Thứ tư 04/03/2026 13:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về một số vấn đề có tính cơ bản, cốt lõi của dự thảo Luật Trưng cầu ý dân

Dự thảo Luật Trưng cầu ý dân là một dự luật bao quát các vấn đề mang tính cốt lõi của quá trình trưng cầu ý dân, từ đề xướng, chuẩn bị, tổ chức tiến hành, xác định kết quả cũng như giá trị pháp lý của cuộc trưng cầu ý dân.

Dự thảo Luật Trưng cầu ý dân là một dự luật bao quát các vấn đề mang tính cốt lõi của quá trình trưng cầu ý dân, từ đề xướng, chuẩn bị, tổ chức tiến hành, xác định kết quả cũng như giá trị pháp lý của cuộc trưng cầu ý dân. Trên cơ sở những phân tích, đánh giá về pháp luật trưng cầu ý dân hiện hành, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời, tham khảo pháp luật một số nước về trưng cầu ý dân, chúng tôi xin được đề xuất một số vấn đề có tính cơ bản, cốt lõi mà dự thảo Luật Trưng cầu ý dân cần quan tâm điều chỉnh, bao gồm:

1. Về quy mô các cuộc trưng cầu ý dân

Có hai mức độ trưng cầu ý dân là trưng cầu ý dân trên phạm vi toàn quốc và trưng cầu ý dân ở địa phương. Thực tế này cũng rất đa dạng ở các nước, nhưng phần lớn là có hai mức độ quy mô trưng cầu ý dân. Ví dụ, ở Thụy Sĩ, Italia, Pháp... vừa có trưng cầu ý dân ở phạm vi cả nước, vừa có trưng cầu ý dân ở địa phương. Tuy nhiên, pháp luật một số nước lại chỉ quy định về loại hình trưng cầu ý dân ở địa phương, mà không có trưng cầu ý dân trên phạm vi cả nước, điển hình là Mỹ, Cộng hòa Liên bang Đức, Nhật Bản…

Trong thực tiễn đời sống xã hội của Việt Nam, nhu cầu tổ chức các cuộc trưng cầu ý dân ở địa phương và nhất là ở cấp đơn vị hành chính cơ sở bao giờ cũng nhiều hơn nhu cầu trưng cầu ý dân trên phạm vi toàn quốc. Do đó, cần quy định rõ trong dự luật quy mô của các cuộc trưng cầu ý dân, nhất là trưng cầu ý dân trong phạm vi địa phương và ở cấp cơ sở. Điều này sẽ giúp giải quyết, tháo gỡ các vấn đề vướng mắc trong đời sống kinh tế - xã hội của địa phương, đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra.

Tuy nhiên, việc tổ chức trưng cầu ý dân cũng chỉ nên giới hạn ở trưng cầu ý dân trên phạm vi cả nước hoặc trưng cầu ý dân trên phạm vi tỉnh, vùng lãnh thổ (quy ước vùng lãnh thổ lớn hơn tỉnh). Đối với những vấn đề thuộc phạm vi cấp huyện và cơ sở không nên tổ chức trưng cầu ý dân. Bởi lẽ, tổ chức trưng cầu ý dân rất tốn kém, mà ở phạm vi cấp huyện và cơ sở nhân dân được tham gia vào cả quá trình từ khởi xướng, xây dựng nội dung, trực tiếp quyết định, trực tiếp thực hiện và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện, nếu như trưng cầu ý dân phạm vi tham gia của nhân dân chỉ dừng lại ở quyết định đồng ý hay không đồng ý.

2. Về đối tượng trưng cầu ý dân

Đối tượng trưng cầu ý dân, cần được quy định theo hướng mở, tức là theo cách liệt kê và thêm những vấn đề khác do Quốc hội quyết định. Quy định theo hướng mở như vậy, một mặt là cơ sở pháp lý cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân, mặt khác sẽ đảm bảo tính kịp thời khi cần trưng cầu ý dân về một vấn đề quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Căn cứ vào quy mô của các cuộc trưng cầu ý dân sẽ có đối tượng trưng cầu ý dân tương ứng.

Đối với những cuộc trưng cầu ý dân ở phạm vi quốc gia, sẽ là những vấn đề như: Thông qua một bản Hiến pháp mới; hoặc bổ sung, sửa đổi Hiến pháp hiện hành thì bắt buộc phải đưa ra trưng cầu ý dân. Sở dĩ việc sửa đổi, thông qua Hiến pháp cần bắt buộc phải đưa ra trưng cầu ý dân là vì Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, nên một bản Hiến pháp rất cần được xây dựng dựa trên sự đồng thuận của người dân, có như vậy, giá trị tối thượng của bản Hiến pháp mới được đề cao và bảo đảm thực hiện. Ngoài ra, những vấn đề quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước cũng là những vấn đề cần quy định để đưa ra trưng cầu ý dân.

Đối với những cuộc trưng cầu ý dân ở phạm vi địa phương, những vấn đề cần phải quy định để đưa ra trưng cầu ý dân là việc chia tách hay nhập các đơn vị hành chính và những vấn đề quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến sự phát triển của địa phương.

3. Về thủ tục đưa ra sáng kiến trưng cầu ý dân

Ở mỗi quốc gia lại có các quy định khác nhau về thủ tục đưa ra sáng kiến trưng cầu ý dân. Ở Thụy Sĩ, sáng kiến nhân dân phải được thực hiện theo đúng quy định về số lượng chữ ký, thời gian thu thập và được lập thành hồ sơ gửi văn phòng của Chính phủ. Ở cấp liên bang, trưng cầu ý dân về luật cần có 50.000 chữ ký của nhân dân được thu thập trong khoảng thời gian 100 ngày. Ở Pháp, sáng kiến trưng cầu ý dân thuộc về Tổng thống. Pháp luật trưng cầu ý dân ở Pháp không quy định nhân dân là chủ thể có quyền trình sáng kiến trưng cầu ý dân.

Trưng cầu ý dân là một hình thức dân chủ trực tiếp, trong đó nhân dân được trực tiếp quyết định các vấn đề của Nhà nước, liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tuy nhiên trên thực tế, người dân rất khó có thể đưa được một vấn đề ra trưng cầu ý dân, vì vậy, người dân sẽ thực hiện quyền sáng kiến thông qua cơ quan đại diện của mình. Từ đó, dự thảo Luật Trưng cầu ý dân nên quy định theo hướng chủ thể có quyền nêu sáng kiến trưng cầu ý dân tùy thuộc vào quy mô của cuộc trưng cầu ý dân, cụ thể: (1) Đối với những cuộc trưng cầu ý dân có quy mô trên phạm vi toàn quốc, thì đại biểu Quốc hội có quyền nêu sáng kiến trưng cầu ý dân; (2) Đối với những cuộc trưng cầu ý dân ở địa phương, thì đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có quyền nêu sáng kiến trưng cầu ý dân. Và khi có quá bán số đại biểu yêu cầu thì Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân tỉnh phải ra quyết định trưng cầu ý dân.

4. Xác định cơ quan có thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân và cơ quan có thẩm quyền tổ chức trưng cầu ý dân

4.1. Về cơ quan có thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân

Theo Điều 70 Hiến pháp năm 2013, thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân là của Quốc hội. Quy định này dường như có sự chú trọng đến trưng cầu ý dân trên phạm vi cả nước hơn là trưng cầu ý dân trên phạm vi địa phương, bởi Quốc hội là cơ quan duy nhất được trao thẩm quyền quyết định việc trưng cầu ý dân. Như vậy, nếu như dự thảo Luật Trưng cầu ý dân quy định theo hướng xác định quy mô trưng cầu ý dân trên cả nước và cả ở địa phương thì sẽ là một sự quá tải rất lớn đối với Quốc hội, bởi Quốc hội Việt Nam không phải cơ quan hoạt động thường xuyên. Vì vậy, để đưa được quy định về trưng cầu ý dân ở địa phương vào dự thảo Luật Trưng cầu ý dân, thì phải tiến hành đề nghị sửa đổi quy định của Hiến pháp về thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân. Như vậy, Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân trên phạm vi cả nước và vùng lãnh thổ, còn trưng cầu ý dân ở địa phương, để linh hoạt và sát thực thì thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân nên giao cho Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

4.2. Về cơ quan tổ chức trưng cầu ý dân

Liên quan đến việc tiến hành tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, thì ở các nước khác nhau có những quy định khác nhau về cơ quan có thẩm quyền tổ chức việc trưng cầu ý dân. Có những nước cơ quan tổ chức việc trưng cầu ý dân thuộc về một cơ quan của Quốc hội; có nước duy trì một hội đồng bầu cử chuyên trách phụ trách việc tổ chức bầu cử và tổ chức việc trưng cầu ý dân; có nước khi có một sáng kiến trưng cầu ý dân được tuyên bố là hợp pháp thì một ủy ban lâm thời được thành lập để phụ trách việc tổ chức trưng cầu ý dân. Hiến pháp năm 2013 quy định ở khoản 3 Điều 74: “Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn tổ chức trưng cầu ý dân theo quy định của Quốc hội”. Tuy nhiên, khi chúng ta quy định về quy mô trưng cầu ý dân ở cả hai cấp, thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức trưng cầu ý dân cũng nên phân ra theo hai cấp. Với cuộc trưng cầu ý dân trên quy mô toàn quốc, thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức trưng cầu ý dân là Uỷ ban thường vụ Quốc hội, còn đối với cuộc trưng cầu ý dân ở phạm vi địa phương, thì thường trực Hội đồng nhân dân sẽ tiến hành tổ chức trưng cầu ý dân, sau đó, báo cáo lên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội kết quả của cuộc trưng cầu ý dân.

5. Hiệu lực pháp lý của một cuộc trưng cầu ý dân

Hiệu lực pháp lý của một cuộc trưng cầu ý dân là việc xác định xem liệu kết quả của cuộc trưng cầu ý dân có giá trị bắt buộc hay chỉ có tính chất tham khảo. Từ đó, sẽ có hai loại hiệu lực của trưng cầu ý dân là hiệu lực bắt buộc và hiệu lực tham khảo. Nếu một cuộc trưng cầu ý dân có hiệu lực bắt buộc, thì các cơ quan nhà nước buộc phải thực hiện theo kết quả mà cuộc trưng cầu ý dân đó đem lại. Mặt khác, nếu là trưng cầu ý dân có hiệu lực tham khảo, thì kết quả của cuộc trưng cầu ý dân chỉ có ý nghĩa tham vấn và không bắt buộc phải thực hiện theo kết quả đó.

Pháp luật của một số quốc gia đều xác định rõ hiệu lực pháp lý của trưng cầu ý dân. Các nước như Armenia, Estonia, Pháp, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ thì quy định tất cả các cuộc trưng cầu ý dân đều có hiệu lực bắt buộc. Trong khi đó, ở Đan Mạch, luật quy định về mặt nguyên tắc trưng cầu ý dân có hiệu lực bắt buộc, nhưng cũng không loại trừ những cuộc trưng cầu ý dân có hiệu lực tham khảo. Ở một số quốc gia khác thì có sự phân biệt rõ ràng giữa trưng cầu ý dân có hiệu lực bắt buộc và trưng cầu ý dân có tính chất tham khảo tuỳ theo bản chất của vấn đề đưa ra trưng cầu. Ví dụ: Ở Andorra, Úc và Tây Ban Nha, trưng cầu ý dân về một vấn đề quan trọng chỉ mang tính tham khảo, nhưng trưng cầu ý dân về Hiến pháp thì có hiệu lực bắt buộc; ở Lithuania thì trưng cầu ý dân có hiệu lực bắt buộc nếu đó là các cuộc trưng cầu ý dân về các sáng kiến pháp luật do người dân đề xuất hay khởi xướng và các trưng cầu ý dân về các quy định của Hiến pháp, còn các vấn đề khác thì chỉ là trưng cầu ý dân có tính chất tham khảo. Tuy nhiên, một số quốc gia lại xác định hiệu lực pháp lý của trưng cầu ý dân căn cứ trên số lượng cử tri. Ví dụ: Ở Ba Lan và Bồ Đào Nha, trưng cầu ý dân có hiệu lực bắt buộc trong trường hợp đa số cử tri đi bỏ phiếu, còn nếu không đủ đa số cử tri bỏ phiếu, thì kết quả trưng cầu ý dân chỉ có hiệu lực tham khảo.

Có nhiều ý kiến cho rằng, trong điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay, chúng ta chỉ nên tiến hành các cuộc trưng cầu ý dân có hiệu lực bắt buộc, không cần thiết phải tổ chức các cuộc trưng cầu ý dân có hiệu lực tham khảo. Bởi vì, tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân đòi hỏi chi phí rất lớn về nhân lực và tài chính, tương đương với tổ chức bầu cử. Những trường hợp cần tham khảo ý kiến nhân dân thì có thể chỉ tổ chức lấy ý kiến nhân dân là việc chúng ta vẫn thường làm và đã có kinh nghiệm. Hình thức lấy ý kiến nhân dân tạo điều kiện cho nhân dân có thể đóng góp nhiều hơn mà ít tốn kém hơn cho Nhà nước. Cơ quan có thẩm quyền có thể đăng tải văn bản trên báo, phát tin trên đài truyền thanh, truyền hình, gửi dự thảo văn bản cho cơ quan, tổ chức có liên quan để tổ chức đóng góp ý kiến. Tuy nhiên, hoạt động lấy ý kiến nhân dân sẽ chỉ thu thập được ý kiến của một bộ phận nhỏ cử chi trong cả nước, đó không phải là ý kiến của phần lớn nhân dân. Vì vậy, một số vấn đề Nhà nước muốn tham khảo ý kiến của nhân dân thì vẫn phải tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân chứ không thể thay thế bằng việc lấy ý kiến nhân dân. Việc quy định hiệu lực pháp lý của cuộc trưng cầu ý dân bao gồm cả bắt buộc và tham khảo sẽ mở rộng được phạm vi các vấn đề được trưng cầu tạo điều kiện để nhân dân phát huy hơn nữa quyền làm chủ của mình.

Dự thảo Luật Trưng cầu ý dân cần quy định rõ những vấn đề nào được đưa ra trưng cầu ý dân. Kết quả của cuộc trưng cầu ý dân nào sẽ có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với cơ quan nhà nước và những cuộc trưng cầu ý dân nào chỉ có hiệu lực pháp lý tham khảo. Theo ý kiến cá nhân của tác giả, đối tượng trưng cầu ý dân sẽ được quy định theo hướng mở, bao gồm những vấn đề được liệt kê và những vấn đề khác do Quốc hội quyết định. Những vấn đề được liệt kê trong dự thảo luật sẽ có hiệu lực pháp lý bắt buộc, còn những vấn đề khác do Quốc hội quy định thì hiệu lực pháp lý sẽ có giá trị tham khảo.

Phạm Thanh Hưng

Khoa Luật, Học viện Cảnh sát nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: