Thứ hai 19/01/2026 18:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về đại diện theo pháp luật của pháp nhân trong các quy định pháp luật Việt Nam

Bài viết nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, chỉ ra những điểm còn mâu thuẫn, bất cập cần hoàn thiện để bảo đảm tính đồng bộ của pháp luật, đồng thời, không gây cản trở lớn cho việc áp dụng pháp luật.


Pháp nhân có nguồn gốc từ thời La Mã cổ đại với các tổ chức được biết đến như sodalitas, universitas và collegium[1]. Theo con đường chinh phục thuộc địa, chế định pháp nhân của Pháp du nhập vào Việt Nam, sau đó biến đổi phần nào theo chế định pháp nhân của truyền thống Sovietique Law. Theo truyền thống Sovietique Law, pháp nhân được coi là một con người giả tưởng, không có hình hài vật chất, nhưng là một chủ thể của pháp luật có khả năng hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ[2]. Tuy nhiên, mọi hoạt động của pháp nhân nói chung đều thông qua đại diện. Vì vậy, nói về hoạt động của pháp nhân không thể không nói tới đại diện của pháp nhân.

Ngày nay, pháp nhân thường được các hệ thống pháp luật chia thành pháp nhân công pháp và pháp nhân tư pháp. Đối với những nước có sự phân biệt giữa thương nhân và người thường còn chia pháp nhân tư pháp thành pháp nhân dân sự và pháp nhân thương mại[3]. Các loại pháp nhân này có các quy chế pháp lý khác nhau liên quan tới thành lập, quản trị và hoạt động, cũng như giải thể. Thông thường, đại diện của pháp nhân được quy định trong chế định quản trị pháp nhân. Ở Việt Nam hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về đại diện của pháp nhân tại Chương IV (Pháp nhân) và Chương IX (Đại diện); Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về đại diện của pháp nhân thương mại theo từng loại hình công ty. Ngoài ra, có một số đạo luật kinh tế chuyên ngành cũng có các quy định về đại diện của một số loại pháp nhân thương mại chuyên biệt.

Về nguyên lý, pháp nhân phải có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Những người này có chức năng đại diện cho pháp nhân trong tất cả các hoạt động của pháp nhân. Vì bản chất của pháp nhân là một hành vi pháp lý đối với hầu hết các pháp nhân tư pháp[4], do đó, đại diện hoặc các đại diện của pháp nhân phải hành động phù hợp với các quy định trong điều lệ của pháp nhân và các quy định của các văn bản khác như nghị quyết của đại hội đồng cổ đông hoặc của hội đồng thành viên... Đối với các pháp nhân công pháp hoặc một số ít pháp nhân tư pháp đặc biệt, đại diện hoặc các đại diện của pháp nhân phải hành động phù hợp với điều lệ và phù hợp với quyết định thành lập hay quyết định phê chuẩn việc thành lập của pháp nhân hoặc phù hợp với mục đích của pháp nhân. Tuy nhiên, để bảo vệ người thứ ba ngay tình, pháp luật thường bác bỏ giới hạn về thẩm quyền đại diện của đại diện pháp nhân, có nghĩa là không thể nại ra giới hạn về thẩm quyền đại diện để chống lại người thứ ba ngay tình nếu như họ không biết về giới hạn thẩm quyền đó, tức là, đối với người thứ ba ngay tình, thì mỗi đại diện của pháp nhân được coi là đại diện cho bất kỳ và tất cả các hoạt động của pháp nhân dù rằng điều lệ hay văn bản khác của pháp nhân có quy định về giới hạn thẩm quyền của đại diện nào đó. Trong trường hợp pháp nhân có nhiều người đại diện theo pháp luật, nếu không có quy định thẩm quyền đại diện về vấn đề nào đó, thì theo nguyên tắc chung, vấn đề đó được quyết định bởi đa số các đại diện. Tuy nhiên, pháp luật có thể dự liệu những trường hợp phải theo nguyên tắc nhất trí tùy thuộc loại hình pháp nhân và tùy thuộc tầm quan trọng của vấn đề. Để pháp nhân hoạt động có hiệu quả và tránh sự lợi dụng của người đại diện pháp nhân vì mục đích tư lợi, pháp luật thường đặt ra nguyên tắc tránh xung đột lợi ích giữa người đại diện và pháp nhân được đại diện. Việc thay thế người đại diện và các chế tài thường được dự liệu liên quan tới trường hợp này. Trường hợp người đại diện của pháp nhân vắng mặt mà gây ảnh hưởng tới người khác, thì một đại diện có thể được chỉ định thay thế. Tuy nhiên, đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác tiến hành các hành vi cụ thể trong hoạt động của pháp nhân nếu việc ủy quyền đó không chống lại các văn bản của pháp nhân và pháp luật. Các nguyên lý này đã được thể hiện phần nào đó trong pháp luật Việt Nam, nhưng có sự xê dịch khá nhiều và đôi khi thiếu thỏa đáng.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật)” (Điều 135). Như vậy, theo điều luật này, “quyền đại diện” đồng nghĩa với “đại diện”. Đây là một sự khác biệt khó lý giải bởi thuật ngữ “đại diện” trong tiếng Việt dùng để chỉ “quan hệ đại diện” hoặc “người đại diện”. “Quyền đại diện” là quyền của “người đại diện” được trao bởi người được đại diện hoặc bởi pháp luật. Các thể thức trao quyền đại diện được Bộ luật này quy định tại khoản 1 Điều 137, bao gồm: (i) Pháp nhân chỉ định theo điều lệ của pháp nhân; (ii) pháp luật quy định; và (iii) Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

Bộ luật Dân sự năm 2015 có dự liệu trường hợp pháp nhân có nhiều người đại diện theo pháp luật (khoản 2 Điều 137). Thế nhưng, Bộ luật này quy định mỗi người đại diện trong số những người đại diện theo pháp luật của pháp nhân chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo nội dung ủy quyền hoặc theo qui định của pháp luật (khoản 1 Điều 141) và phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình (khoản 4 Điều 141). Bộ luật này không dự liệu phạm vi đại diện của người đại diện hoặc các người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có tính cách tổng quát, có nghĩa là, không xác định người đại diện hoặc các người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải đại diện cho pháp nhân đối với bất kỳ và tất cả các công việc của pháp nhân, mà chỉ chú ý tới thẩm quyền đại diện của mỗi người đại diện trong số những người đại diện theo pháp luật của pháp nhân và dành toàn bộ việc xác định phạm vi đại diện này cho văn bản trao quyền đại diện. Đây là vấn đề rất đáng tiếc vì pháp nhân không thể hoạt động được hoặc không thể hoạt động đầy đủ theo mục đích và chức năng nếu người đại diện hay các người đại diện theo pháp luật của pháp nhân không có thẩm quyền đại diện đối với bất kỳ và tất cả các công việc của pháp nhân bởi pháp nhân chỉ là con người giả tưởng.

Bộ luật này cũng như Luật Doanh nghiệp năm 2014 không dự liệu việc nại ra hay lạm dụng việc có nhiều người đại diện theo pháp luật của pháp nhân mà thẩm quyền đại diện của từng người bị giới hạn để chống lại người thứ ba ngay tình. Bộ luật Dân sự năm 2015 có khuynh hướng buộc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đã giao kết hợp đồng vượt quá phạm vi của sự ủy quyền phải thực hiện phần nghĩa vụ vượt quá (khoản 2 Điều 143). Đây là một quy định không có tính khả thi cao bởi nhiều loại nghĩa vụ mà cá nhân người đại diện không thể thực hiện được dù có bỏ ra chi phí, nếu như pháp nhân được đại diện hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực đặc biệt (chẳng hạn sản xuất thuốc nổ).

Vấn đề rất đáng chú ý là Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” (khoản 1 Điều 13). Các quy định này cho thấy, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại ở Việt Nam hiện nay chỉ có thẩm quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các hành vi pháp lý (hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương), chứ không có thẩm quyền xác lập các hành vi pháp lý để làm phát sinh ra quyền và nghĩa vụ cho pháp nhân thương mại. Đây là một sai trái lớn và mâu thuẫn hoàn toàn với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Cả Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 đều không nhắc gì tới việc quản trị pháp nhân của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Điều đó có nghĩa là, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tư pháp chỉ đại diện cho pháp nhân trong việc xác lập các giao dịch và thực hiện giao dịch (Bộ luật Dân sự năm 2015) hoặc chỉ thực hiện giao dịch (Luật Doanh nghiệp năm 2014). Như trên đã nói, pháp nhân là con người giả tưởng, không có hình hài vật chất, do đó, bất cứ hoạt động nào từ việc quan hệ với bên ngoài hoặc quan hệ nội bộ đều phải nhờ cậy đến người đại diện hoặc những người đại diện của nó. Khi khái quát một quy chế chung cho đại diện của pháp nhân, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 đều quên mất mối quan hệ nội bộ của pháp nhân mà trong đó có việc quản trị tài sản và nhân sự… Điều đáng lưu ý nữa là Luật Doanh nghiệp năm 2014 lại không nói gì tới mối liên hệ giữa chế định đại diện và chế định người quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật này có định nghĩa: “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty” (khoản 18 Điều 4). Vì vậy, người ta có thể giải thích được mối liên hệ này khá rõ đối với công ty hợp danh. Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định thành viên hợp danh có quyền nhân danh công ty tiến hành hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty, đàm phán và ký kết hợp đồng, thỏa thuận hoặc giao ước với những điều kiện mà thành viên hợp danh đó cho là có lợi nhất cho công ty (điểm b khoản 1). Điều này cho thấy, thành viên hợp danh là đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh. Và hình thức công ty này luôn luôn có nhiều đại diện theo pháp luật mà mỗi trong số họ đại diện cho công ty đối với bất cứ và tất cả các hoạt động của công ty. Các quy định tại Điều 176 cho thấy sự mâu thuẫn giữa các quy định chung về đại diện theo pháp luật của pháp nhân tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 với các quy định cụ thể về đại diện theo pháp luật của pháp nhân là công ty hợp danh. Chẳng hạn có quy định cụ thể rằng, thành viên hợp danh có quyền tham gia họp, thảo luận và biểu quyết về các vấn đề của công ty; mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết hoặc có số phiếu biểu quyết khác quy định tại Điều lệ công ty, yêu cầu công ty, thành viên hợp danh khác cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh của công ty; kiểm tra tài sản, sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty khi xét thấy cần thiết (điểm a, điểm đ khoản 1 Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Các quy định này khẳng định rằng, người đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh không chỉ đại diện cho công ty xác lập giao dịch, thực hiện giao dịch, mà còn quản trị tài sản và nội bộ công ty, trong khi đó như trên đã phân tích các quy định chung về đại diện theo pháp luật của pháp nhân xác định người đại diện theo pháp luật của pháp nhân chỉ đại diện cho pháp nhân đối với việc xác lập và thực hiện giao dịch.

Điều 157 Luật Doanh nghiệp năm 2014 ngụ ý giám đốc hoặc tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty bởi quy định giám đốc hoặc tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty, quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý trong công ty, quyết định tiền lương và quyền lợi khác đối với người lao động, tuyển dụng lao động. Các quy định này cho thấy, người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần không chỉ đại diện cho công ty đối với xác lập và thực hiện giao dịch, mà còn đại diện cho công ty đối với việc quản trị nội bộ và quản trị tài sản.

Giống với công ty cổ phần, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng ngụ ý người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên là giám đốc hoặc tổng giám đốc với quy định tại Điều 64 rằng, giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty là người điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty, ký kết hợp đồng nhân danh công ty, tuyển dụng lao động, quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty, ban hành quy chế quản lý nội bộ của công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý trong công ty. Phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên theo các quy định này không chỉ dừng lại ở việc xác lập và thực hiện giao dịch, mà còn trong cả các lĩnh vực nội bộ công ty.

Như vậy, có thể khẳng định, các quy định chung về đại diện theo pháp luật của pháp nhân mâu thuẫn với toàn bộ các quy định riêng về đại diện theo pháp luật của các hình thức công ty. Do đó, việc hoàn thiện tổng thể các quy định về đại diện theo pháp luật của pháp nhân là rất cần thiết nhằm bảo đảm tính đồng bộ của pháp luật, đồng thời, không gây cản trở lớn cho việc áp dụng pháp luật.

Vũ Lan Phương

Công ty Cổ phần đầu tư đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà 7

Tài liệu tham khảo:

[1]. Herry G. Henn & John R. Alexander (1983), Laws of Corporations and Other Business Enterprises, Third Edition, St. Paul, Minn. West Publishing Co., p. 14.

[2]. Evgenij Smirnov and Oleg Jastrebov (2013), “Value of the Fiction Theory for Understanding the “Legal Person”” (pp. 907 - 912), World Applied Sciences Journal 27 (7), ISSN1818-4952, IDODSI Publications, p. 909.

[3]. Xem Ngô Huy Cương (2016), “Trách nhiệm hình sự pháp nhân: Nhìn từ tổng thể luật hình sự, luật hành chính, luật dân sự và luật thương mại” (tr. 9 - 18), Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 18(322), Kỳ 2 - Tháng 9/2016, tr. 16.

[4]. Ngô Huy Cương (2015), “Bình luận các quy định về pháp nhân trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)” (tr. 38 - 49), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số chuyên đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 43.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: