Thứ bảy 16/05/2026 21:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về đại diện theo pháp luật của pháp nhân trong các quy định pháp luật Việt Nam

Bài viết nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, chỉ ra những điểm còn mâu thuẫn, bất cập cần hoàn thiện để bảo đảm tính đồng bộ của pháp luật, đồng thời, không gây cản trở lớn cho việc áp dụng pháp luật.


Pháp nhân có nguồn gốc từ thời La Mã cổ đại với các tổ chức được biết đến như sodalitas, universitas và collegium[1]. Theo con đường chinh phục thuộc địa, chế định pháp nhân của Pháp du nhập vào Việt Nam, sau đó biến đổi phần nào theo chế định pháp nhân của truyền thống Sovietique Law. Theo truyền thống Sovietique Law, pháp nhân được coi là một con người giả tưởng, không có hình hài vật chất, nhưng là một chủ thể của pháp luật có khả năng hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ[2]. Tuy nhiên, mọi hoạt động của pháp nhân nói chung đều thông qua đại diện. Vì vậy, nói về hoạt động của pháp nhân không thể không nói tới đại diện của pháp nhân.

Ngày nay, pháp nhân thường được các hệ thống pháp luật chia thành pháp nhân công pháp và pháp nhân tư pháp. Đối với những nước có sự phân biệt giữa thương nhân và người thường còn chia pháp nhân tư pháp thành pháp nhân dân sự và pháp nhân thương mại[3]. Các loại pháp nhân này có các quy chế pháp lý khác nhau liên quan tới thành lập, quản trị và hoạt động, cũng như giải thể. Thông thường, đại diện của pháp nhân được quy định trong chế định quản trị pháp nhân. Ở Việt Nam hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về đại diện của pháp nhân tại Chương IV (Pháp nhân) và Chương IX (Đại diện); Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về đại diện của pháp nhân thương mại theo từng loại hình công ty. Ngoài ra, có một số đạo luật kinh tế chuyên ngành cũng có các quy định về đại diện của một số loại pháp nhân thương mại chuyên biệt.

Về nguyên lý, pháp nhân phải có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Những người này có chức năng đại diện cho pháp nhân trong tất cả các hoạt động của pháp nhân. Vì bản chất của pháp nhân là một hành vi pháp lý đối với hầu hết các pháp nhân tư pháp[4], do đó, đại diện hoặc các đại diện của pháp nhân phải hành động phù hợp với các quy định trong điều lệ của pháp nhân và các quy định của các văn bản khác như nghị quyết của đại hội đồng cổ đông hoặc của hội đồng thành viên... Đối với các pháp nhân công pháp hoặc một số ít pháp nhân tư pháp đặc biệt, đại diện hoặc các đại diện của pháp nhân phải hành động phù hợp với điều lệ và phù hợp với quyết định thành lập hay quyết định phê chuẩn việc thành lập của pháp nhân hoặc phù hợp với mục đích của pháp nhân. Tuy nhiên, để bảo vệ người thứ ba ngay tình, pháp luật thường bác bỏ giới hạn về thẩm quyền đại diện của đại diện pháp nhân, có nghĩa là không thể nại ra giới hạn về thẩm quyền đại diện để chống lại người thứ ba ngay tình nếu như họ không biết về giới hạn thẩm quyền đó, tức là, đối với người thứ ba ngay tình, thì mỗi đại diện của pháp nhân được coi là đại diện cho bất kỳ và tất cả các hoạt động của pháp nhân dù rằng điều lệ hay văn bản khác của pháp nhân có quy định về giới hạn thẩm quyền của đại diện nào đó. Trong trường hợp pháp nhân có nhiều người đại diện theo pháp luật, nếu không có quy định thẩm quyền đại diện về vấn đề nào đó, thì theo nguyên tắc chung, vấn đề đó được quyết định bởi đa số các đại diện. Tuy nhiên, pháp luật có thể dự liệu những trường hợp phải theo nguyên tắc nhất trí tùy thuộc loại hình pháp nhân và tùy thuộc tầm quan trọng của vấn đề. Để pháp nhân hoạt động có hiệu quả và tránh sự lợi dụng của người đại diện pháp nhân vì mục đích tư lợi, pháp luật thường đặt ra nguyên tắc tránh xung đột lợi ích giữa người đại diện và pháp nhân được đại diện. Việc thay thế người đại diện và các chế tài thường được dự liệu liên quan tới trường hợp này. Trường hợp người đại diện của pháp nhân vắng mặt mà gây ảnh hưởng tới người khác, thì một đại diện có thể được chỉ định thay thế. Tuy nhiên, đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác tiến hành các hành vi cụ thể trong hoạt động của pháp nhân nếu việc ủy quyền đó không chống lại các văn bản của pháp nhân và pháp luật. Các nguyên lý này đã được thể hiện phần nào đó trong pháp luật Việt Nam, nhưng có sự xê dịch khá nhiều và đôi khi thiếu thỏa đáng.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật)” (Điều 135). Như vậy, theo điều luật này, “quyền đại diện” đồng nghĩa với “đại diện”. Đây là một sự khác biệt khó lý giải bởi thuật ngữ “đại diện” trong tiếng Việt dùng để chỉ “quan hệ đại diện” hoặc “người đại diện”. “Quyền đại diện” là quyền của “người đại diện” được trao bởi người được đại diện hoặc bởi pháp luật. Các thể thức trao quyền đại diện được Bộ luật này quy định tại khoản 1 Điều 137, bao gồm: (i) Pháp nhân chỉ định theo điều lệ của pháp nhân; (ii) pháp luật quy định; và (iii) Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

Bộ luật Dân sự năm 2015 có dự liệu trường hợp pháp nhân có nhiều người đại diện theo pháp luật (khoản 2 Điều 137). Thế nhưng, Bộ luật này quy định mỗi người đại diện trong số những người đại diện theo pháp luật của pháp nhân chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo nội dung ủy quyền hoặc theo qui định của pháp luật (khoản 1 Điều 141) và phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình (khoản 4 Điều 141). Bộ luật này không dự liệu phạm vi đại diện của người đại diện hoặc các người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có tính cách tổng quát, có nghĩa là, không xác định người đại diện hoặc các người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải đại diện cho pháp nhân đối với bất kỳ và tất cả các công việc của pháp nhân, mà chỉ chú ý tới thẩm quyền đại diện của mỗi người đại diện trong số những người đại diện theo pháp luật của pháp nhân và dành toàn bộ việc xác định phạm vi đại diện này cho văn bản trao quyền đại diện. Đây là vấn đề rất đáng tiếc vì pháp nhân không thể hoạt động được hoặc không thể hoạt động đầy đủ theo mục đích và chức năng nếu người đại diện hay các người đại diện theo pháp luật của pháp nhân không có thẩm quyền đại diện đối với bất kỳ và tất cả các công việc của pháp nhân bởi pháp nhân chỉ là con người giả tưởng.

Bộ luật này cũng như Luật Doanh nghiệp năm 2014 không dự liệu việc nại ra hay lạm dụng việc có nhiều người đại diện theo pháp luật của pháp nhân mà thẩm quyền đại diện của từng người bị giới hạn để chống lại người thứ ba ngay tình. Bộ luật Dân sự năm 2015 có khuynh hướng buộc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đã giao kết hợp đồng vượt quá phạm vi của sự ủy quyền phải thực hiện phần nghĩa vụ vượt quá (khoản 2 Điều 143). Đây là một quy định không có tính khả thi cao bởi nhiều loại nghĩa vụ mà cá nhân người đại diện không thể thực hiện được dù có bỏ ra chi phí, nếu như pháp nhân được đại diện hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực đặc biệt (chẳng hạn sản xuất thuốc nổ).

Vấn đề rất đáng chú ý là Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” (khoản 1 Điều 13). Các quy định này cho thấy, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại ở Việt Nam hiện nay chỉ có thẩm quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các hành vi pháp lý (hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương), chứ không có thẩm quyền xác lập các hành vi pháp lý để làm phát sinh ra quyền và nghĩa vụ cho pháp nhân thương mại. Đây là một sai trái lớn và mâu thuẫn hoàn toàn với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Cả Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 đều không nhắc gì tới việc quản trị pháp nhân của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Điều đó có nghĩa là, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tư pháp chỉ đại diện cho pháp nhân trong việc xác lập các giao dịch và thực hiện giao dịch (Bộ luật Dân sự năm 2015) hoặc chỉ thực hiện giao dịch (Luật Doanh nghiệp năm 2014). Như trên đã nói, pháp nhân là con người giả tưởng, không có hình hài vật chất, do đó, bất cứ hoạt động nào từ việc quan hệ với bên ngoài hoặc quan hệ nội bộ đều phải nhờ cậy đến người đại diện hoặc những người đại diện của nó. Khi khái quát một quy chế chung cho đại diện của pháp nhân, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 đều quên mất mối quan hệ nội bộ của pháp nhân mà trong đó có việc quản trị tài sản và nhân sự… Điều đáng lưu ý nữa là Luật Doanh nghiệp năm 2014 lại không nói gì tới mối liên hệ giữa chế định đại diện và chế định người quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật này có định nghĩa: “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty” (khoản 18 Điều 4). Vì vậy, người ta có thể giải thích được mối liên hệ này khá rõ đối với công ty hợp danh. Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định thành viên hợp danh có quyền nhân danh công ty tiến hành hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty, đàm phán và ký kết hợp đồng, thỏa thuận hoặc giao ước với những điều kiện mà thành viên hợp danh đó cho là có lợi nhất cho công ty (điểm b khoản 1). Điều này cho thấy, thành viên hợp danh là đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh. Và hình thức công ty này luôn luôn có nhiều đại diện theo pháp luật mà mỗi trong số họ đại diện cho công ty đối với bất cứ và tất cả các hoạt động của công ty. Các quy định tại Điều 176 cho thấy sự mâu thuẫn giữa các quy định chung về đại diện theo pháp luật của pháp nhân tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 với các quy định cụ thể về đại diện theo pháp luật của pháp nhân là công ty hợp danh. Chẳng hạn có quy định cụ thể rằng, thành viên hợp danh có quyền tham gia họp, thảo luận và biểu quyết về các vấn đề của công ty; mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết hoặc có số phiếu biểu quyết khác quy định tại Điều lệ công ty, yêu cầu công ty, thành viên hợp danh khác cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh của công ty; kiểm tra tài sản, sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty khi xét thấy cần thiết (điểm a, điểm đ khoản 1 Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Các quy định này khẳng định rằng, người đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh không chỉ đại diện cho công ty xác lập giao dịch, thực hiện giao dịch, mà còn quản trị tài sản và nội bộ công ty, trong khi đó như trên đã phân tích các quy định chung về đại diện theo pháp luật của pháp nhân xác định người đại diện theo pháp luật của pháp nhân chỉ đại diện cho pháp nhân đối với việc xác lập và thực hiện giao dịch.

Điều 157 Luật Doanh nghiệp năm 2014 ngụ ý giám đốc hoặc tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty bởi quy định giám đốc hoặc tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty, quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý trong công ty, quyết định tiền lương và quyền lợi khác đối với người lao động, tuyển dụng lao động. Các quy định này cho thấy, người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần không chỉ đại diện cho công ty đối với xác lập và thực hiện giao dịch, mà còn đại diện cho công ty đối với việc quản trị nội bộ và quản trị tài sản.

Giống với công ty cổ phần, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng ngụ ý người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên là giám đốc hoặc tổng giám đốc với quy định tại Điều 64 rằng, giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty là người điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty, ký kết hợp đồng nhân danh công ty, tuyển dụng lao động, quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty, ban hành quy chế quản lý nội bộ của công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý trong công ty. Phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên theo các quy định này không chỉ dừng lại ở việc xác lập và thực hiện giao dịch, mà còn trong cả các lĩnh vực nội bộ công ty.

Như vậy, có thể khẳng định, các quy định chung về đại diện theo pháp luật của pháp nhân mâu thuẫn với toàn bộ các quy định riêng về đại diện theo pháp luật của các hình thức công ty. Do đó, việc hoàn thiện tổng thể các quy định về đại diện theo pháp luật của pháp nhân là rất cần thiết nhằm bảo đảm tính đồng bộ của pháp luật, đồng thời, không gây cản trở lớn cho việc áp dụng pháp luật.

Vũ Lan Phương

Công ty Cổ phần đầu tư đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà 7

Tài liệu tham khảo:

[1]. Herry G. Henn & John R. Alexander (1983), Laws of Corporations and Other Business Enterprises, Third Edition, St. Paul, Minn. West Publishing Co., p. 14.

[2]. Evgenij Smirnov and Oleg Jastrebov (2013), “Value of the Fiction Theory for Understanding the “Legal Person”” (pp. 907 - 912), World Applied Sciences Journal 27 (7), ISSN1818-4952, IDODSI Publications, p. 909.

[3]. Xem Ngô Huy Cương (2016), “Trách nhiệm hình sự pháp nhân: Nhìn từ tổng thể luật hình sự, luật hành chính, luật dân sự và luật thương mại” (tr. 9 - 18), Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 18(322), Kỳ 2 - Tháng 9/2016, tr. 16.

[4]. Ngô Huy Cương (2015), “Bình luận các quy định về pháp nhân trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)” (tr. 38 - 49), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số chuyên đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 43.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: