đức Thú

Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: