Thứ bảy 27/06/2026 12:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ba năm thi hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư - Kết quả, hạn chế và kiến nghị

Trong bài viết này, tác giả nêu lên một số kết quả đạt được sau ba năm thi hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư năm 2012, phân tích những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại này và từ đó, đưa ra đề xuất, kiến nghị nhằm triển khai thi hành hiệu quả Luật và hoàn thiện hơn nữa thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong thời gian tới.

Luật sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư năm 2012 là một đạo luật quan trọng, liên quan đến tổ chức và hoạt động luật sư, Luật này đã thực sự đi vào cuộc sống và mang lại nhiều kết quả. Về cơ bản, các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư là đúng hướng và đa phần vẫn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, có nhiều quy định tiếp cận với thông lệ hành nghề luật sư quốc tế, tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư nhằm tháo gỡ nhưng khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động luật sư, góp phần nâng cao chất lượng luật sư, chất lượng hành nghề luật sư, tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư hành nghề và bổ sung một số quy định nhằm phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trước những yêu cầu mới của cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, bảo đảm cho hoạt động luật sư tiếp tục phát triển ổn định và bền vững.

Ngày 20/11/2012, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư (sau đây gọi là Luật sửa đổi, bổ sung). Luật sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2013. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả đánh giá bước đầu về kết quả thi hành, một số hạn chế, vướng mắc, nhận diện những nguyên nhân cơ bản của những hạn chế, vướng mắc đó, đồng thời, có một số đề xuất, kiến nghị.

1. Một số kết quả đạt được sau 03 năm thi hành Luật sửa đổi, bổ sung

Kể từ khi có hiệu lực, Luật sửa đổi, bổ sung đã được triển khai thi hành trên thực tế, những kết quả đạt được cụ thể như sau:

Thứ nhất, nhận thức của các cơ quan, tổ chức, ban, ngành ở Trung ương, cấp ủy Đảng, chính quyền ở địa phương và mọi công dân về vị thế, vai trò của luật sư và hành nghề luật sư đã được nâng lên một bước trên một tư duy mới, từ đó đã có sự chuyển biến cơ bản trong hành động, sự quan tâm và hỗ trợ của cả hệ thống chính trị đối với tổ chức và hoạt động luật sư ở nước ta. Đặc biệt, qua thực trạng về tổ chức và hoạt động luật sư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, Thường trực Tỉnh ủy, Thành ủy, Ủy ban nhân dân đã có sự quan tâm, hỗ trợ hiệu quả đối với tổ chức và hoạt động luật sư.

Thứ hai, số lượng luật sư đã được phát triển đáp ứng một phần nhu cầu của xã hội. Theo số liệu thống kê về tình hình phát triển số lượng luật sư của các địa phương thì từ tháng 7/2013 đến tháng 12/2015, đội ngũ luật sư đã tăng từ trên 7.000 luật sư lên 9.897 luật sư (tăng gần 3.000 luật sư); tính trung bình mỗi năm phát triển được khoảng 800 luật sư. Đặc biệt, trong năm 2013, tỉnh Lai Châu đã phát triển đủ số lượng luật sư theo quy định để thành lập Đoàn luật sư (trước đây, tỉnh Lai Châu không có đủ 03 luật sư theo quy định của Luật Luật sư để thành lập Đoàn luật sư). Số lượng người tập sự hành nghề luật sư trên cả nước hiện nay xấp xỉ 3.500 người. Như vậy, có thể nói, kể từ thời điểm Luật sửa đổi, bổ sung có hiệu lực pháp luật, mục tiêu phát triển số lượng luật sư cơ bản đã đạt được, góp phần phát triển đội ngũ luật sư Việt Nam, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, chất lượng luật sư cũng từng bước nâng cao. Sau hơn 03 năm triển khai thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung, cùng với việc chương trình đào tạo cử nhân luật tiếp tục được đổi mới, hoạt động đào tạo nghề luật sư và tập sự hành nghề luật sư dần đi vào nề nếp, chất lượng đội ngũ luật sư đã từng bước được nâng cao và đáp ứng hiệu quả hơn yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Số luật sư có trình độ cử nhân luật ngày càng tăng, chiếm khoảng 99%, trong đó, số luật sư đã qua đào tạo nghề luật sư chiếm gần 80% tổng số luật sư trong cả nước; số luật sư có trình độ trên đại học chiếm trên 5% tổng số luật sư của cả nước. Trong tổng số gần 3.000 luật sư được phát triển thì 100% những luật sư này đều có trình độ cử nhân luật trở lên, khoảng 20 luật sư đã có quá trình tập sự hành nghề trong các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam. Có khoảng 10 luật sư Việt Nam đã theo học các khoá đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài và được công nhận là luật sư của nước sở tại (Mỹ, Úc, Pháp). Theo số liệu báo cáo của các địa phương1, tính đến năm 2015, có 446 luật sư, chuyên gia pháp luật chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại quốc tế, chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn nhất cả nước là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, đội ngũ luật sư đã được bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư thông qua các khóa bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư do Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn luật sư tổ chức. Tính đến tháng 12/2015, cả nước có 60/63 Đoàn luật sư tổ chức bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ cho luật sư.

Nhìn chung, các luật sư là những người có phẩm chất đạo đức, tận tâm trong hoạt động nghề nghiệp, có ý thức tuân thủ và chấp hành pháp luật, tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư.

Thứ tư, về chất lượng hoạt động hành nghề của luật sư, theo số liệu thống kê từ tháng 7/2012 đến 12/2015, số lượng dịch vụ mà luật sư cung cấp ra xã hội đã đạt được kết quả đáng ghi nhận, cụ thể như sau:

- Trong hoạt động tham gia tố tụng, luật sư đã tham gia: 87.614 vụ, việc, trong đó có 42.342 vụ án hình sự (16.786 vụ án do khách hàng mời và 25.556 vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu); 30.179 vụ, việc về dân sự và hôn nhân gia đình; 9.281 vụ, việc về kinh tế, thương mại; 2.811 vụ, việc về hành chính và 2.991 vụ, việc về lao động. Số liệu thống kê cho thấy, 100% các vụ án theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng đều đã có luật sư tham gia. Số lượng vụ, việc do khách hàng mời đã tăng nhiều so với trước tháng 12/2012. Trên thực tế, trong nhiều vụ, việc lớn, hoạt động luật sư đã gây được tiếng vang trong dư luận, tạo niềm tin đối với người dân như vụ việc Đoàn luật sư tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tư vấn miễn phí buộc Công ty Vedan phải bồi thường cho người dân trên địa bàn tỉnh; tham gia bào chữa trong vụ án oan sai nghiêm trọng của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang, vụ án Huỳnh Văn Nén ở Bình Thuận...

Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, giảm tình trạng oan sai, đồng thời, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa thiếu sót, làm sáng tỏ sự thật khách quan, xét xử đúng người đúng tội, bước đầu thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa, phục vụ tích cực cho việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp được đề ra trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

- Trong lĩnh vực tư vấn pháp luật, luật sư đã tham gia hơn 206.400 vụ, việc. Nhiều luật sư đã mở rộng và phát triển hoạt động tư vấn trong các lĩnh vực đầu tư, thương mại quốc tế như hàng hải, hàng không, sở hữu trí tuệ… Thời gian qua, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, một số Đoàn luật sư (Bình Dương, Đà Nẵng, Quảng Ninh...) đã cử luật sư tham gia tư vấn cho Chính phủ, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình thực hiện một số nhiệm vụ như tham gia tư vấn cải cách thủ tục hành chính, tư vấn giải quyết khiếu nại, tố cáo, tư vấn xây dựng pháp luật... Một số công ty luật hàng đầu của Việt Nam (như Vilaf, YKVN…) đã được mời tham gia tư vấn cho các dự án đầu tư lớn như dự án về năng lượng, phát hành trái phiếu, phòng vệ thương mại, hỗ trợ Chính phủ giải quyết các vụ, việc tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài... Có thể nói, hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư đã góp phần tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch theo đúng quy định của pháp luật, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính tại địa phương, đồng thời, hỗ trợ tích cực cho việc phát triển thị trường dịch vụ pháp lý, thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

- Hoạt động đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác như dịch vụ liên quan đến thành lập doanh nghiệp, chuyển nhượng bất động sản, xuất, nhập cảnh... cũng tăng nhiều trong thời gian gần đây (4.766 vụ, việc đại diện ngoài tố tụng 62.903 vụ, việc trợ giúp pháp lý miễn phí và 47.938 vụ, việc về dịch vụ pháp lý khác).

Thứ năm, phát triển tổ chức hành nghề luật sư. Trong thời gian qua, cả nước đã phát triển được hơn 500 tổ chức hành nghề luật sư, đưa số lượng tổ chức hành nghề luật sư trên toàn quốc từ 2.928 tổ chức (tháng 7/2013) lên hơn 3.500 tổ chức (tháng 12/2015) (tăng 21%). Các tổ chức hành nghề luật sư được phân bố tập trung tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các tổ chức hành nghề luật sư cũng đã tăng đáng kể.

Công tác quản trị, điều hành của các tổ chức hành nghề luật sư tiếp tục được hoàn thiện theo hướng chuyên nghiệp với việc đầu tư nghiêm túc cho hoạt động hành nghề; tập trung vào các lĩnh vực chuyên sâu; có tên trong các bảng xếp hạng uy tín của khu vực. Một số tổ chức đã mở rộng thị trường hoạt động ra khu vực và thế giới thông qua việc đặt cơ sở hành nghề ở nước ngoài. Đây là những hạt nhân quan trọng đặt nền móng cho việc mở rộng hoạt động hội nhập quốc tế của các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam trong thời gian tới.

Thứ sáu, công tác quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư cũng đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Cơ quan quản lý nhà nước đã được đổi mới, thực hiện những nội dung quản lý thật “đích đáng” và lấy hiệu lực, hiệu quả quản lý làm tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý. Cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương tập trung vào việc xây dựng và hoạch định chính sách phát triển nghề luật sư, hoàn thiện thể chế, đào tạo nghề luật sư và tranh thủ mọi nguồn lực nhằm hỗ trợ phát triển nghề luật sư. Đa số Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã thực hiện trách nhiệm trong việc nâng cao năng lực quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương, tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra đối với tổ chức và hoạt động luật sư.

2. Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân

2.1. Những hạn chế, tồn tại

Thứ nhất, công tác tuyên truyền, phổ biến những nội dung của Luật sửa đổi, bổ sung về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của luật sư có lúc, có nơi còn coi nhẹ nên chưa thực sự phát huy hiệu quả cao nhất, chưa ngấm, thấm sâu vào nhận thức của đông đảo cá nhân, cơ quan, tổ chức dẫn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý, nhận thức của người dân, các cấp chính quyền về vai trò luật sư chưa được nâng cao. Nhiều người nghèo và đối tượng chính sách còn chưa biết đến quyền của mình trong việc được hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí của luật sư.

Thứ hai, số lượng luật sư đã phát triển ở mức độ tương đối, nhưng tại một số địa phương có điều kiện kinh tế khó khăn thì số lượng luật sư còn ở mức thấp so với dân số. Chất lượng luật sư chưa được xã hội đánh giá cao. Chất lượng tham gia tố tụng của luật sư chưa đáp ứng được yêu cầu tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp. Các luật sư vẫn còn thiếu kinh nghiệm trong việc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến quá trình bào chữa, tranh luận, đưa ra yêu cầu, kiến nghị tại phiên tòa. Một số luật sư còn có thái độ ứng xử nghề nghiệp chưa đúng mực trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và luật sư đồng nghiệp, làm ảnh hưởng đến uy tín của đội ngũ luật sư. Vai trò của luật sư tham gia vào các vụ án lớn, vụ án điểm hay tham vấn, tư vấn các dự án lớn của Chính phủ, cơ quan nhà nước chưa xứng tầm. Việc phát triển đội ngũ luật sư có trình độ ngoại ngữ, hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại quốc tế còn khó khăn, đặc biệt trước yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay còn thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung, trong đó có đội ngũ luật sư. Trong nhiều vụ tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài hoặc các dự án có chuyên ngành sâu thì các cơ quan, tổ chức Việt Nam vẫn phải thuê các công ty luật nước ngoài tư vấn, đại diện trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Một số luật sư chưa thực sự quan tâm và có ý thức trách nhiệm trong việc tuân thủ các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung, tìm hiểu và thực hiện pháp luật có liên quan như lao động, thuế, tài chính, thống kê... Thực tế này dẫn đến tình trạng một số luật sư có hành vi vi phạm các quy định của Luật Luật sư về trách nhiệm, nghĩa vụ của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và các quy định của pháp luật khác có liên quan.

Việc tuân thủ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam vẫn chưa được nhận thức một cách đầy đủ. Ý thức của một số luật sư còn hạn chế, còn có tâm lý bào chữa qua loa, chưa thực sự đầu tư thời gian, công sức và chuyên môn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được bào chữa trong quá trình tham gia các vụ án theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Một bộ phận luật sư còn có biểu hiện lệch lạc trong nhận thức về quan điểm, lập trường chính trị, đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng, ảnh hưởng đến trật tự xã hội, an ninh quốc gia; một số luật sư còn bị xử lý kỷ luật, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ ba, các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam đa số có quy mô nhỏ, chủ yếu hoạt động dưới hình thức văn phòng luật sư, chỉ có từ 01 - 02 luật sư, cơ sở vật chất thiếu thốn, nghèo nàn, trụ sở thường đặt tại nhà riêng của cá nhân luật sư, công tác quản trị, điều hành còn lỏng lẻo, thiếu tính chuyên nghiệp. Hoạt động hành nghề của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư chưa mang tính chuyên nghiệp, số luật sư hành nghề kiêm nhiệm các công việc khác vẫn còn khá cao, chiếm trên 20%. Số tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong các lĩnh vực pháp luật, nhất là trong lĩnh vực pháp luật kinh doanh, thương mại, tài chính, ngân hàng... còn rất ít.

Thứ tư, công tác quản lý hoạt động luật sư còn nhiều vướng mắc. Mặc dù, pháp luật có quy định tương đối cụ thể nhiệm vụ quản lý nhà nước và nhiệm vụ tự quản, song trên thực tế cách hiểu và vận dụng các quy định này còn chưa đúng, thậm chí có mâu thuẫn giữa Sở Tư pháp và Đoàn luật sư trong cách hiểu và thực hiện nhiệm vụ của mình. Một số tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư nhận thức chưa đúng về vai trò quản lý nhà nước, có biểu hiện quá đề cao vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và muốn thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước. Công tác quản lý nhà nước tại một số địa phương có tình trạng buông lỏng, tập trung vào thực hiện một số nhiệm vụ hành chính đơn thuần như cấp phép...

Bên cạnh đó, Liên đoàn Luật sư Việt Nam thực hiện còn chậm so với yêu cầu một số nhiệm vụ mà Luật sửa đổi, bổ sung và các văn bản hướng dẫn thi hành giao cho2. Công tác giám sát tập sự, giám sát tuân thủ pháp luật, tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư của Đoàn luật sư còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao dẫn đến khó khăn, vướng mắc cho cơ quan nhà nước trong việc cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và giải quyết khiếu nại, tố cáo của luật sư. Trong hoạt động điều hành của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư còn sự nể nang, thiếu quyết liệt, thiếu kiểm tra, giám sát nên có tình trạng một số luật sư, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư chưa thực hiện đúng quy định của Luật luật sư, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam.

2.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

- Về nguyên nhân khách quan

+ Tính chất của nghề luật sư là nghề tự do, hoạt động luật sư được điều tiết theo cơ chế của thị trường nên hoạt động luật sư trước hết phụ thuộc vào nhu cầu của xã hội. Do điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta đang phát triển, mức thu nhập của người dân chưa đồng đều, nhận thức của cơ quan nhà nước, tổ chức, người dân, cộng đồng doanh nghiệp về vị trí, vai trò của luật sư chưa đầy đủ, chưa toàn diện. Đặc biệt, ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, mức thu nhập của người dân còn thấp, nhận thức của người dân về vai trò của luật sư còn thấp, do đó nhu cầu của của cá nhân, tổ chức đối với việc sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư chưa cao, nên nghề luật sư ở những địa phương này không phát triển, luật sư cũng chưa sống được bằng hoạt động nghề nghiệp của mình. Điều này đã có tác động không nhỏ đến việc phát triển nghề luật sư, phát triển số lượng luật sư trên phạm vi cả nước, sự chênh lệch số lượng luật sư giữa các vùng miền và sự thiếu luật sư ở các tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

+ Luật sửa đổi, bổ sung đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập như: Đào tạo nghề luật sư; hình thức hành nghề luật sư; hình thức tổ chức hành nghề luật sư; quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư; tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.

+ Các quy định của pháp luật về tố tụng đã mở rộng đáng kể quyền của luật sư khi tham gia tố tụng nhưng chưa đồng bộ với các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung, đặc biệt còn thiếu các quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của luật sư, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tạo điều kiện cho luật sư tham gia tố tụng nên chưa bảo đảm cho luật sư được tham gia đầy đủ, thuận lợi vào các giai đoạn tố tụng một cách thực chất.

+ Chất lượng đào tạo cử nhân luật và đào tạo nghề luật sư ở nước ta còn một số bất cập. Chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo chưa gắn với thực tiễn. Do chưa được đào tạo đầy đủ về kỹ năng hành nghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng, kỹ năng tư vấn pháp luật trong các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại nên nhiều luật sư còn yếu về trình độ, thiếu kinh nghiệm khi tham gia tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật.

+ Công tác theo dõi, giám sát việc tuân thủ pháp luật, tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư chưa được thực hiện hiệu quả; việc phát hiện, xử lý vi phạm còn chưa kịp thời, chưa nghiêm minh. Việc bồi dưỡng, giáo dục về đạo đức nghề nghiệp còn mang tính hình thức. Công tác giáo dục về chính trị tư tưởng cho đội ngũ luật sư hầu như chưa được quan tâm.

+ Nghề luật sư ở Việt Nam mới hình thành và phát triển gần 30 năm nên còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng hành nghề, chưa theo kịp với các nước có nghề luật sư phát triển trong khu vực và trên thế giới.

- Về nguyên nhân chủ quan

+ Hiện nay, đội ngũ luật sư tuy đã được đào tạo nghề nhưng ít có cơ hội cọ xát, thực hành nghề nên yếu về kỹ năng hành nghề trong thực tế, tính chuyên nghiệp chưa cao. Một số luật sư còn chưa chủ động, tích cực trong việc tự học tập, cập nhật kiến thức pháp luật để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng hành nghề cũng như việc trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp. Ngoài ra, một số luật sư chưa có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, chưa tận tụy và nhiệt tình với khách hàng, chỉ quan tâm đến thù lao mà coi nhẹ chất lượng hành nghề, từ đó làm giảm sút niềm tin của khách hàng cũng như ảnh hưởng đến uy tín, chất lượng của nghề luật sư.

+ Năng lực quản lý, điều hành của cơ quan lãnh đạo một số tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư còn hạn chế, chưa thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có nơi còn hành chính hóa hoạt động quản lý, điều hành. Một số tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư còn quá đề cao vai trò tự quản của mình hoặc muốn thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước. Liên đoàn Luật sư Việt Nam mới được thành lập nên chưa thực sự phát huy hiệu quả tự quản và vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Trung ương; chưa xây dựng được các quy chế phối hợp về quản lý hành nghề luật sư giữa các cơ quan quản lý nhà nước về hành nghề luật sư với cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan khác có liên quan, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các Đoàn luật sư.



+ Một số cơ quan quản lý nhà nước chưa phát huy hết trách nhiệm trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư; chưa xác lập được những giải pháp mang tính chiến lược nhằm đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

- Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư, qua đó, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của luật sư và hoạt động hành nghề luật sư trong toàn xã hội.

- Tiếp tục triển khai thi hành có hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung, trong đó chú trọng việc nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư ngay từ giai đoạn đào tạo cử nhân luật, đào tạo nghề luật sư, giám sát chặt chẽ tập sự hành nghề luật sư; nâng cao chất lượng hoạt động nghề nghiệp của luật sư; nâng cao nhận thức về quản lý nhà nước đối với luật sư và hành nghề luật sư cũng như vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.

- Cần nghiên cứu, ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển đội ngũ luật sư và hành nghề luật sư, thể chế hóa các chính sách đó trong các quy định của pháp luật có liên quan đến quyền hành nghề luật sư như Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

- Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư đối với các vấn đề: (i) Nội dung, chương trình đào tạo nghề luật sư ngoài việc đào tạo kỹ năng nghề thì còn phải đào tạo cả về kiến thức và kỹ năng liên quan đến quản trị, điều hành tổ chức hành nghề luật sư. Đồng thời, cần quy định một cơ chế thực chất để giám sát chặt chẽ việc tập sự hành nghề luật sư để bảo đảm chất lượng của người tập sự trước khi chính thức trở thành luật sư; (ii) Nghiên cứu, sửa đổi quy định về hình thức hành nghề luật sư cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay; (iii) Nghiên cứu tính đặc thù của nghề luật sư so với các loại hình nghề nghiệp thông thường để sửa đổi quy định về hình thức tổ chức hành nghề luật sư, bảo đảm tính hiệu quả trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư; (iv) Nghiên cứu, làm rõ những nội dung Nhà nước phải thực hiện và nội dung tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư để phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước với vai trò tự quản để sửa đổi trong Luật, qua đó, một mặt, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước, mặt khác, phát huy được vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.

ThS. Nguyễn Văn Bốn
Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Số liệu của 59/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (04 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa có báo cáo gồm Bình Dương, Đắk Lắk, Hà Nam, Vĩnh Long).

[2]. Hướng dẫn chuyển Đoàn luật sư; quy định việc miễn, giảm thù lao, việc giải quyết tranh chấp liên quan đến thù lao, chi phí của luật sư; thực hiện rà soát, đánh giá hàng năm chất lượng đội ngũ luật sư. Một số nội dung của hoạt động bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư chưa thực hiện đúng quy định. Hoạt động trợ giúp pháp lý cũng mới triển khai thực hiện vào cuối năm 2015. Công tác giám sát tập sự, giám sát tuân thủ pháp luật, tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao...

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: