Thứ bảy 12/09/2026 06:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về đại diện theo pháp luật của pháp nhân trong các quy định pháp luật Việt Nam

Bài viết nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, chỉ ra những điểm còn mâu thuẫn, bất cập cần hoàn thiện để bảo đảm tính đồng bộ của pháp luật, đồng thời, không gây cản trở lớn cho việc áp dụng pháp luật.


Pháp nhân có nguồn gốc từ thời La Mã cổ đại với các tổ chức được biết đến như sodalitas, universitas và collegium[1]. Theo con đường chinh phục thuộc địa, chế định pháp nhân của Pháp du nhập vào Việt Nam, sau đó biến đổi phần nào theo chế định pháp nhân của truyền thống Sovietique Law. Theo truyền thống Sovietique Law, pháp nhân được coi là một con người giả tưởng, không có hình hài vật chất, nhưng là một chủ thể của pháp luật có khả năng hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ[2]. Tuy nhiên, mọi hoạt động của pháp nhân nói chung đều thông qua đại diện. Vì vậy, nói về hoạt động của pháp nhân không thể không nói tới đại diện của pháp nhân.

Ngày nay, pháp nhân thường được các hệ thống pháp luật chia thành pháp nhân công pháp và pháp nhân tư pháp. Đối với những nước có sự phân biệt giữa thương nhân và người thường còn chia pháp nhân tư pháp thành pháp nhân dân sự và pháp nhân thương mại[3]. Các loại pháp nhân này có các quy chế pháp lý khác nhau liên quan tới thành lập, quản trị và hoạt động, cũng như giải thể. Thông thường, đại diện của pháp nhân được quy định trong chế định quản trị pháp nhân. Ở Việt Nam hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về đại diện của pháp nhân tại Chương IV (Pháp nhân) và Chương IX (Đại diện); Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về đại diện của pháp nhân thương mại theo từng loại hình công ty. Ngoài ra, có một số đạo luật kinh tế chuyên ngành cũng có các quy định về đại diện của một số loại pháp nhân thương mại chuyên biệt.

Về nguyên lý, pháp nhân phải có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Những người này có chức năng đại diện cho pháp nhân trong tất cả các hoạt động của pháp nhân. Vì bản chất của pháp nhân là một hành vi pháp lý đối với hầu hết các pháp nhân tư pháp[4], do đó, đại diện hoặc các đại diện của pháp nhân phải hành động phù hợp với các quy định trong điều lệ của pháp nhân và các quy định của các văn bản khác như nghị quyết của đại hội đồng cổ đông hoặc của hội đồng thành viên... Đối với các pháp nhân công pháp hoặc một số ít pháp nhân tư pháp đặc biệt, đại diện hoặc các đại diện của pháp nhân phải hành động phù hợp với điều lệ và phù hợp với quyết định thành lập hay quyết định phê chuẩn việc thành lập của pháp nhân hoặc phù hợp với mục đích của pháp nhân. Tuy nhiên, để bảo vệ người thứ ba ngay tình, pháp luật thường bác bỏ giới hạn về thẩm quyền đại diện của đại diện pháp nhân, có nghĩa là không thể nại ra giới hạn về thẩm quyền đại diện để chống lại người thứ ba ngay tình nếu như họ không biết về giới hạn thẩm quyền đó, tức là, đối với người thứ ba ngay tình, thì mỗi đại diện của pháp nhân được coi là đại diện cho bất kỳ và tất cả các hoạt động của pháp nhân dù rằng điều lệ hay văn bản khác của pháp nhân có quy định về giới hạn thẩm quyền của đại diện nào đó. Trong trường hợp pháp nhân có nhiều người đại diện theo pháp luật, nếu không có quy định thẩm quyền đại diện về vấn đề nào đó, thì theo nguyên tắc chung, vấn đề đó được quyết định bởi đa số các đại diện. Tuy nhiên, pháp luật có thể dự liệu những trường hợp phải theo nguyên tắc nhất trí tùy thuộc loại hình pháp nhân và tùy thuộc tầm quan trọng của vấn đề. Để pháp nhân hoạt động có hiệu quả và tránh sự lợi dụng của người đại diện pháp nhân vì mục đích tư lợi, pháp luật thường đặt ra nguyên tắc tránh xung đột lợi ích giữa người đại diện và pháp nhân được đại diện. Việc thay thế người đại diện và các chế tài thường được dự liệu liên quan tới trường hợp này. Trường hợp người đại diện của pháp nhân vắng mặt mà gây ảnh hưởng tới người khác, thì một đại diện có thể được chỉ định thay thế. Tuy nhiên, đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác tiến hành các hành vi cụ thể trong hoạt động của pháp nhân nếu việc ủy quyền đó không chống lại các văn bản của pháp nhân và pháp luật. Các nguyên lý này đã được thể hiện phần nào đó trong pháp luật Việt Nam, nhưng có sự xê dịch khá nhiều và đôi khi thiếu thỏa đáng.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật)” (Điều 135). Như vậy, theo điều luật này, “quyền đại diện” đồng nghĩa với “đại diện”. Đây là một sự khác biệt khó lý giải bởi thuật ngữ “đại diện” trong tiếng Việt dùng để chỉ “quan hệ đại diện” hoặc “người đại diện”. “Quyền đại diện” là quyền của “người đại diện” được trao bởi người được đại diện hoặc bởi pháp luật. Các thể thức trao quyền đại diện được Bộ luật này quy định tại khoản 1 Điều 137, bao gồm: (i) Pháp nhân chỉ định theo điều lệ của pháp nhân; (ii) pháp luật quy định; và (iii) Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

Bộ luật Dân sự năm 2015 có dự liệu trường hợp pháp nhân có nhiều người đại diện theo pháp luật (khoản 2 Điều 137). Thế nhưng, Bộ luật này quy định mỗi người đại diện trong số những người đại diện theo pháp luật của pháp nhân chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo nội dung ủy quyền hoặc theo qui định của pháp luật (khoản 1 Điều 141) và phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình (khoản 4 Điều 141). Bộ luật này không dự liệu phạm vi đại diện của người đại diện hoặc các người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có tính cách tổng quát, có nghĩa là, không xác định người đại diện hoặc các người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải đại diện cho pháp nhân đối với bất kỳ và tất cả các công việc của pháp nhân, mà chỉ chú ý tới thẩm quyền đại diện của mỗi người đại diện trong số những người đại diện theo pháp luật của pháp nhân và dành toàn bộ việc xác định phạm vi đại diện này cho văn bản trao quyền đại diện. Đây là vấn đề rất đáng tiếc vì pháp nhân không thể hoạt động được hoặc không thể hoạt động đầy đủ theo mục đích và chức năng nếu người đại diện hay các người đại diện theo pháp luật của pháp nhân không có thẩm quyền đại diện đối với bất kỳ và tất cả các công việc của pháp nhân bởi pháp nhân chỉ là con người giả tưởng.

Bộ luật này cũng như Luật Doanh nghiệp năm 2014 không dự liệu việc nại ra hay lạm dụng việc có nhiều người đại diện theo pháp luật của pháp nhân mà thẩm quyền đại diện của từng người bị giới hạn để chống lại người thứ ba ngay tình. Bộ luật Dân sự năm 2015 có khuynh hướng buộc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đã giao kết hợp đồng vượt quá phạm vi của sự ủy quyền phải thực hiện phần nghĩa vụ vượt quá (khoản 2 Điều 143). Đây là một quy định không có tính khả thi cao bởi nhiều loại nghĩa vụ mà cá nhân người đại diện không thể thực hiện được dù có bỏ ra chi phí, nếu như pháp nhân được đại diện hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực đặc biệt (chẳng hạn sản xuất thuốc nổ).

Vấn đề rất đáng chú ý là Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” (khoản 1 Điều 13). Các quy định này cho thấy, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại ở Việt Nam hiện nay chỉ có thẩm quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các hành vi pháp lý (hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương), chứ không có thẩm quyền xác lập các hành vi pháp lý để làm phát sinh ra quyền và nghĩa vụ cho pháp nhân thương mại. Đây là một sai trái lớn và mâu thuẫn hoàn toàn với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Cả Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 đều không nhắc gì tới việc quản trị pháp nhân của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Điều đó có nghĩa là, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tư pháp chỉ đại diện cho pháp nhân trong việc xác lập các giao dịch và thực hiện giao dịch (Bộ luật Dân sự năm 2015) hoặc chỉ thực hiện giao dịch (Luật Doanh nghiệp năm 2014). Như trên đã nói, pháp nhân là con người giả tưởng, không có hình hài vật chất, do đó, bất cứ hoạt động nào từ việc quan hệ với bên ngoài hoặc quan hệ nội bộ đều phải nhờ cậy đến người đại diện hoặc những người đại diện của nó. Khi khái quát một quy chế chung cho đại diện của pháp nhân, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 đều quên mất mối quan hệ nội bộ của pháp nhân mà trong đó có việc quản trị tài sản và nhân sự… Điều đáng lưu ý nữa là Luật Doanh nghiệp năm 2014 lại không nói gì tới mối liên hệ giữa chế định đại diện và chế định người quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật này có định nghĩa: “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty” (khoản 18 Điều 4). Vì vậy, người ta có thể giải thích được mối liên hệ này khá rõ đối với công ty hợp danh. Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định thành viên hợp danh có quyền nhân danh công ty tiến hành hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty, đàm phán và ký kết hợp đồng, thỏa thuận hoặc giao ước với những điều kiện mà thành viên hợp danh đó cho là có lợi nhất cho công ty (điểm b khoản 1). Điều này cho thấy, thành viên hợp danh là đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh. Và hình thức công ty này luôn luôn có nhiều đại diện theo pháp luật mà mỗi trong số họ đại diện cho công ty đối với bất cứ và tất cả các hoạt động của công ty. Các quy định tại Điều 176 cho thấy sự mâu thuẫn giữa các quy định chung về đại diện theo pháp luật của pháp nhân tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 với các quy định cụ thể về đại diện theo pháp luật của pháp nhân là công ty hợp danh. Chẳng hạn có quy định cụ thể rằng, thành viên hợp danh có quyền tham gia họp, thảo luận và biểu quyết về các vấn đề của công ty; mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết hoặc có số phiếu biểu quyết khác quy định tại Điều lệ công ty, yêu cầu công ty, thành viên hợp danh khác cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh của công ty; kiểm tra tài sản, sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty khi xét thấy cần thiết (điểm a, điểm đ khoản 1 Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Các quy định này khẳng định rằng, người đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh không chỉ đại diện cho công ty xác lập giao dịch, thực hiện giao dịch, mà còn quản trị tài sản và nội bộ công ty, trong khi đó như trên đã phân tích các quy định chung về đại diện theo pháp luật của pháp nhân xác định người đại diện theo pháp luật của pháp nhân chỉ đại diện cho pháp nhân đối với việc xác lập và thực hiện giao dịch.

Điều 157 Luật Doanh nghiệp năm 2014 ngụ ý giám đốc hoặc tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty bởi quy định giám đốc hoặc tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty, quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý trong công ty, quyết định tiền lương và quyền lợi khác đối với người lao động, tuyển dụng lao động. Các quy định này cho thấy, người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần không chỉ đại diện cho công ty đối với xác lập và thực hiện giao dịch, mà còn đại diện cho công ty đối với việc quản trị nội bộ và quản trị tài sản.

Giống với công ty cổ phần, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng ngụ ý người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên là giám đốc hoặc tổng giám đốc với quy định tại Điều 64 rằng, giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty là người điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty, ký kết hợp đồng nhân danh công ty, tuyển dụng lao động, quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty, ban hành quy chế quản lý nội bộ của công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý trong công ty. Phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên theo các quy định này không chỉ dừng lại ở việc xác lập và thực hiện giao dịch, mà còn trong cả các lĩnh vực nội bộ công ty.

Như vậy, có thể khẳng định, các quy định chung về đại diện theo pháp luật của pháp nhân mâu thuẫn với toàn bộ các quy định riêng về đại diện theo pháp luật của các hình thức công ty. Do đó, việc hoàn thiện tổng thể các quy định về đại diện theo pháp luật của pháp nhân là rất cần thiết nhằm bảo đảm tính đồng bộ của pháp luật, đồng thời, không gây cản trở lớn cho việc áp dụng pháp luật.

Vũ Lan Phương

Công ty Cổ phần đầu tư đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà 7

Tài liệu tham khảo:

[1]. Herry G. Henn & John R. Alexander (1983), Laws of Corporations and Other Business Enterprises, Third Edition, St. Paul, Minn. West Publishing Co., p. 14.

[2]. Evgenij Smirnov and Oleg Jastrebov (2013), “Value of the Fiction Theory for Understanding the “Legal Person”” (pp. 907 - 912), World Applied Sciences Journal 27 (7), ISSN1818-4952, IDODSI Publications, p. 909.

[3]. Xem Ngô Huy Cương (2016), “Trách nhiệm hình sự pháp nhân: Nhìn từ tổng thể luật hình sự, luật hành chính, luật dân sự và luật thương mại” (tr. 9 - 18), Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 18(322), Kỳ 2 - Tháng 9/2016, tr. 16.

[4]. Ngô Huy Cương (2015), “Bình luận các quy định về pháp nhân trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)” (tr. 38 - 49), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số chuyên đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 43.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: