Thứ năm 15/10/2026 20:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về khái niệm quốc hữu hóa trong giai đoạn hiện nay

Khái niệm quốc hữu hóa không phải là khái niệm mới, trong thời gian gần đây, mức độ xuất hiện của thuật ngữ này ngày càng thường xuyên. Với bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay, quốc hữu hóa được xem là một giải pháp mang tính cấp bách, không thể không tiến hành. Vậy quốc hữu hóa là gì? Bản chất của quốc hữu hóa là tích cực hay tiêu cực?

Khái niệm quốc hữu hóa không phải là khái niệm mới, trong thời gian gần đây, mức độ xuất hiện của thuật ngữ này ngày càng thường xuyên. Với bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay, quốc hữu hóa được xem là một giải pháp mang tính cấp bách, không thể không tiến hành. Vậy quốc hữu hóa là gì? Bản chất của quốc hữu hóa là tích cực hay tiêu cực? Chỉ khi chúng ta hiểu và đánh giá đúng mức ý nghĩa cũng như hiệu quả của quốc hữu hóa những vấn đề trên mới được làm rõ.

1. Một số quan điểm về quốc hữu hóa

Hiện nay, xung quanh khái niệm quốc hữu hóa, tồn tại rất nhiều quan điểm và cách đánh giá khác nhau. Theo các học giả phương Tây, thuật ngữ "quốc hữu hóa" trong tiếng Anh tương đương với "Nationalization" hoặc trong tiếng Pháp là “Nationalisation”, là quốc gia hóa hay Nhà nước hóa. Tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể, khái niệm quốc hữu hóa có thể được nhìn nhận như sau:

- Quốc hữu hóa được đồng nhất với Nhà nước hóa, quan điểm này đã từng rất phổ biến, do đó, trước đây khi được tiến hành với ý nghĩa này ở các nước xã hội chủ nghĩa, quốc hữu hóa mang bản chất của một biện pháp phi thị trường nhằm mục đích xóa bỏ sở hữu tư nhân trong nền kinh tế. Quốc hữu hóa được đa số người quan niệm là sự chuyển giao vô điều kiện, mang tính bắt buộc quyền sở hữu với các tư liệu sản xuất, những lực lượng kinh tế của tư nhân vào tay Nhà nước. Là chủ thể bao trùm lên mọi hoạt động, trong lĩnh vực kinh tế, Nhà nước tham gia hầu hết các khâu trong nền kinh tế quốc dân từ khâu tìm kiếm nguyên, nhiên, vật liệu cho đến sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm thị trường, lập kế hoạch phát triển thị trường.... Trong hoàn cảnh ấy, sở hữu tư nhân gần như không tồn tại, đồng nghĩa với việc không có nền kinh tế thị trường và kết quả gặt hái được là một nền kinh tế quốc dân với sản xuất manh mún, công cụ lao động lạc hậu, trì trệ, kéo theo sự tụt hậu không chỉ về kinh tế mà cả văn hóa, xã hội. Từ đó, có thể khẳng định, cách hiểu quốc hữu hóa đồng nhất với Nhà nước hóa đã bộc lộ những điểm kém ưu việt. Nhất là khi, nó từng bước khống chế và kìm hãm sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân, đồng thời tiến tới triệt tiêu sở hữu tư nhân - một trong những yếu tố cơ bản để kinh tế thị trường vận hành, phát triển tốt. Quốc hữu hóa lúc này đóng vai trò là phương thức của Nhà nước nhằm thâu tóm về mình quyền sở hữu đối với những tư liệu sản xuất và các lực lượng kinh tế của tư nhân ở các lĩnh vực chủ chốt trong nền kinh tế quốc dân.

- Ở góc độ thứ hai, nội hàm khái niệm quốc hữu hóa bị thu hẹp lại, quốc hữu hóa được xem là một biện pháp can thiệp của Nhà nước, thể hiện vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước. Có thể coi, quốc hữu hóa trong trường hợp này là một biểu hiện cụ thể của Nhà nước hóa, nhưng mang bản chất và hướng tới một mục đích khác hẳn. Lúc này, quốc hữu hóa chỉ là một giải pháp nhằm cứu vãn sự tồn tại và hoạt động của một số ngành, lĩnh vực kinh tế đang lâm vào khủng hoảng hiện nay. Còn đại bộ phận các ngành, lĩnh vực khác trong nền kinh tế quốc dân vẫn hoạt động bình thường, sở hữu tư nhân vẫn duy trì sự tồn tại và vai trò của nó bên cạnh sở hữu Nhà nước. Kinh tế tư nhân vẫn có chỗ đứng và được Nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ và khuyến khích phát triển vì mục tiêu chung là xây dựng và củng cố nền kinh tế quốc dân. Nói cách khác, so với trước đây, phạm vi của quốc hữu hóa ở giai đoạn này đã thu hẹp hơn, nó vừa mang tính Nhà nước, vừa mang tính xã hội bởi mục tiêu mà quá trình này hướng đến là lợi ích chung của một số đông trong xã hội và rộng hơn là toàn thể đất nước, toàn thể người dân trong xã hội.

Nhiều người lo ngại xu hướng quốc hữu hóa đang đi ngược lại xu hướng xã hội hóa và trong một tương lai không xa, xu hướng quốc hữu hóa sẽ phá vỡ những thành quả mà công cuộc xã hội hóa đã đạt được từ trước đến giờ. Nhưng ý kiến khác lại quan niệm, quốc hữu hóa, đơn giản chỉ là một khâu trong quá trình xã hội hóa về mặt kinh tế và quốc hữu hóa có thể thực hiện đồng thời với hoạt động xã hội hóa ở các lĩnh vực khác như chính trị, văn hóa - nghệ thuật, giáo dục... Vì khác với trước đây, quốc hữu hóa lúc này đã có sự thay đổi căn bản về mục tiêu, phạm vi và định hướng. Quá trình này không những không gây ảnh hưởng xấu, mà còn tạo điều kiện thúc đẩy quá trình xã hội hóa tiến hành thuận lợi hơn, bởi ở một số ngành, lĩnh vực kinh tế, Nhà nước vẫn tạo điều kiện cho toàn xã hội tham gia quản lý, điều hành chung với mình, thậm chí, Nhà nước còn hỗ trợ kinh phí cho một số tổ chức xã hội hoạt động mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện nào. Dưới góc độ này, thuật ngữ quốc hữu hóa đơn giản được hiểu là xã hội hóa các tư liệu sản xuất, các lực lượng kinh tế của tư nhân ở những lĩnh vực chủ đạo của nền kinh tế quốc dâ, tức là sự chuyển giao quyền sở hữu, quản lý đối với các tư liệu sản xuất và các lực lượng kinh tế cơ bản của tư nhân vào tay Nhà nước, vào tay toàn thể xã hội, toàn thể nhân dân.

Ngoài những cách hiểu trên, một số người vẫn quan niệm rằng, xã hội hóa là biến thành của chung và đồng nhất khái niệm quốc hữu hóa với khái niệm xã hội hóa, cách hiểu này đã dẫn đến những quan điểm không đúng về quốc hữu hóa. Về bản chất, xã hội hóa trong lĩnh vực kinh tế chính là biểu hiện của quốc hữu hóa, nhưng quốc hữu hóa không đơn giản là xã hội hóa. Chỉ cần xét tới một khía cạnh, quốc hữu hóa được tiến hành bởi Nhà nước, và đôi khi, trong những trường hợp bắt buộc, Nhà nước phải thực hiện bằng cưỡng chế, sau khi tiến hành quốc hữu hóa, quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng hay định đoạt với khối tài sản tư nhân đã được quốc hữu hóa sẽ thuộc về Nhà nước và đối tượng quốc hữu hóa hướng tới đó là các tư liệu sản xuất, lực lượng kinh tế của tư nhân, ở những lĩnh vực chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Như vậy, so với quốc hữu hóa, đối tượng mà xã hội hóa hướng tới có phạm vi rộng hơn rất nhiều, trừ những lĩnh vực chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, những ngành, lĩnh vực còn lại, không phải đối tượng của quốc hữu hóa. Mặt khác, chủ thể thực hiện quốc hữu hóa chỉ có Nhà nước, trong khi chủ thể thực hiện xã hội hóa đa dạng hơn rất nhiều, có thể là các tổ chức xã hội, đoàn thể, nhân dân, thuộc mọi tầng lớp, giai cấp... Biện pháp tiến hành xã hội hóa không mang tính cưỡng chế Nhà nước.

Từ những lý do trên, không thể khẳng định hai khái niệm quốc hữu hóa và xã hội hóa là một như quan niệm của một số người. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, quốc hữu hóa được thực hiện bằng con đường xã hội hóa. Trên thực tế, hình thức “công tư hợp doanh” đã xuất hiện trong nền kinh tế thị trường và ngày càng phổ biến. Đó chính là biểu hiện của xu hướng xã hội hóa trong lĩnh vực kinh tế không chỉ ở các nước xã hội chủ nghĩa, mà ngay cả các nước tư bản cũng đang tiến hành. Ngày nay, quan điểm ranh giới giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu của toàn dân, sở hữu của toàn thể xã hội đã trở nên lu mờ, dường như đang có xu hướng sáp nhập sở hữu nhà nước và sở hữu toàn xã hội làm một. Trong trường hợp ấy, xã hội hóa trong lĩnh vực kinh tế chính là biểu hiện của quốc hữu hóa trong giai đoạn hiện nay.

2. Quan điểm về quốc hữu hóa ở Việt Nam hiện nay

Trước đây, khái niệm quốc hữu hóa ở nước ta cũng được đồng nhất với khái niệm Nhà nước hóa, song hiện nay, khái niệm này đã có sự thay đổi căn bản. Theo từ điển Bách khoa, quốc hữu hóa được xem là việc chuyển quyền sở hữu vào tay Nhà nước những tư liệu sản xuất chủ yếu, những lực lượng kinh tế của tư nhân ở những vị trí chủ đạo của nền kinh tế quốc dân"[1]. Thay vì được tiến hành trên hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, giờ đây, biện pháp này chỉ được tiến hành ở một số lĩnh vực chủ đạo. Nói cách khác, theo quan điểm của Nhà nước ta hiện nay, quốc hữu hóa không đồng nhất hoàn toàn với khái niệm Nhà nước hóa nữa. Tuy vậy, về bản chất, nó chính là một phần của khái niệm Nhà nước hóa. Vì trên thực tế, quốc hữu hóa hiện nay thực chất là Nhà nước hóa đối với các tư liệu sản xuất và lực lượng kinh tế của tư nhân ở những ngành, lĩnh vực kinh tế chủ đạo của nền kinh tế quốc dân, hay nói cách khác, nó chính là phạm vi hẹp của Nhà nước hóa.

Quốc hữu hóa ở Việt Nam được tiến hành một cách đồng thời với quá trình xã hội hóa trong lĩnh vực kinh tế. Song ở một quốc gia phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa như nước ta, khái niệm xã hội hóa không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm "Socialization"[2] của các quốc gia phương Tây. Nếu hiểu theo nghĩa mà các quốc gia phương Tây quan niệm, thì xã hội hóa là thuật ngữ được sử dụng trong xã hội học để chỉ quá trình con người sinh vật chuyển thành con người xã hội. Trong đó, xã hội hóa được xác định là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội để cá nhân học hỏi, thực hành những tri thức, kỹ năng và những phương pháp cần thiết để hội nhập vào xã hội. Quá trình này khởi đầu từ khi con người xuất hiện và sẽ tiếp tục diễn ra khi nào con người vẫn sống thành cộng đồng xã hội và là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, thuật ngữ này khi được áp dụng ở nước ta đã có sự biến đổi, khái niệm xã hội hóa được dùng ở nước ta hiện nay gần với nghĩa của công - tư hợp tác (viết tắt là PPP) hay nói cách khác, giống như khái niệm Nhà nước và nhân dân cùng làm. Khái niệm xã hội hóa khi được dùng ở Việt Nam, nếu căn cứ trên cơ sở Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, sẽ khiến cho người dân Việt Nam hiểu là sự vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân và của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp mà Nhà nước đang xây dựng. Đồng thời, xây dựng tinh thần trách nhiệm cộng đồng của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa. Xã hội hóa góp phần mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội, không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này. Đại bộ phân nhân dân Việt Nam khi nhắc về xã hội hóa đều cho rằng, đó là việc nhân dân đóng góp thêm nguồn lực cho các hoạt động đó (chẳng hạn đóng góp tiền dưới dạng trả các loại phí dịch vụ; bỏ tiền, công sức ra cung ứng các dịch vụ đó, như lập trường tư, bệnh viện tư, phòng khám tư, nhà hát tư, tức là bỏ vốn đầu tư…). Cách hiểu trên của người dân tương đối đơn giản, vẫn chưa đầy đủ ý nghĩa của công cuộc xã hội hóa mà Nhà nước ta muốn đạt được.

Trên cơ sở những phân tích đã trình bày trên đây, có thể thấy: Thứ nhất, khái niệm quốc hữu hóa theo quan điểm của nước ta không tương đồng với khái niệm quốc hữu hóa theo quan điểm của phương Tây; thứ hai, khái niệm xã hội hóa của nước ta cũng không tương ứng với khái niệm xã hội hóa theo quan điểm của các quốc gia phương Tây, mà tương ứng với khái niệm Nhà nước và nhân dân cùng làm hay "công - tư hợp tác". Xu hướng quốc hữu hóa hiện nay ở nước ta chính là một biểu hiện của quá trình xã hội hóa trong lĩnh vực kinh tế. Suy cho cùng, bản thân khái niệm quốc hữu hóa, bên cạnh việc mang những đặc điểm của Nhà nước hóa còn mang thêm những đặc trưng của xã hội hóa. Chính vì thế, khái niệm quốc hữu hóa, xét về mặt ngoại diên thì hẹp hơn so với khái niệm xã hội hóa, nhưng về mặt nội hàm, thì quốc hữu hóa cụ thể và sâu hơn so với xã hội hóa. Nói về quốc hữu hóa, không thể không nhắc đến xã hội hóa, song nhắc tới xã hội hóa, không thể không đề cập đến quốc hữu hóa. Mặc dù vậy, hai khái niệm này không thể nhập làm một được.

Ở nước ta hiện nay, với mục tiêu theo đuổi một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quốc hữu hóa còn có ý nghĩa xác lập sở hữu nhà nước trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế chủ chốt, tạo cơ sở kinh tế - xã hội để củng cố Nhà nước, cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là cơ sở cho việc chống độc quyền hữu hiệu, từ sở hữu của một nhóm nhỏ trong xã hội, chuyển thành sở hữu chung của Nhà nước - đại diện cho quyền lợi của toàn xã hội, vì bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Sự quản lý của Nhà nước đối với khối tài sản bao gồm tư liệu sản xuất và những lực lượng kinh tế thuộc những ngành nghề chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân tạo điều kiện hạn chế những ảnh hưởng không tốt tới các ngành, lĩnh vực khác trong nền kinh tế, duy trì sự phát triển ổn định của nền kinh tế thị trường. Mặt khác, xóa bỏ sự độc chiếm thị trường bởi các nhóm nhỏ với mục đích riêng, đi ngược lại lợi ích chung của toàn xã hội, bởi lúc này, mục tiêu, kế hoạch hoạt động, định hướng phát triển của cách ngành, lĩnh vực chủ đạo đó hoàn toàn do Nhà nước vạch ra và đảm bảo thực hiện.

Có thể nói, sở dĩ quốc hữu hóa không phát huy được hiệu quả vốn có của nó xuất phát từ chỗ chúng ta hiểu chưa đúng về khái niệm, bản chất và đánh giá được tầm quan trọng của nó. Tính đến thời điểm này, vẫn chưa có một văn bản có tính pháp lý nào đưa ra một định nghĩa, hay khái niệm chính xác và tổng quát nhất về quốc hữu hóa. Thậm chí ngay cả Hiến pháp năm 2013 cũng chỉ đề cập một cách khái quát về quốc hữu hóa trong Chương II - Quyền con người, quyền và các nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nên chăng, Đảng và Nhà nước ta cần nghiên cứu và đưa ra một khái niệm cụ thể về quốc hữu hóa để giúp nhân dân dễ hình dung, từ đó có một cái nhìn đúng đắn về vai trò, tính cần thiết của hoạt động quốc hữu hóa do Nhà nước tiến hành. Điều này sẽ góp phần hoàn thiện hơn nữa nội dung cơ bản của Hiến pháp, đồng thời xóa bỏ những góc nhìn hạn hẹp và chưa đúng về bản chất, khái niệm quốc hữu hóa vốn có trước đó trong xã hội.

Trịnh Phương Thảo
Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: