Thứ sáu 05/12/2025 08:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về hợp đồng nhượng quyền thương mại vô hiệu theo pháp luật Việt Nam

Bàn về hợp đồng nhượng quyền thương mại vô hiệu theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhượng quyền thương mại được điều chỉnh bởi nhiều quy định pháp luật như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Cạnh tranh và nhiều quy định khác có liên quan. Tuy nhiên, quy định về hậu quả pháp lý của hợp đồng nhượng quyền thương mại vô hiệu phát sinh những bất cập cần sửa đổi, bổ sung để bảo đảm tính khả thi của quy định này.

Abstract: Legal issues on franchise contracts are governed by many legal regulations such as the Civil Code, Commercial Law, Intellectual Property Law, Competition Law and many other related regulations. However, the provisions on the legal consequences of an invalid franchise contract give rise to inadequacies that need to be amended and supplemented to ensure the feasibility of this provision.

1. Đặt vấn đề

Theo Điều 285 Luật Thương mại năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2019 (sau đây gọi tắt là Luật Thương mại), hợp đồng nhượng quyền thương mại (NQTM) phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Các điều kiện quy định về hoạt động NQTM mại được quy định trong Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại (Nghị định số 35/2006/NĐ-CP) và Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ sửa đổi một số nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương (Nghị định số 08/2018/NĐ-CP).

Trường hợp các bên tham gia giao dịch dân sự về NQTM không bảo đảm các điều kiện có hiệu lực về giao dịch dân sự theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 sẽ dẫn đến hợp đồng NQTM vô hiệu. Khi hợp đồng NQTM vô hiệu, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử hiện nay đối với các tranh chấp dân sự liên quan đến yêu cầu tuyên bố hợp đồng NQTM vô hiệu chưa giải quyết toàn diện về hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo.

2. Quy định pháp luật về các điều kiện của hoạt động nhượng quyền thương mại

Hợp đồng dân sự có hiệu lực khi bảo đảm được các điều kiện về chủ thể giao kết hợp đồng, sự tự nguyện, mục đích, nội dung hợp đồng không trái quy định pháp luật, đạo đức xã hội và hình thức hợp đồng phù hợp với các quy định pháp luật. Theo pháp luật về NQTM, hợp đồng NQTM phải đáp ứng những điều kiện sau:

- Điều kiện hình thức hợp đồng: Hợp đồng NQTM phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Mặc dù, nguyên tắc cơ bản nhất của hợp đồng là tự do, ý chí, nhưng để bảo đảm về an toàn pháp lý trong quan hệ hợp đồng, tránh phát sinh tranh chấp trong tương lai và theo tính chất của đối tượng hợp đồng mà pháp luật dân sự có những yêu cầu khác nhau về hình thức hợp đồng. Đối với hợp đồng NQTM, hợp đồng có nội dung phức tạp, đối tượng thực hiện hợp đồng đồng có thể là tài sản vô hình hoặc tài hữu hình, thời gian thực hiện hợp đồng tương đối dài, thường xảy ra tranh chấp và khó giải quyết nếu chỉ được giao kết bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể nên phải được lập thành văn bản[1]. Trường hợp các bên không bảo đảm về điều kiện hình thức, hợp đồng dân sự có thể bị vô hiệu theo khoản 2 Điều 117, Điều 129 và khoản 1 Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Điều kiện chủ thể tham gia giao dịch: Mặc dù, Luật Thương mại không quy định về chủ thể trong hoạt động NQTM nhưng Nghị định số 35/2006/NĐ-CP hướng dẫn về hoạt động nhượng quyền đã định nghĩa: Bên nhượng quyền là thương nhân cấp quyền thương mại, bao gồm cả bên nhượng quyền thứ cấp trong mối quan hệ với bên nhận quyền thứ cấp (khoản 1 Điều 3); bên nhận quyền là thương nhân được nhận quyền thương mại, bao gồm cả bên nhận quyền thứ cấp trong mối quan hệ với bên nhượng quyền thứ cấp (khoản 2 Điều 3). Như vậy, chủ thể tham gia giao dịch trong hợp đồng NQTM phải là thương nhân, hay có thể hiểu là những tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại).

- Điều kiện hoạt động NQTM: Bên NQTM chỉ được phép nhượng quyền khi hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã hoạt động ít nhất một năm (theo Điều 5 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP và Điều 8 Nghị định số 08/2018/NĐ-CP).

Ngoài ra, hợp đồng NQTM còn có thể bao gồm những điều khoản về sự chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ, sự hỗ trợ của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong suốt quá trình thực hiện và nghĩa vụ tài chính, nghĩa vụ đối ứng khác giữa bên nhận quyền và bên nhượng quyền nên tùy thuộc vào nội dung hợp đồng mà sẽ có những tình huống pháp lý khác nhau dẫn đến hợp đồng dân sự vô hiệu.

3. Thực trạng hợp đồng nhượng quyền thương mại vô hiệu và hậu quả pháp lý

3.1. Một số trường hợp hợp đồng nhượng quyền thương mại vô hiệu

Thứ nhất, hợp đồng NQTM vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức, thực tiễn tranh chấp về các hợp đồng NQTM, các bên tham gia hoạt động NQTM có thể sử dụng các hình thức pháp lý tương đương văn bản theo khoản 5 Điều 15 Luật Thương mại mà không dẫn đến vô hiệu về hình thức hợp đồng. Tuy nhiên, hiện nay, hoạt động NQTM điện tử ngày càng phổ biến, nếu không có quy định cụ thể về xác thực điện tử sẽ dẫn đến phát sinh tranh chấp trong tương lai về cách hiểu “hình thức tương đương với văn bản là thông điệp dữ liệu”.

Thứ hai, hợp đồng NQTM vô hiệu do vi phạm điều kiện về chủ thể là vi phạm tương đối phổ biến trong giao dịch dân sự. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, mô hình nhượng quyền xe đẩy cà phê ngày càng phổ biến[2]. Vì cá nhân muốn tham gia hợp đồng NQTM thì phải đăng ký kinh doanh để trở thành hộ kinh doanh. Tuy nhiên, theo Điều 86 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh là nơi hộ kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh. Vì vậy, các xe đẩy cà phê khó có thể bảo đảm điều kiện về chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng NQTM. Thực tiễn giải quyết tranh chấp cũng đã có nhiều trường hợp các bên tham gia giao kết hợp đồng nhưng không bảo đảm điều kiện về chủ thể.

Thứ ba, về điều kiện hoạt động NQTM, bên NQTM chỉ được phép nhượng quyền khi hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã hoạt động ít nhất một năm. Trường hợp không bảo đảm điều kiện trên là một trong những căn cứ dẫn đến hợp đồng NQTM vô hiệu tuyệt đối do vi phạm điều cấm của luật.

3.2. Hậu quả pháp lý của hợp đồng nhượng quyền thương mại vô hiệu

Hợp đồng NQTM có đối tượng hợp đồng là quyền thương mại. Theo Hiệp hội Nhượng quyền thương mại Nhật Bản, quyền thương mại là quyền sử dụng những dấu hiệu đại diện của bên nhượng quyền, bao gồm logo, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại cũng như bí quyết kinh doanh của bên nhượng quyền để thực hiện hoạt động kinh doanh theo mô hình của bên nhượng quyền. Theo Nghị quyết số 4087/88 của Cộng đồng châu Âu (EC Commission Regulation No. 4087/88), quyền thương mại là tập hợp các quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết kinh doanh hoặc sáng chế được khai thác để bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ đến người sử dụng cuối cùng. Theo pháp luật Việt Nam, quyền thương mại là một nhóm quyền bao gồm quyền sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh… thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát của bên nhượng quyền. Hiện nay, hậu quả pháp lý của hợp đồng NQTM vô hiệu cũng đặt ra nhiều vấn đề bất cập, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về vấn đề “khôi phục lại tình trạng ban đầu”, trong trường hợp đối tượng hợp đồng là tài sản, nhưng tài sản không còn giữa được tình trạng ban đầu hoặc là công việc đã được thực hiện thì không thể áp dụng được việc “khôi phục lại tình trạng ban đầu”.

Trường hợp tài sản đã qua sử dụng: Đối với hợp đồng NQTM, bên nhượng quyền để bảo đảm việc thống nhất, đồng bộ trong toàn bộ hệ thống, bên nhượng quyền có thể buộc bên nhận quyền phải sử dụng tài sản của bên nhận quyền như bàn ghế, máy móc, vật dụng… Trường hợp này, sau khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu, bên nhận quyền hoàn trả lại những tài sản trên đã qua sử dụng hay hoàn trả một khoản tiền tương đương sau khi khấu hao giá trị tài sản?

Trường hợp thực hiện công việc: Thực hiện hợp đồng NQTM, có hỗ trợ bên nhận quyền bằng cách đào tạo, hướng dẫn hoặc xây dựng quy trình cho bên nhận quyền. Đối tượng thực hiện hợp đồng liên quan đến giá trị nhân thân của các bên chủ thể nên việc hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận rất khó thực hiện. Thực tiễn, các bên trong hợp đồng NQTM có thể ký những hợp đồng khác như hợp đồng tư vấn, hợp đồng quản lý. Tuy nhiên, khi hợp đồng NQTM vô hiệu có dẫn đến các hợp đồng còn lại vô hiệu không? Nếu các hợp đồng tư vấn, hợp đồng quản lý là có tính độc lập về hiệu lực pháp lý đối với hợp đồng NQTM thì các bên có tiếp tục thực hiện hợp đồng không hay là các hợp đồng đó cũng sẽ vô hiệu do đối tượng hợp đồng không còn tồn tại nữa.

Thứ hai, xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu liên quan đối tượng hợp đồng NQTM là quyền sở hữu trí tuệ, bên cạnh nhãn hiệu, các đối tượng sở hữu công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, bí mật kinh doanh có thể được nhượng quyền trong hoạt động NQTM. Tuy nhiên, đối với quyền thương mại là quyền sở hữu trí tuệ mà các bên có đăng ký bảo hộ sẽ đương nhiên được bảo hộ. Còn các quyền thương mại hoặc các yếu tố khác không được bảo hộ theo pháp luật sở hữu trí tuệ, khi hợp đồng NQTM bị vô hiệu, bên nhận quyền có bắt buộc chấm dứt sử dụng hay vẫn được tiếp tục sử dụng những quyền thương mại. Như vậy, ý nghĩa của việc xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu sẽ không được bảo đảm làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên nhượng quyền.

Thứ ba, xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu liên quan bí mật kinh doanh, khoản 1 Điều 284 Luật Thương mại quy định bí quyết kinh doanh là một trong những đối tượng của hợp đồng NQTM. Luật Thương mại không định nghĩa như thế nào là bí quyết kinh doanh. Khoản 23 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022) quy định, bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. Khoản 1 Điều 2 Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 quy định, bí quyết là thông tin được tích lũy, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh có ý nghĩa quyết định chất lượng, khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ; bí quyết bao gồm bí quyết kỹ thuật, bí quyết công nghệ. Như vậy, nội hàm khái niệm “bí quyết kinh doanh” có thể được hiểu như “bí mật kinh doanh” theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022) và “bí quyết” theo Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 không? Việc không xác định chính xác các bí quyết kinh doanh có thể dẫn đến các phát sinh tranh chấp trong tương lai.

Ví dụ như: Vụ việc điển hình trong việc xác định bí quyết doanh là vụ việc giữa bên nhượng quyền là I Can’t Believe It’s Yogurt (sau đây gọi tắt là ICBIY) và bên nhận quyền là Gunn[3]. Bên nhượng quyền đã yêu cầu Tòa án ngăn cấm bên nhận quyền trước đây là Gunn tiếp tục mở cửa hàng và kinh doanh sản phẩm tương tự. Tuy nhiên, Tòa án đã nhận định toàn bộ các yếu tố của hệ thống kinh doanh như thủ tục kế toán, cách sử dụng máy chế biến, pha trộn yogurt, thủ tục đăng ký, phương thức quản lý hàng tồn kho, quản lý chi phí nhân sự, quản lý chất thải, tỷ lệ phần trăm lợi nhuận, ngân sách, phương thức phỏng vấn, tuyển dụng và gợi ý bán hàng của bên nhượng quyền là bí mật kinh doanh do ICBIY không chứng minh được những yếu tố trên là bí mật kinh doanh và những bí mật kinh doanh trên là phổ biến và dễ tiếp cận.

Nếu các bên có thỏa thuận quy định về trách nhiệm giữ bí mật kinh doanh hoặc bí quyết kinh doanh, trường hợp hợp đồng NQTM vô hiệu có dẫn đến thỏa thuận quy định giữ bí mật kinh doanh hoặc bí quyết kinh doanh có bị vô hiệu không và bên nhượng quyền có quyền tiếp tục sử dụng các bí quyết kinh doanh không? Trường hợp, không có quy định về thỏa thuận về giữa bí mật kinh doanh đối với các bí quyết kinh doanh, bên nhượng quyền có bị hạn chế sử dụng các bí quyết kinh doanh này trong hoạt động kinh doanh của mình không?

4. Kiến nghị

Hoạt động NQTM đã trở thành một trong những cách thức để thương nhân nước ngoài tiếp cận với thị trường Việt Nam, cũng như thương nhân Việt Nam tiếp cận với thị trường nước ngoài. Khác với quy định một số quốc gia khi xác định quan hệ NQTM là tổng hợp các quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch, chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, bí mật kinh doanh, sở hữu công nghiệp…, Luật Thương mại xác định quan hệ NQTM được thực hiện qua hợp đồng NQTM, trong đó có đối tượng thực hiện hợp đồng là quyền thương mại. Do quyền thương mại theo Luật Thương mại và Nghị định số 35/2006/NĐ-CP được quy định không thống nhất với với Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022), Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017, Luật Cạnh tranh năm 2018, Luật Quảng cáo năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018); tính chất phức tạp của hợp đồng, những điểm giống nhau giữa hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng NQTM, hợp đồng li-xăng đã dẫn đến sự bất cập khi xử lý hậu quả vô hiệu của hợp đồng. Do đó, cần xây dựng một khung pháp lý chi tiết đối với hoạt động NQTM hoặc lựa chọn các bản án, quyết định có chứa các lập luận, phán quyết liên quan đến việc xử lý hậu quả hợp đồng NQTM vô hiệu làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp đang phát sinh và có thể sẽ phát sinh trong tương lai.

ThS. Nguyễn Đức Vũ

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. TS. Lê Minh Hùng, Hình thức hợp đồng, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2005, tr. 31.

[2]. https://plo.vn/bung-no-nhuong-quyen-thuong-hieu-ca-phe-0-dong-post544251.html.

[3]. Mark S. Vanderbroek - Christian B. Turner (2006), “Protecting and enforcing franchise trade secrets”, Franchise Law Journal, Volume 25, Number 4, p. 194.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 380), tháng 5/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: