Thứ năm 25/06/2026 13:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về khái niệm quốc hữu hóa trong giai đoạn hiện nay

Khái niệm quốc hữu hóa không phải là khái niệm mới, trong thời gian gần đây, mức độ xuất hiện của thuật ngữ này ngày càng thường xuyên. Với bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay, quốc hữu hóa được xem là một giải pháp mang tính cấp bách, không thể không tiến hành. Vậy quốc hữu hóa là gì? Bản chất của quốc hữu hóa là tích cực hay tiêu cực?

Khái niệm quốc hữu hóa không phải là khái niệm mới, trong thời gian gần đây, mức độ xuất hiện của thuật ngữ này ngày càng thường xuyên. Với bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay, quốc hữu hóa được xem là một giải pháp mang tính cấp bách, không thể không tiến hành. Vậy quốc hữu hóa là gì? Bản chất của quốc hữu hóa là tích cực hay tiêu cực? Chỉ khi chúng ta hiểu và đánh giá đúng mức ý nghĩa cũng như hiệu quả của quốc hữu hóa những vấn đề trên mới được làm rõ.

1. Một số quan điểm về quốc hữu hóa

Hiện nay, xung quanh khái niệm quốc hữu hóa, tồn tại rất nhiều quan điểm và cách đánh giá khác nhau. Theo các học giả phương Tây, thuật ngữ "quốc hữu hóa" trong tiếng Anh tương đương với "Nationalization" hoặc trong tiếng Pháp là “Nationalisation”, là quốc gia hóa hay Nhà nước hóa. Tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể, khái niệm quốc hữu hóa có thể được nhìn nhận như sau:

- Quốc hữu hóa được đồng nhất với Nhà nước hóa, quan điểm này đã từng rất phổ biến, do đó, trước đây khi được tiến hành với ý nghĩa này ở các nước xã hội chủ nghĩa, quốc hữu hóa mang bản chất của một biện pháp phi thị trường nhằm mục đích xóa bỏ sở hữu tư nhân trong nền kinh tế. Quốc hữu hóa được đa số người quan niệm là sự chuyển giao vô điều kiện, mang tính bắt buộc quyền sở hữu với các tư liệu sản xuất, những lực lượng kinh tế của tư nhân vào tay Nhà nước. Là chủ thể bao trùm lên mọi hoạt động, trong lĩnh vực kinh tế, Nhà nước tham gia hầu hết các khâu trong nền kinh tế quốc dân từ khâu tìm kiếm nguyên, nhiên, vật liệu cho đến sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm thị trường, lập kế hoạch phát triển thị trường.... Trong hoàn cảnh ấy, sở hữu tư nhân gần như không tồn tại, đồng nghĩa với việc không có nền kinh tế thị trường và kết quả gặt hái được là một nền kinh tế quốc dân với sản xuất manh mún, công cụ lao động lạc hậu, trì trệ, kéo theo sự tụt hậu không chỉ về kinh tế mà cả văn hóa, xã hội. Từ đó, có thể khẳng định, cách hiểu quốc hữu hóa đồng nhất với Nhà nước hóa đã bộc lộ những điểm kém ưu việt. Nhất là khi, nó từng bước khống chế và kìm hãm sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân, đồng thời tiến tới triệt tiêu sở hữu tư nhân - một trong những yếu tố cơ bản để kinh tế thị trường vận hành, phát triển tốt. Quốc hữu hóa lúc này đóng vai trò là phương thức của Nhà nước nhằm thâu tóm về mình quyền sở hữu đối với những tư liệu sản xuất và các lực lượng kinh tế của tư nhân ở các lĩnh vực chủ chốt trong nền kinh tế quốc dân.

- Ở góc độ thứ hai, nội hàm khái niệm quốc hữu hóa bị thu hẹp lại, quốc hữu hóa được xem là một biện pháp can thiệp của Nhà nước, thể hiện vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước. Có thể coi, quốc hữu hóa trong trường hợp này là một biểu hiện cụ thể của Nhà nước hóa, nhưng mang bản chất và hướng tới một mục đích khác hẳn. Lúc này, quốc hữu hóa chỉ là một giải pháp nhằm cứu vãn sự tồn tại và hoạt động của một số ngành, lĩnh vực kinh tế đang lâm vào khủng hoảng hiện nay. Còn đại bộ phận các ngành, lĩnh vực khác trong nền kinh tế quốc dân vẫn hoạt động bình thường, sở hữu tư nhân vẫn duy trì sự tồn tại và vai trò của nó bên cạnh sở hữu Nhà nước. Kinh tế tư nhân vẫn có chỗ đứng và được Nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ và khuyến khích phát triển vì mục tiêu chung là xây dựng và củng cố nền kinh tế quốc dân. Nói cách khác, so với trước đây, phạm vi của quốc hữu hóa ở giai đoạn này đã thu hẹp hơn, nó vừa mang tính Nhà nước, vừa mang tính xã hội bởi mục tiêu mà quá trình này hướng đến là lợi ích chung của một số đông trong xã hội và rộng hơn là toàn thể đất nước, toàn thể người dân trong xã hội.

Nhiều người lo ngại xu hướng quốc hữu hóa đang đi ngược lại xu hướng xã hội hóa và trong một tương lai không xa, xu hướng quốc hữu hóa sẽ phá vỡ những thành quả mà công cuộc xã hội hóa đã đạt được từ trước đến giờ. Nhưng ý kiến khác lại quan niệm, quốc hữu hóa, đơn giản chỉ là một khâu trong quá trình xã hội hóa về mặt kinh tế và quốc hữu hóa có thể thực hiện đồng thời với hoạt động xã hội hóa ở các lĩnh vực khác như chính trị, văn hóa - nghệ thuật, giáo dục... Vì khác với trước đây, quốc hữu hóa lúc này đã có sự thay đổi căn bản về mục tiêu, phạm vi và định hướng. Quá trình này không những không gây ảnh hưởng xấu, mà còn tạo điều kiện thúc đẩy quá trình xã hội hóa tiến hành thuận lợi hơn, bởi ở một số ngành, lĩnh vực kinh tế, Nhà nước vẫn tạo điều kiện cho toàn xã hội tham gia quản lý, điều hành chung với mình, thậm chí, Nhà nước còn hỗ trợ kinh phí cho một số tổ chức xã hội hoạt động mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện nào. Dưới góc độ này, thuật ngữ quốc hữu hóa đơn giản được hiểu là xã hội hóa các tư liệu sản xuất, các lực lượng kinh tế của tư nhân ở những lĩnh vực chủ đạo của nền kinh tế quốc dâ, tức là sự chuyển giao quyền sở hữu, quản lý đối với các tư liệu sản xuất và các lực lượng kinh tế cơ bản của tư nhân vào tay Nhà nước, vào tay toàn thể xã hội, toàn thể nhân dân.

Ngoài những cách hiểu trên, một số người vẫn quan niệm rằng, xã hội hóa là biến thành của chung và đồng nhất khái niệm quốc hữu hóa với khái niệm xã hội hóa, cách hiểu này đã dẫn đến những quan điểm không đúng về quốc hữu hóa. Về bản chất, xã hội hóa trong lĩnh vực kinh tế chính là biểu hiện của quốc hữu hóa, nhưng quốc hữu hóa không đơn giản là xã hội hóa. Chỉ cần xét tới một khía cạnh, quốc hữu hóa được tiến hành bởi Nhà nước, và đôi khi, trong những trường hợp bắt buộc, Nhà nước phải thực hiện bằng cưỡng chế, sau khi tiến hành quốc hữu hóa, quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng hay định đoạt với khối tài sản tư nhân đã được quốc hữu hóa sẽ thuộc về Nhà nước và đối tượng quốc hữu hóa hướng tới đó là các tư liệu sản xuất, lực lượng kinh tế của tư nhân, ở những lĩnh vực chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Như vậy, so với quốc hữu hóa, đối tượng mà xã hội hóa hướng tới có phạm vi rộng hơn rất nhiều, trừ những lĩnh vực chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, những ngành, lĩnh vực còn lại, không phải đối tượng của quốc hữu hóa. Mặt khác, chủ thể thực hiện quốc hữu hóa chỉ có Nhà nước, trong khi chủ thể thực hiện xã hội hóa đa dạng hơn rất nhiều, có thể là các tổ chức xã hội, đoàn thể, nhân dân, thuộc mọi tầng lớp, giai cấp... Biện pháp tiến hành xã hội hóa không mang tính cưỡng chế Nhà nước.

Từ những lý do trên, không thể khẳng định hai khái niệm quốc hữu hóa và xã hội hóa là một như quan niệm của một số người. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, quốc hữu hóa được thực hiện bằng con đường xã hội hóa. Trên thực tế, hình thức “công tư hợp doanh” đã xuất hiện trong nền kinh tế thị trường và ngày càng phổ biến. Đó chính là biểu hiện của xu hướng xã hội hóa trong lĩnh vực kinh tế không chỉ ở các nước xã hội chủ nghĩa, mà ngay cả các nước tư bản cũng đang tiến hành. Ngày nay, quan điểm ranh giới giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu của toàn dân, sở hữu của toàn thể xã hội đã trở nên lu mờ, dường như đang có xu hướng sáp nhập sở hữu nhà nước và sở hữu toàn xã hội làm một. Trong trường hợp ấy, xã hội hóa trong lĩnh vực kinh tế chính là biểu hiện của quốc hữu hóa trong giai đoạn hiện nay.

2. Quan điểm về quốc hữu hóa ở Việt Nam hiện nay

Trước đây, khái niệm quốc hữu hóa ở nước ta cũng được đồng nhất với khái niệm Nhà nước hóa, song hiện nay, khái niệm này đã có sự thay đổi căn bản. Theo từ điển Bách khoa, quốc hữu hóa được xem là việc chuyển quyền sở hữu vào tay Nhà nước những tư liệu sản xuất chủ yếu, những lực lượng kinh tế của tư nhân ở những vị trí chủ đạo của nền kinh tế quốc dân"[1]. Thay vì được tiến hành trên hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, giờ đây, biện pháp này chỉ được tiến hành ở một số lĩnh vực chủ đạo. Nói cách khác, theo quan điểm của Nhà nước ta hiện nay, quốc hữu hóa không đồng nhất hoàn toàn với khái niệm Nhà nước hóa nữa. Tuy vậy, về bản chất, nó chính là một phần của khái niệm Nhà nước hóa. Vì trên thực tế, quốc hữu hóa hiện nay thực chất là Nhà nước hóa đối với các tư liệu sản xuất và lực lượng kinh tế của tư nhân ở những ngành, lĩnh vực kinh tế chủ đạo của nền kinh tế quốc dân, hay nói cách khác, nó chính là phạm vi hẹp của Nhà nước hóa.

Quốc hữu hóa ở Việt Nam được tiến hành một cách đồng thời với quá trình xã hội hóa trong lĩnh vực kinh tế. Song ở một quốc gia phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa như nước ta, khái niệm xã hội hóa không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm "Socialization"[2] của các quốc gia phương Tây. Nếu hiểu theo nghĩa mà các quốc gia phương Tây quan niệm, thì xã hội hóa là thuật ngữ được sử dụng trong xã hội học để chỉ quá trình con người sinh vật chuyển thành con người xã hội. Trong đó, xã hội hóa được xác định là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội để cá nhân học hỏi, thực hành những tri thức, kỹ năng và những phương pháp cần thiết để hội nhập vào xã hội. Quá trình này khởi đầu từ khi con người xuất hiện và sẽ tiếp tục diễn ra khi nào con người vẫn sống thành cộng đồng xã hội và là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, thuật ngữ này khi được áp dụng ở nước ta đã có sự biến đổi, khái niệm xã hội hóa được dùng ở nước ta hiện nay gần với nghĩa của công - tư hợp tác (viết tắt là PPP) hay nói cách khác, giống như khái niệm Nhà nước và nhân dân cùng làm. Khái niệm xã hội hóa khi được dùng ở Việt Nam, nếu căn cứ trên cơ sở Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, sẽ khiến cho người dân Việt Nam hiểu là sự vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân và của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp mà Nhà nước đang xây dựng. Đồng thời, xây dựng tinh thần trách nhiệm cộng đồng của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa. Xã hội hóa góp phần mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội, không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này. Đại bộ phân nhân dân Việt Nam khi nhắc về xã hội hóa đều cho rằng, đó là việc nhân dân đóng góp thêm nguồn lực cho các hoạt động đó (chẳng hạn đóng góp tiền dưới dạng trả các loại phí dịch vụ; bỏ tiền, công sức ra cung ứng các dịch vụ đó, như lập trường tư, bệnh viện tư, phòng khám tư, nhà hát tư, tức là bỏ vốn đầu tư…). Cách hiểu trên của người dân tương đối đơn giản, vẫn chưa đầy đủ ý nghĩa của công cuộc xã hội hóa mà Nhà nước ta muốn đạt được.

Trên cơ sở những phân tích đã trình bày trên đây, có thể thấy: Thứ nhất, khái niệm quốc hữu hóa theo quan điểm của nước ta không tương đồng với khái niệm quốc hữu hóa theo quan điểm của phương Tây; thứ hai, khái niệm xã hội hóa của nước ta cũng không tương ứng với khái niệm xã hội hóa theo quan điểm của các quốc gia phương Tây, mà tương ứng với khái niệm Nhà nước và nhân dân cùng làm hay "công - tư hợp tác". Xu hướng quốc hữu hóa hiện nay ở nước ta chính là một biểu hiện của quá trình xã hội hóa trong lĩnh vực kinh tế. Suy cho cùng, bản thân khái niệm quốc hữu hóa, bên cạnh việc mang những đặc điểm của Nhà nước hóa còn mang thêm những đặc trưng của xã hội hóa. Chính vì thế, khái niệm quốc hữu hóa, xét về mặt ngoại diên thì hẹp hơn so với khái niệm xã hội hóa, nhưng về mặt nội hàm, thì quốc hữu hóa cụ thể và sâu hơn so với xã hội hóa. Nói về quốc hữu hóa, không thể không nhắc đến xã hội hóa, song nhắc tới xã hội hóa, không thể không đề cập đến quốc hữu hóa. Mặc dù vậy, hai khái niệm này không thể nhập làm một được.

Ở nước ta hiện nay, với mục tiêu theo đuổi một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quốc hữu hóa còn có ý nghĩa xác lập sở hữu nhà nước trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế chủ chốt, tạo cơ sở kinh tế - xã hội để củng cố Nhà nước, cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là cơ sở cho việc chống độc quyền hữu hiệu, từ sở hữu của một nhóm nhỏ trong xã hội, chuyển thành sở hữu chung của Nhà nước - đại diện cho quyền lợi của toàn xã hội, vì bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Sự quản lý của Nhà nước đối với khối tài sản bao gồm tư liệu sản xuất và những lực lượng kinh tế thuộc những ngành nghề chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân tạo điều kiện hạn chế những ảnh hưởng không tốt tới các ngành, lĩnh vực khác trong nền kinh tế, duy trì sự phát triển ổn định của nền kinh tế thị trường. Mặt khác, xóa bỏ sự độc chiếm thị trường bởi các nhóm nhỏ với mục đích riêng, đi ngược lại lợi ích chung của toàn xã hội, bởi lúc này, mục tiêu, kế hoạch hoạt động, định hướng phát triển của cách ngành, lĩnh vực chủ đạo đó hoàn toàn do Nhà nước vạch ra và đảm bảo thực hiện.

Có thể nói, sở dĩ quốc hữu hóa không phát huy được hiệu quả vốn có của nó xuất phát từ chỗ chúng ta hiểu chưa đúng về khái niệm, bản chất và đánh giá được tầm quan trọng của nó. Tính đến thời điểm này, vẫn chưa có một văn bản có tính pháp lý nào đưa ra một định nghĩa, hay khái niệm chính xác và tổng quát nhất về quốc hữu hóa. Thậm chí ngay cả Hiến pháp năm 2013 cũng chỉ đề cập một cách khái quát về quốc hữu hóa trong Chương II - Quyền con người, quyền và các nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nên chăng, Đảng và Nhà nước ta cần nghiên cứu và đưa ra một khái niệm cụ thể về quốc hữu hóa để giúp nhân dân dễ hình dung, từ đó có một cái nhìn đúng đắn về vai trò, tính cần thiết của hoạt động quốc hữu hóa do Nhà nước tiến hành. Điều này sẽ góp phần hoàn thiện hơn nữa nội dung cơ bản của Hiến pháp, đồng thời xóa bỏ những góc nhìn hạn hẹp và chưa đúng về bản chất, khái niệm quốc hữu hóa vốn có trước đó trong xã hội.

Trịnh Phương Thảo
Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: