Chủ nhật 09/08/2026 20:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về đối tượng và phương thức kê khai tài sản, thu nhập theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả bình luận những điểm mới về đối tượng và phương thức kê khai tài sản, thu nhập theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả bình luận những điểm mới về đối tượng và phương thức kê khai tài sản, thu nhập theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Abstract: In this paper, the author makes comments of new points on subjects and methods of declaring assets, income in accordance with the Anti-Corruption Law of 2018 and puts forward recommendations for law completion on this issue.

1. Đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập

Đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập của hệ thống pháp luật các quốc gia trên thế giới là khác nhau. Có quốc gia có hệ thống đối tượng kê khai hẹp, chỉ bao gồm những người có vị trí cao, yêu cầu kê khai ngắn gọn, đơn giản; cũng có nhiều quốc gia có hệ thống đối tượng kê khai rộng và yêu cầu kê khai đầy đủ hơn[1]. Trong quá trình lấy ý kiến đối với Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, có nhiều ý kiến đề xuất khác nhau về thay đổi đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, ví dụ như: Đề nghị giới hạn phạm vi đối tượng kê khai tài sản, thu nhập là những người có chức vụ nhất định, có nguy cơ tham nhũng cao nhằm tập trung kiểm soát; đề nghị giữ nguyên phạm vi đối tượng có nghĩa vụ kê khai như Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 hoặc thu hẹp theo hướng đại biểu Hội đồng nhân dân từ cấp tỉnh trở lên mới phải kê khai; đề nghị kê khai thêm tài sản, thu nhập của những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người có nghĩa vụ kê khai; đề nghị cán bộ lãnh đạo, quản lý sau khi nghỉ hưu cũng phải thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập khi có phát sinh tài sản mới[2].

Hiện nay, Điều 34 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã quy định mở rộng đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập so với Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, cụ thể như sau:

- Bổ sung sĩ quan công an nhân dân; sĩ quan quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp vào diện phải kê khai tài sản, thu nhập[3].

- Quy định mọi cán bộ, công chức đều thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập[4].

Theo tác giả, xác định đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập phải đảm bảo hai yêu cầu: (i) Khoanh vùng nhóm đối tượng có nguy cơ tham nhũng cao xét theo tiêu chí chức vụ, quyền hạn và ngành nghề, lĩnh vực công tác. Việc yêu cầu kê khai tràn lan là không cần thiết vì sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng của hoạt động kê khai, tốn chi phí và nhân lực. (ii) Phạm vi đối tượng có nghĩa vụ kê khai và năng lực quản lý, khả năng theo dõi, kiểm soát tài sản, thu nhập của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập phải tương xứng.

Đối chiếu quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 với hai yêu cầu trên, tác giả nhận định: (i) Với quy định “cán bộ, công chức” và “sĩ quan công an nhân dân; sĩ quan quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp” đều là đối tượng có nghĩa vụ kê khai sẽ làm gia tăng số lượng người kê khai hàng năm, tăng lượng thông tin cần thu thập và xử lý, có thể gây áp lực cho cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập. (ii) Dù sẽ làm gia tăng số lượng người kê khai nhưng việc mở rộng đó là cần thiết. Bởi lẽ, Việt Nam là một quốc gia nặng về công vụ hành chính, chế độ lương và đãi ngộ đối với cán bộ, công chức khá thấp so với nhu cầu cuộc sống nên tình trạng tham nhũng hiện đang xảy ra nhiều ở bộ phận công chức có chức vụ thấp hoặc không có chức vụ lãnh đạo, quản lý. Do vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 bổ sung sĩ quan công an nhân dân; sĩ quan quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp và mọi cán bộ, công chức vào diện phải kê khai tài sản, thu nhập là hợp lý với bối cảnh nền hành chính tại Việt Nam. (iii) Để việc mở rộng đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập không bị coi là vượt quá khả năng của các cơ quan có trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu nhập thì yêu cầu điều chỉnh về phương thức kê khai và mức độ kiểm soát tài sản, thu nhập đối với từng nhóm đối tượng là cần thiết, vì trong số các đối tượng có nghĩa vụ kê khai, sẽ có nhóm “có nguy cơ tham nhũng cao” và nhóm “ít có nguy cơ tham nhũng”.

2. Phương thức kê khai tài sản, thu nhập

Điều 46 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định tất cả các đối tượng có nghĩa vụ kê khai đều phải thực hiện chung một phương thức là kê khai hàng năm dẫn đến thực trạng số lượng các bản kê khai ngày càng nhiều, gây khó khăn trong xử lý khối lượng lớn giấy tờ, dữ liệu. Do đó, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đổi mới căn bản việc kê khai tài sản, thu nhập theo 04 phương thức tương ứng với chức vụ, vị trí công tác của các nhóm đối tượng:

- Kê khai lần đầu: Áp dụng đối với người đang là cán bộ, công chức; sĩ quan công an nhân dân; sĩ quan quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp tại thời điểm Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có hiệu lực.

- Kê khai hàng năm: Áp dụng đối với người giữ chức vụ từ Giám đốc Sở và tương đương trở lên; người làm công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác theo quy định của Chính phủ. Như vậy, chỉ những người công tác tại vị trí có nguy cơ tham nhũng cao là những đối tượng phải thực hiện kê khai tài sản, thu nhập hàng năm.

- Kê khai bổ sung: Áp dụng đối với người có nghĩa vụ kê khai có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên, có nghĩa là các đối tượng không thuộc diện phải kê khai hàng năm thì chỉ kê khai khi có biến động lớn với tài sản, thu nhập.

- Kê khai phục vụ công tác cán bộ: Được thực hiện đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân; người dự kiến bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ khác.

3. Bình luận và kiến nghị

Các quốc gia lựa chọn phương thức kê khai tài sản, thu nhập dựa trên năng lực quản lý, mục đích quản lý và đặc thù nền hành chính. Có thể kể đến các phương thức kê khai tài sản, thu nhập như sau:

(i) Kê khai ở thời điểm đầu và cuối nhiệm kỳ kết hợp với kê khai hàng năm: Được áp dụng ở các quốc gia như Achentina, Slovenia và Mỹ, đối với tất cả các công chức. Ba Lan cũng là nước áp dụng phương thức kê khai này nhưng phạm vi đối tượng áp dụng hẹp hơn, chỉ áp dụng đối với người làm trong lĩnh vực lập pháp.

(ii) Kê khai mới cho từng năm hoặc cập nhật bổ sung hàng năm: Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (2012) thì đây là phương thức được ưa chuộng hơn so với các phương thức còn lại. Một số nước như Cộng hòa Séc và Ailen quy định công chức phải kê khai hàng năm[5]. Đây cũng là phương thức kê khai tài sản, thu nhập được áp dụng tại Việt Nam theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 trong hơn 10 năm qua.

Hai phương thức kê khai nói trên có ưu điểm là cho phép Nhà nước thu thập được khối lượng thông tin khổng lồ và rất chi tiết về tài sản, thu nhập của công chức, làm căn cứ xác định có hay không tồn tại việc làm giàu bất chính. Tuy nhiên, khối lượng thông tin thu thập được từ quá trình thực hiện cơ chế kê khai hàng năm cũng là thách thức lớn đối với cơ quan quản lý, đòi hỏi các cơ quan này phải có một lực lượng nhân sự hùng hậu và công nghệ hiện đại để xử lý và xác minh thông tin do các đối tượng kê khai. Nếu quốc gia nào áp dụng phương thức kê khai hàng năm nhưng không đủ tiềm lực về con người và vật chất, kỹ thuật thì việc kê khai chỉ mang tính hình thức, thủ tục. Ở Achentina, để đạt được hiệu quả trong kiểm soát tài sản, họ áp dụng phương thức kê khai ở thời điểm đầu và cuối nhiệm kỳ kết hợp với kê khai hàng năm và giải pháp thực hiện là áp dụng hệ thống kê khai trực tuyến, tạo điều kiện để các cơ quan quản lý tiếp cận được tới 95% các tờ khai tài sản được lưu trữ ở các cơ quan chủ quản của đối tượng kê khai, bảo đảm khả năng tìm kiếm, phân tích dữ liệu hợp lý để xác minh thông tin được kê khai theo mục tiêu cho khoảng 33.000 tờ khai mỗi năm[6]. Pháp luật về kê khai tài sản của Indonesia cho phép người kê khai được chọn cách nộp tờ khai bổ sung, thay vì khai lại toàn bộ mỗi lần đến hạn kê khai để giải quyết số lượng và lượng thông tin khổng lồ của các bản kê khai tài sản.

(iii) Kê khai ở thời điểm đầu và cuối nhiệm kỳ kết hợp với kê khai bổ sung khi có phát sinh thay đổi đáng kể trong giá trị thu nhập, tài sản (được áp dụng ở Đức, Pháp, Croatia). Pháp luật về cơ chế kiểm soát tài sản của Đức quy định mỗi công chức phải kê khai ở thời điểm đầu của nhiệm kỳ 04 năm, nhưng sau đó, công chức phải báo cáo nếu có thu nhập bổ sung, thù lao hay quà biếu trong thời gian này. Pháp luật của Pháp quy định nếu các đối tượng rơi vào trường hợp kê khai đột xuất thì sẽ chuyển trách nhiệm tuân thủ cho người kê khai và người kê khai phải có nghĩa vụ tự biết rằng mình thuộc đối tượng phải kê khai đột xuất[7].

Đối chiếu điểm mới về “phương thức kê khai tài sản, thu nhập” quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 với các phương thức kê khai tài sản, thu nhập được áp dụng tại một số quốc gia đã được phân tích phía trên, tác giả nhận định:

Thứ nhất, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có sự thay đổi căn bản về phương thức kê khai tài sản, thu nhập là hợp lý và cần thiết, xuất phát từ những hạn chế trong công tác quản lý, kiểm soát tài sản, thu nhập khi thực hiện theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, đồng thời có tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới.

Thứ hai, xét về mặt quy định, phương thức kê khai tài sản, thu nhập của Việt Nam không thực sự giống các phương thức mà các nước trên thế giới áp dụng. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, mọi đối tượng có nghĩa vụ kê khai lần đầu để Nhà nước thu thập cơ sở dữ liệu kiểm soát tài sản, thu nhập, sau đó họ không cần phải kê khai lại vào các năm tiếp theo, trừ khi thuộc một trong ba trường hợp:

- Là người giữ chức vụ từ Giám đốc Sở và tương đương trở lên hoặc có làm công tác liên quan đến tổ chức cán bộ, quản lý tài chính hoặc trường hợp khác theo quy định của Chính phủ (phải kê khai hàng năm);

- Có biến động tài sản trong năm từ 300 triệu đồng trở lên (phải kê khai bổ sung);

- Tham gia ứng cử vào một số vị trí hoặc được dự kiến bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ khác (kê khai phục vụ công tác quản lý).

Nhưng xét về bản chất, phương thức kê khai tài sản, thu nhập tại Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 là sự kết hợp của phương thức (i) và (iii). Trong đó, kê khai hàng năm của phương thức (i) không được áp dụng triệt để mà chỉ áp dụng với một số đối tượng có chức vụ; kê khai bổ sung của phương thức (iii) được áp dụng khi có biến động lớn về tài sản và kê khai đầu - cuối nhiệm kỳ được Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 ghi nhận “kê khai phục vụ công tác quản lý”, áp dụng đối với các trường hợp ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân; người dự kiến bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ khác, ví dụ như: Khi được bổ nhiệm giữ chức vụ mới, anh A phải kê khai tài sản, thu nhập, đây có thể được xem là kê khai đầu nhiệm kỳ. Hết nhiệm kỳ, anh A được bổ nhiệm lại hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ khác, anh A tiếp tục phải thực hiện kê khai, đây có thể được xem là kê khai khi kết thúc nhiệm kỳ đối với vị trí công tác cũ và là kê khai đầu nhiệm kỳ đối với vị trí công tác mới. Tuy nhiên, cũng với quy định và cách hiểu như trên, khi anh A rời vị trí công tác và không tiếp tục đảm nhận các vị trí có chức vụ khác, hoặc trước khi nghỉ hưu, anh A không có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập (nếu anh A không thuộc vào những trường hợp phải kê khai hàng năm hoặc kê khai bổ sung). Từ đó cho thấy, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã bỏ sót trường hợp kê khai khi chấm dứt công tác tại các vị trí trong cơ quan nhà nước để kiểm soát tài sản, thu nhập có được trong suốt quá trình công tác.

Thứ ba, phương thức kê khai bổ sung áp dụng khi có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên tại khoản 2 Điều 36 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có một số hạn chế:

- Dễ xảy ra tình trạng các đối tượng không tự nguyện thực hiện kê khai bổ sung;

- Đối với những tài sản, thu nhập không phải là tiền thì việc định giá tài sản, thu nhập có giá trị trên hay dưới 300 triệu đồng là rất phức tạp, đặc biệt là những tài sản có giá trị thay đổi nhanh theo biến động thị trường. Do vậy, khi ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, cơ quan nhà nước cần có quy định rõ về phương án thẩm định giá trị tài sản; tổ chức, cá nhân nào có nghĩa vụ định giá; trường hợp không thống nhất về giá trị tài sản thì giải quyết như thế nào.

- Tạo “khe hở” cho một số đối tượng không thuộc diện kê khai hàng năm che giấu tài sản, thu nhập bất chính khi họ có hành vi tham nhũng nhưng tài sản tham nhũng không lớn, không có biến động đột xuất, ví dụ như nhận hối lộ khi thực hiện thủ tục hành chính vì nếu không có biến động tài sản có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên trong năm thì họ không có nghĩa vụ kê khai. Do vậy, cần có quy định những đối tượng không thuộc diện kê khai tài sản, thu nhập hàng năm thì ngoài kê khai bổ sung khi có biến động, họ phải kê khai định kỳ từ 03 - 05 năm/lần để kiểm soát tổng số tài sản, thu nhập biến động trong các năm.

Qua phân tích trên có thể thấy rằng, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã có những quy định mới nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác kê khai tài sản, thu nhập. Tuy vậy, các quy định này cần được tiếp tục nghiên cứu và hướng dẫn chi tiết để công tác kê khai tài sản, thu nhập thực sự trở thành một biện pháp phòng ngừa tham nhũng hiệu quả.

ThS. Lữ Thị Ngọc Diệp

Đại học Lao động - Xã hội cơ sở II







[1]. Ngân hàng Thế giới (WB) và Văn phòng Liên Hợp Quốc về ma túy và tội phạm (UNODC) (2012), “Việc công, lợi ích tư - Bảo đảm trách nhiệm giải trình thông qua công khai tài sản, thu nhập”, tr. 34.

[2]. Văn phòng Quốc hội, (2018), Báo cáo tổng hợp ý kiến của các Đoàn đại biểu Quốc hội về Dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi).

[3]. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 và Điều 7 Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập thì chỉ có một bộ phận sĩ quan có chức vụ mới có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập.

[4]. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 và Điều 7 Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập thì chỉ quy định “một số cán bộ, công chức” có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập.

[5]. Demmke, C., M. Bovens, T. Henökl, K. van Lierop, T. Moilanen, G. Pikker, and A. Salminen (2007), “Regulating Conflicts of Interest for Holders of Public Office in the European Union”, European Institute of Public Administration, tr. 70, truy cập tại http://www.eupan.eu/en/documents/show/&tid=172 ngày 13/5/2019.

[6]. Ngân hàng Thế giới (WB) và Văn phòng Liên Hợp Quốc về ma túy và tội phạm (UNODC), tlđd, tr. 39.

[7]. Ngân hàng Thế giới (WB) và Văn phòng Liên Hợp Quốc về ma túy và tội phạm (UNODC), tlđd, tr. 46.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: