Chủ nhật 14/06/2026 17:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về một số vấn đề có tính cơ bản, cốt lõi của dự thảo Luật Trưng cầu ý dân

Dự thảo Luật Trưng cầu ý dân là một dự luật bao quát các vấn đề mang tính cốt lõi của quá trình trưng cầu ý dân, từ đề xướng, chuẩn bị, tổ chức tiến hành, xác định kết quả cũng như giá trị pháp lý của cuộc trưng cầu ý dân.

Dự thảo Luật Trưng cầu ý dân là một dự luật bao quát các vấn đề mang tính cốt lõi của quá trình trưng cầu ý dân, từ đề xướng, chuẩn bị, tổ chức tiến hành, xác định kết quả cũng như giá trị pháp lý của cuộc trưng cầu ý dân. Trên cơ sở những phân tích, đánh giá về pháp luật trưng cầu ý dân hiện hành, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời, tham khảo pháp luật một số nước về trưng cầu ý dân, chúng tôi xin được đề xuất một số vấn đề có tính cơ bản, cốt lõi mà dự thảo Luật Trưng cầu ý dân cần quan tâm điều chỉnh, bao gồm:

1. Về quy mô các cuộc trưng cầu ý dân

Có hai mức độ trưng cầu ý dân là trưng cầu ý dân trên phạm vi toàn quốc và trưng cầu ý dân ở địa phương. Thực tế này cũng rất đa dạng ở các nước, nhưng phần lớn là có hai mức độ quy mô trưng cầu ý dân. Ví dụ, ở Thụy Sĩ, Italia, Pháp... vừa có trưng cầu ý dân ở phạm vi cả nước, vừa có trưng cầu ý dân ở địa phương. Tuy nhiên, pháp luật một số nước lại chỉ quy định về loại hình trưng cầu ý dân ở địa phương, mà không có trưng cầu ý dân trên phạm vi cả nước, điển hình là Mỹ, Cộng hòa Liên bang Đức, Nhật Bản…

Trong thực tiễn đời sống xã hội của Việt Nam, nhu cầu tổ chức các cuộc trưng cầu ý dân ở địa phương và nhất là ở cấp đơn vị hành chính cơ sở bao giờ cũng nhiều hơn nhu cầu trưng cầu ý dân trên phạm vi toàn quốc. Do đó, cần quy định rõ trong dự luật quy mô của các cuộc trưng cầu ý dân, nhất là trưng cầu ý dân trong phạm vi địa phương và ở cấp cơ sở. Điều này sẽ giúp giải quyết, tháo gỡ các vấn đề vướng mắc trong đời sống kinh tế - xã hội của địa phương, đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra.

Tuy nhiên, việc tổ chức trưng cầu ý dân cũng chỉ nên giới hạn ở trưng cầu ý dân trên phạm vi cả nước hoặc trưng cầu ý dân trên phạm vi tỉnh, vùng lãnh thổ (quy ước vùng lãnh thổ lớn hơn tỉnh). Đối với những vấn đề thuộc phạm vi cấp huyện và cơ sở không nên tổ chức trưng cầu ý dân. Bởi lẽ, tổ chức trưng cầu ý dân rất tốn kém, mà ở phạm vi cấp huyện và cơ sở nhân dân được tham gia vào cả quá trình từ khởi xướng, xây dựng nội dung, trực tiếp quyết định, trực tiếp thực hiện và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện, nếu như trưng cầu ý dân phạm vi tham gia của nhân dân chỉ dừng lại ở quyết định đồng ý hay không đồng ý.

2. Về đối tượng trưng cầu ý dân

Đối tượng trưng cầu ý dân, cần được quy định theo hướng mở, tức là theo cách liệt kê và thêm những vấn đề khác do Quốc hội quyết định. Quy định theo hướng mở như vậy, một mặt là cơ sở pháp lý cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân, mặt khác sẽ đảm bảo tính kịp thời khi cần trưng cầu ý dân về một vấn đề quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Căn cứ vào quy mô của các cuộc trưng cầu ý dân sẽ có đối tượng trưng cầu ý dân tương ứng.

Đối với những cuộc trưng cầu ý dân ở phạm vi quốc gia, sẽ là những vấn đề như: Thông qua một bản Hiến pháp mới; hoặc bổ sung, sửa đổi Hiến pháp hiện hành thì bắt buộc phải đưa ra trưng cầu ý dân. Sở dĩ việc sửa đổi, thông qua Hiến pháp cần bắt buộc phải đưa ra trưng cầu ý dân là vì Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, nên một bản Hiến pháp rất cần được xây dựng dựa trên sự đồng thuận của người dân, có như vậy, giá trị tối thượng của bản Hiến pháp mới được đề cao và bảo đảm thực hiện. Ngoài ra, những vấn đề quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước cũng là những vấn đề cần quy định để đưa ra trưng cầu ý dân.

Đối với những cuộc trưng cầu ý dân ở phạm vi địa phương, những vấn đề cần phải quy định để đưa ra trưng cầu ý dân là việc chia tách hay nhập các đơn vị hành chính và những vấn đề quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến sự phát triển của địa phương.

3. Về thủ tục đưa ra sáng kiến trưng cầu ý dân

Ở mỗi quốc gia lại có các quy định khác nhau về thủ tục đưa ra sáng kiến trưng cầu ý dân. Ở Thụy Sĩ, sáng kiến nhân dân phải được thực hiện theo đúng quy định về số lượng chữ ký, thời gian thu thập và được lập thành hồ sơ gửi văn phòng của Chính phủ. Ở cấp liên bang, trưng cầu ý dân về luật cần có 50.000 chữ ký của nhân dân được thu thập trong khoảng thời gian 100 ngày. Ở Pháp, sáng kiến trưng cầu ý dân thuộc về Tổng thống. Pháp luật trưng cầu ý dân ở Pháp không quy định nhân dân là chủ thể có quyền trình sáng kiến trưng cầu ý dân.

Trưng cầu ý dân là một hình thức dân chủ trực tiếp, trong đó nhân dân được trực tiếp quyết định các vấn đề của Nhà nước, liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tuy nhiên trên thực tế, người dân rất khó có thể đưa được một vấn đề ra trưng cầu ý dân, vì vậy, người dân sẽ thực hiện quyền sáng kiến thông qua cơ quan đại diện của mình. Từ đó, dự thảo Luật Trưng cầu ý dân nên quy định theo hướng chủ thể có quyền nêu sáng kiến trưng cầu ý dân tùy thuộc vào quy mô của cuộc trưng cầu ý dân, cụ thể: (1) Đối với những cuộc trưng cầu ý dân có quy mô trên phạm vi toàn quốc, thì đại biểu Quốc hội có quyền nêu sáng kiến trưng cầu ý dân; (2) Đối với những cuộc trưng cầu ý dân ở địa phương, thì đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có quyền nêu sáng kiến trưng cầu ý dân. Và khi có quá bán số đại biểu yêu cầu thì Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân tỉnh phải ra quyết định trưng cầu ý dân.

4. Xác định cơ quan có thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân và cơ quan có thẩm quyền tổ chức trưng cầu ý dân

4.1. Về cơ quan có thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân

Theo Điều 70 Hiến pháp năm 2013, thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân là của Quốc hội. Quy định này dường như có sự chú trọng đến trưng cầu ý dân trên phạm vi cả nước hơn là trưng cầu ý dân trên phạm vi địa phương, bởi Quốc hội là cơ quan duy nhất được trao thẩm quyền quyết định việc trưng cầu ý dân. Như vậy, nếu như dự thảo Luật Trưng cầu ý dân quy định theo hướng xác định quy mô trưng cầu ý dân trên cả nước và cả ở địa phương thì sẽ là một sự quá tải rất lớn đối với Quốc hội, bởi Quốc hội Việt Nam không phải cơ quan hoạt động thường xuyên. Vì vậy, để đưa được quy định về trưng cầu ý dân ở địa phương vào dự thảo Luật Trưng cầu ý dân, thì phải tiến hành đề nghị sửa đổi quy định của Hiến pháp về thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân. Như vậy, Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân trên phạm vi cả nước và vùng lãnh thổ, còn trưng cầu ý dân ở địa phương, để linh hoạt và sát thực thì thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân nên giao cho Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

4.2. Về cơ quan tổ chức trưng cầu ý dân

Liên quan đến việc tiến hành tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, thì ở các nước khác nhau có những quy định khác nhau về cơ quan có thẩm quyền tổ chức việc trưng cầu ý dân. Có những nước cơ quan tổ chức việc trưng cầu ý dân thuộc về một cơ quan của Quốc hội; có nước duy trì một hội đồng bầu cử chuyên trách phụ trách việc tổ chức bầu cử và tổ chức việc trưng cầu ý dân; có nước khi có một sáng kiến trưng cầu ý dân được tuyên bố là hợp pháp thì một ủy ban lâm thời được thành lập để phụ trách việc tổ chức trưng cầu ý dân. Hiến pháp năm 2013 quy định ở khoản 3 Điều 74: “Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn tổ chức trưng cầu ý dân theo quy định của Quốc hội”. Tuy nhiên, khi chúng ta quy định về quy mô trưng cầu ý dân ở cả hai cấp, thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức trưng cầu ý dân cũng nên phân ra theo hai cấp. Với cuộc trưng cầu ý dân trên quy mô toàn quốc, thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức trưng cầu ý dân là Uỷ ban thường vụ Quốc hội, còn đối với cuộc trưng cầu ý dân ở phạm vi địa phương, thì thường trực Hội đồng nhân dân sẽ tiến hành tổ chức trưng cầu ý dân, sau đó, báo cáo lên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội kết quả của cuộc trưng cầu ý dân.

5. Hiệu lực pháp lý của một cuộc trưng cầu ý dân

Hiệu lực pháp lý của một cuộc trưng cầu ý dân là việc xác định xem liệu kết quả của cuộc trưng cầu ý dân có giá trị bắt buộc hay chỉ có tính chất tham khảo. Từ đó, sẽ có hai loại hiệu lực của trưng cầu ý dân là hiệu lực bắt buộc và hiệu lực tham khảo. Nếu một cuộc trưng cầu ý dân có hiệu lực bắt buộc, thì các cơ quan nhà nước buộc phải thực hiện theo kết quả mà cuộc trưng cầu ý dân đó đem lại. Mặt khác, nếu là trưng cầu ý dân có hiệu lực tham khảo, thì kết quả của cuộc trưng cầu ý dân chỉ có ý nghĩa tham vấn và không bắt buộc phải thực hiện theo kết quả đó.

Pháp luật của một số quốc gia đều xác định rõ hiệu lực pháp lý của trưng cầu ý dân. Các nước như Armenia, Estonia, Pháp, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ thì quy định tất cả các cuộc trưng cầu ý dân đều có hiệu lực bắt buộc. Trong khi đó, ở Đan Mạch, luật quy định về mặt nguyên tắc trưng cầu ý dân có hiệu lực bắt buộc, nhưng cũng không loại trừ những cuộc trưng cầu ý dân có hiệu lực tham khảo. Ở một số quốc gia khác thì có sự phân biệt rõ ràng giữa trưng cầu ý dân có hiệu lực bắt buộc và trưng cầu ý dân có tính chất tham khảo tuỳ theo bản chất của vấn đề đưa ra trưng cầu. Ví dụ: Ở Andorra, Úc và Tây Ban Nha, trưng cầu ý dân về một vấn đề quan trọng chỉ mang tính tham khảo, nhưng trưng cầu ý dân về Hiến pháp thì có hiệu lực bắt buộc; ở Lithuania thì trưng cầu ý dân có hiệu lực bắt buộc nếu đó là các cuộc trưng cầu ý dân về các sáng kiến pháp luật do người dân đề xuất hay khởi xướng và các trưng cầu ý dân về các quy định của Hiến pháp, còn các vấn đề khác thì chỉ là trưng cầu ý dân có tính chất tham khảo. Tuy nhiên, một số quốc gia lại xác định hiệu lực pháp lý của trưng cầu ý dân căn cứ trên số lượng cử tri. Ví dụ: Ở Ba Lan và Bồ Đào Nha, trưng cầu ý dân có hiệu lực bắt buộc trong trường hợp đa số cử tri đi bỏ phiếu, còn nếu không đủ đa số cử tri bỏ phiếu, thì kết quả trưng cầu ý dân chỉ có hiệu lực tham khảo.

Có nhiều ý kiến cho rằng, trong điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay, chúng ta chỉ nên tiến hành các cuộc trưng cầu ý dân có hiệu lực bắt buộc, không cần thiết phải tổ chức các cuộc trưng cầu ý dân có hiệu lực tham khảo. Bởi vì, tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân đòi hỏi chi phí rất lớn về nhân lực và tài chính, tương đương với tổ chức bầu cử. Những trường hợp cần tham khảo ý kiến nhân dân thì có thể chỉ tổ chức lấy ý kiến nhân dân là việc chúng ta vẫn thường làm và đã có kinh nghiệm. Hình thức lấy ý kiến nhân dân tạo điều kiện cho nhân dân có thể đóng góp nhiều hơn mà ít tốn kém hơn cho Nhà nước. Cơ quan có thẩm quyền có thể đăng tải văn bản trên báo, phát tin trên đài truyền thanh, truyền hình, gửi dự thảo văn bản cho cơ quan, tổ chức có liên quan để tổ chức đóng góp ý kiến. Tuy nhiên, hoạt động lấy ý kiến nhân dân sẽ chỉ thu thập được ý kiến của một bộ phận nhỏ cử chi trong cả nước, đó không phải là ý kiến của phần lớn nhân dân. Vì vậy, một số vấn đề Nhà nước muốn tham khảo ý kiến của nhân dân thì vẫn phải tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân chứ không thể thay thế bằng việc lấy ý kiến nhân dân. Việc quy định hiệu lực pháp lý của cuộc trưng cầu ý dân bao gồm cả bắt buộc và tham khảo sẽ mở rộng được phạm vi các vấn đề được trưng cầu tạo điều kiện để nhân dân phát huy hơn nữa quyền làm chủ của mình.

Dự thảo Luật Trưng cầu ý dân cần quy định rõ những vấn đề nào được đưa ra trưng cầu ý dân. Kết quả của cuộc trưng cầu ý dân nào sẽ có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với cơ quan nhà nước và những cuộc trưng cầu ý dân nào chỉ có hiệu lực pháp lý tham khảo. Theo ý kiến cá nhân của tác giả, đối tượng trưng cầu ý dân sẽ được quy định theo hướng mở, bao gồm những vấn đề được liệt kê và những vấn đề khác do Quốc hội quyết định. Những vấn đề được liệt kê trong dự thảo luật sẽ có hiệu lực pháp lý bắt buộc, còn những vấn đề khác do Quốc hội quy định thì hiệu lực pháp lý sẽ có giá trị tham khảo.

Phạm Thanh Hưng

Khoa Luật, Học viện Cảnh sát nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: