Thứ sáu 11/09/2026 15:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về hoạt động đối chất trong điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi

Bài viết phân tích quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động đối chất đối với người dưới 18 tuổi và thực trạng thi hành, qua đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới.

1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động đối chất đối với người dưới 18 tuổi

Đối chất là biện pháp điều tra do những người có thẩm quyền theo luật định tiến hành bằng cách hỏi hai người cùng một lúc về cùng một vấn đề nhằm giải quyết mâu thuẫn trong lời khai trước đây giữa họ. Hoạt động đối chất phải là hỏi và đáp trực tiếp và trực diện, mặc dù hoạt động đối đáp diễn biến theo sự điều hành chủ trì của điều tra viên chủ động sắp xếp để giải quyết từng tình tiết mâu thuẫn[1].

Đối chất là một biện pháp điều tra được quy định tại Điều 189 và Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Chủ thể tiến hành biện pháp này là điều tra viên, kiểm sát viên, Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Điều kiện để áp dụng biện pháp đối chất được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “Trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì điều tra viên tiến hành đối chất”[2]. Việc tiến hành đối chất phải dựa trên đánh giá lời khai có sự mâu thuẫn (điều kiện cần) và đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn (điều kiện đủ) thì mới tiến hành đối chất.

Hoạt động đối chất đối với người dưới 18 tuổi được thực hiện theo thủ tục chung về đối chất quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đồng thời, do người dưới 18 tuổi là chủ thể đặc biệt nên còn phải áp dụng các quy định tại Chương XXVIII Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể là tại Điều 421.

Đối chất đối với người dưới 18 tuổi phải bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi; giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi, quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, nhà trường, đoàn thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt. Tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người dưới 18 tuổi, quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi. Bảo đảm các nguyên tắc xử lý của Bộ luật Hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi[3].

Người tiến hành biện pháp đối chất đối với người dưới 18 tuổi, ngoài những tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, bản lĩnh và trình độ chuyên môn do pháp luật quy định còn phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi[4]. Từ đó, sử dụng các phương pháp, thủ thuật tác động tâm lý hiệu quả nhằm giúp người dưới 18 tuổi vượt qua rào cản tâm lý, mạnh dạn chia sẻ, cởi mở cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động đối chất.

Ngoài điều kiện có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn thì khoản 6 Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn quy định: “Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ tiến hành đối chất giữa bị hại là người dưới 18 tuổi với bị can, bị cáo để làm sáng tỏ tình tiết của vụ án trong trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án”. Cơ quan tiến hành tố tụng phải hạn chế đến mức thấp nhất việc tiến hành đối chất giữa bị hại là người dưới 18 tuổi, đặc biệt là đối chất giữa bị hại dưới 18 tuổi với bị can, bị cáo.

Về trình tự, thủ tục đối chất đối với người dưới 18 tuổi phải tuân thủ theo những quy định chung về đối chất tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, do đặc điểm chủ thể được đối chất là người dưới 18 tuổi nên cần chú ý xây dựng kế hoạch đối chất; các câu hỏi phải cụ thể, ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với lứa tuổi và nhận thức của người dưới 18 tuổi, dự kiến các câu trả lời và hướng xử lý đối với từng câu trả lời; dự kiến cách giải quyết đối với trường hợp người dưới 18 tuổi từ chối đối chất, thay đổi lời khai, hoảng loạn hay mất tự tin, xấu hổ... Điều tra viên cũng cần chuẩn bị đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, trang thiết bị (máy ghi âm, ghi hình) bố trí phù hợp để có sự chủ động trong quá trình tiến hành đối chất[5].

Điều tra viên phải thông báo trước thời gian, địa điểm đối chất cho người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Quá trình đối chất đối với người bị buộc tội phải có mặt người bào chữa hoặc người đại diện của họ. Đối với bị hại, người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố phải có người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tham dự.

Trường hợp cần thiết hoặc khi người dưới 18 tuổi có yêu cầu, có thể mời cán bộ chuyên trách, cán bộ trợ giúp, tư vấn về pháp lý, y tế cùng tham gia để tạo tâm lý yên tâm, thoải mái. Trường hợp đại diện gia đình của người bị tạm giữ, bị can không thể có mặt, để bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng được tiến hành kịp thời theo quy định thì việc đối chất người bị tạm giữ, hỏi cung bị can vẫn được thực hiện nhưng cơ quan tiến hành tố tụng phải mời cán bộ thuộc một trong các cơ quan lao động - thương binh và xã hội, hội phụ nữ, đoàn thanh niên hoặc luật sư tham gia đối chất. Họ có thể được bố trí ngồi cạnh người dưới 18 tuổi để tạo tâm lý yên tâm, thoải mái cho người dưới 18 tuổi.

Khi tiến hành đối chất, người dưới 18 tuổi phải bảo đảm ổn định về sức khỏe, có cảm hứng giao tiếp. Điều tra viên phải có những kỹ năng thân thiện như: Thái độ tích cực khi tiếp xúc, giao tiếp thể hiện từ lời nói, cử chỉ, trang phục, tư thế, biểu cảm… Điều tra viên phải tôn trọng, cân nhắc, xem xét các ý kiến, quan điểm, nguyện vọng của người dưới 18 tuổi tham gia đối chất và phải hiểu tâm lý giới tính, nhu cầu; bình tĩnh, có thái độ cởi mở, cảm thông và chia sẻ; tránh căn vặn quy kết lỗi; tuyệt đối không nôn nóng, không lặp lại câu hỏi, sử dụng câu hỏi mở ngắn gọn, ngôn ngữ phù hợp[6], bảo đảm cho người dưới 18 tuổi có thể hiểu và trả lời đúng câu hỏi. Việc một người dưới 18 tuổi “đứng trước” việc đối đáp giải quyết mâu thuẫn sẽ gây tâm lý căng thẳng, sợ sệt ảnh hưởng đến hiệu quả đối chất, do đó, buổi đối chất thân thiện là tiêu chí mà người tiến hành tố tụng phải thực hiện thật tốt.

Trong quá trình đối chất, xét thấy cần thiết, điều tra viên cũng có thể cho người đại diện, người bào chữa hỏi người dưới 18 tuổi, những câu hỏi mang tính chất động viên, thuyết phục, giáo dục. Người đại diện, người bào chữa không được hỏi những câu hỏi mang tính chất gợi ý, định hướng, câu hỏi mang tính chất khẳng định, phủ định liên quan đến vụ án, nếu phát hiện có dấu hiệu “thông cung, mớm cung” phải lập tức yêu cầu dừng ngay việc hỏi và lập biên bản về việc này. Sau mỗi lời khai giải quyết mâu thuẫn người bào chữa, người đại diện có thể yêu cầu được hỏi người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi nếu được điều tra viên, kiểm sát viên đồng ý.

Thời gian đối chất đối với người dưới 18 tuổi không quá hai lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp[7]. Thời gian đối chất cần được tiên lượng dựa trên độ tuổi, tình trạng tâm lý, sức khỏe và yêu cầu điều tra. Buổi đối chất phải được tạm dừng ngay khi các em có biểu hiện mệt mỏi, ảnh hưởng đến khả năng khai báo chính xác, đầy đủ.

Việc đối chất có thể thực hiện tại nơi tiến hành điều tra, tại trụ sở nơi làm việc của điều tra viên, kiểm sát viên hoặc phòng hỏi cung của nhà tạm giữ, trại tạm giam. Tuy nhiên, cần lưu ý nguyên tắc bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện đối với người dưới 18 tuổi. Vì vậy, điều tra viên có thể lựa chọn nơi có không gian yên tĩnh, thoáng mát và thuận tiện cho việc bảo đảm bí mật và danh dự, nhân phẩm của người dưới 18 tuổi nhưng cần được bố trí theo cách thức phù hợp để làm giảm bớt sự căng thẳng. Việc đối chất đối với bị hại, người làm chứng tiến hành đối chất với người bị buộc tội không nên tiến hành tại nơi ở của bị hại, bởi sẽ gây tác động xấu và ảnh hưởng đến nơi sống của người dưới 18 tuổi.

2. Thực trạng hoạt động đối chất trong điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi

Đối chất là một biện pháp khó và phức tạp, đòi hỏi điều tra viên phải có năng lực thì mới tiến hành có hiệu quả, đặc biệt là tiến hành đối chất đối với những người tham gia tố tụng dưới 18 tuổi. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có những quy định cơ bản về hoạt động đối chất đối với người dưới 18 tuổi, do đó, hoạt động đối chất đã có nhiều hiệu quả tích cực. Trong đó, người dưới 18 tuổi đã mạnh dạn tham gia hoạt động đối chất khi có yêu cầu, góp phần giải quyết hiệu quả các vụ án hình sự. Tuy nhiên, tính hiệu quả của biện pháp đối chất chưa thực sự cao bởi một số vướng mắc nhất định khi áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về đối chất đối với người dưới 18 tuổi, cụ thể như sau:

Thứ nhất, vướng mắc về căn cứ thực hiện đối chất đối với người dưới 18 tuổi: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định cụ thể căn cứ tiến hành đối chất đối với người dưới 18 tuổi, do đó vẫn dựa vào Điều 189 và chỉ quy định tiến hành đối chất trong “…trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án”. Quy định này được xem là một căn cứ đối chất hay là một nhận định tình huống mang tính chủ quan, dẫn đến thực tiễn áp dụng không thống nhất. Một số trường hợp tiến hành đối chất không đúng, gây tổn thương nặng nề tâm lý của người dưới 18 tuổi nhưng không đạt được kết quả hoặc có thể sử dụng biện pháp điều tra khác mà không cần thiết tiến hành đối chất. Điều này chưa bảo đảm yêu cầu của pháp luật về nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ em cũng như nguyên tắc bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện đối với người dưới 18 tuổi.

Thứ hai, vướng mắc về năng lực, nhận thức của người dưới 18 tuổi khi tham gia đối chất: Đối chất là biện pháp điều tra có tính tương tác về tâm lý, đòi hỏi khả năng giao tiếp và tranh luận - bác bỏ hoặc đồng ý - khuất phục. Trong khi đó, người dưới 18 tuổi phần lớn chưa có nhận thức đầy đủ để hiểu và trả lời câu hỏi của điều tra viên. Mặt khác, họ dễ bị tác động từ gia đình, sợ hãi khi tiếp xúc với đối tượng thực hiện hành vi xâm hại, phản ứng hoảng loạn khi tham gia đối chất.

Thứ ba, vướng mắc về điều kiện cơ sở vật chất nơi tiến hành đối chất: Việc đối chất đối với người dưới 18 tuổi có thể diễn ra tại trụ sở nơi làm việc của điều tra viên, kiểm sát viên hoặc phòng hỏi cung của nhà tạm giữ, trại tạm giam, với không gian nhỏ hẹp, việc bố trí vị trí chưa bảo đảm khoảng cách cần thiết. Vì vậy, về tiêu chuẩn phòng làm việc bảo đảm thân thiện theo quy định của pháp luật chưa thực sự được áp dụng trên thực tiễn. Đây cũng là một trong những hạn chế trong hoạt động đối chất nói chung và đối chất đối với người dưới 18 tuổi nói riêng.

Bên cạnh đó, năng lực, kinh nghiệm cũng như khả năng, “hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi” của người tiến hành tố tụng nói chung và nhất là điều tra viên, kiểm sát viên trực tiếp tiến hành đối chất nói riêng đóng một vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, như thế nào là hiểu biết “cần thiết” thì pháp luật tố tụng hình sự hiện hành chưa quy định tiêu chí cụ thể.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đối chất trong điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi

Thứ nhất, bổ sung quy định về đối chất đối với người dưới 18 tuổi: Khoản 6 Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “…trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án” còn mang tính chất tùy nghi, chưa cụ thể trường hợp nào được coi là “không thể giải quyết vụ án” nên chưa bảo đảm hiệu quả pháp lý trong thực tiễn, do đó, cần có hướng dẫn chi tiết và quy định những trường hợp cụ thể là điều kiện bắt buộc mới có thể tiến hành đối chất giữa bị hại là người dưới 18 tuổi với người bị buộc tội. Vì vậy, có thể quy định theo hướng như sau: Chỉ tiến hành đối chất giữa bị hại là người dưới 18 tuổi với người bị buộc tội trong những trường hợp: Cần làm rõ một tội phạm mới hoặc để phát hiện đồng phạm; cần làm rõ tình tiết quan trọng mà nếu không đối chất có thể làm thay đổi bản chất vụ án; cần làm rõ tình tiết có ý nghĩa định tội hoặc định khung hình phạt.

Thứ hai, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp đối với người dưới 18 tuổi khi tham gia đối chất dưới mọi tư cách tố tụng: Hoạt động đối chất đối với người dưới 18 tuổi thực hiện theo thủ tục tố tụng đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi, tuy nhiên, tại khoản 6 Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Chỉ đối chất giữa bị hại là người dưới 18 tuổi với bị can, bị cáo trong trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án”, như vậy, đối với người làm chứng, người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, việc đối chất với bị can, bị cáo hoặc bị hại, người làm chứng thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 lại không quy định. Do đó, tại khoản 6 Điều 421 có thể quy định theo hướng: “Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ tiến hành đối chất đối với người dưới 18 tuổi để làm sáng tỏ tình tiết của vụ án trong trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án”. Như vậy, sẽ bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi dù tham gia với bất kỳ tư cách tố tụng nào.

Thứ ba, áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang bị phòng đối chất bảo đảm các điều kiện cần thiết để người tham gia đối chất dưới 18 tuổi thoải mái, yên tâm trả lời các câu hỏi mà điều tra viên đưa ra, bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, góp phần tạo nên thành công của buổi đối chất.

Thứ tư, nâng cao nhận thức của điều tra viên khi tiến hành đối chất đối với người dưới 18 tuổi, cần nghiên cứu để nắm rõ những nội dung cơ bản của hoạt động đối chất có người dưới 18 tuổi tham gia được quy định trong các văn bản pháp quy, tránh rơi vào tình trạng tiến hành hoạt động đối chất khi chưa nắm vững những quy định của pháp luật về hoạt động này. Đồng thời, cần khắc phục tình trạng điều tra viên ngại khó khi tiến hành hoạt động đối chất, xem đối chất là biện pháp cuối cùng để khép lại hồ sơ vụ án.

Thứ năm, nâng cao chất lượng, trình độ của người tiến hành đối chất, người bảo vệ quyền và lợi ích cho người dưới 18 tuổi tham gia đối chất. Điều tra viên, kiểm sát viên phải thường xuyên trau dồi kinh nghiệm, kiến thức nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật và đặc biệt, cần nghiên cứu về tâm lý học để nắm rõ đặc điểm tâm lý của người dưới 18 tuổi trong quá trình đối chất.

Thứ sáu, thực hiện tốt công tác phối hợp giữa người tiến hành đối chất với các cơ quan, tổ chức có liên quan như Viện kiểm sát, Trại tạm giam, hội phụ nữ, đoàn thanh niên… bảo đảm hoạt động đối chất tiến hành đúng quy định và đạt được hiệu quả, bảo vệ tốt nhất quyền của người dưới 18 tuổi trong quá trình đối chất.

Lê Thị Huyền Trân

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Nguyễn Ngọc Chí (2013), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 215.

[2]. Khoản 1 Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3]. Điều 414 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4]. Điều 415 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5]. Khổng Minh Tuấn, Ngô Sỹ Hiền, Phạm Xuân Thủy (2007), Kỹ thuật điều tra hình sự, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

[6]. Trương Công Am (2001), Tác động tâm lý trong hoạt động điều tra hình sự, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

[7]. Khoản 4 Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 397), tháng 1/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: