Thứ năm 15/01/2026 06:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về thực tiễn xác định dân tộc, xác định lại dân tộc

Hiện nay, có nhiều cách hiểu về dân tộc, theo nghĩa phổ biến thì dân tộc được hiểu là “hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử, ví dụ như dân tộc Tày, dân tộc Khơ Me, dân tộc Nùng…”

Hiện nay, có nhiều cách hiểu về dân tộc, theo nghĩa phổ biến thì dân tộc được hiểu là “hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử, ví dụ như dân tộc Tày, dân tộc Khơ Me, dân tộc Nùng…”[1]. Xác định dân tộc là việc xác định lần đầu tiên dân tộc cho một cá nhân, áp dụng phổ biến đối với trường hợp trẻ sơ sinh khi làm thủ tục đăng ký khai sinh[2]. Xác định lại dân tộc là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký xác định lại dân tộc của cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự (khoản 11 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2014).
Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình” (Điều 42), “các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc” (khoản 2 Điều 5)... Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền xác định, xác định lại dân tộc. Theo đó, cá nhân có quyền xác dịnh, xác định lại dân tộc của mình (khoản 1 Điều 29) và cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong các trường hợp: (i) Xác định lại dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; (ii) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình (khoản 3 Điều 29). Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định việc xác định dân tộc trong một số trường hợp cụ thể (khoản 2 Điều 29), trường hợp xác định lại dân tộc đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi (khoản 4 Điều 29), cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc (khoản 5 Điều 29). Thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện việc xác định dân tộc và xác định lại dân tộc được quy định cụ thể trong Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
Có thể khẳng định, quyền xác định dân tộc, xác định lại dân tộc đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận tương đối đầy đủ và toàn diện. Tuy nhiên, thực tiễn phát sinh một số trường hợp cần được nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật liên quan đến việc xác định dân tộc, xác định lại dân tộc.
1. Mối quan hệ giữa xác định dân tộc, xác định lại dân tộc và họ của cá nhân
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền có họ, tên của cá nhân (Điều 26). Quyền có họ, tên và quyền xác định dân tộc nằm trong nhóm quyền cá biệt của cá nhân, gắn với một cá nhân cụ thể. Về nguyên tắc xác định họ và nguyên tắc xác định dân tộc của cá nhân có điểm tương đồng là đều dựa trên quan hệ về huyết thống giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con hoặc quan hệ nuôi dưỡng giữa cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi... Cũng giống như quyền xác định lại dân tộc thì trong một số trường hợp nhất định và theo quy định của pháp luật thì cá nhân có quyền thay đổi họ, tên của mình (Điều 27 Bộ luật Dân sự năm 2015). Như vậy, có thể khẳng định, quyền xác định dân tộc, xác định lại dân tộc với quyền có họ tên, quyền thay đổi họ tên có mối quan hệ mật thiệt với nhau. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều, đã phát sinh trường hợp cá nhân lấy dân tộc của mình theo dân tộc của mẹ và xác định họ của mình theo họ của bố. Trước tình huống này, có quan điểm cho rằng, cần hoàn thiện pháp luật theo hướng “cá nhân khi đã xác định lấy dân tộc nào thì họ cũng phải theo dân tộc đó”, để phù hợp với thuần phong của dân tộc. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, dân tộc của một cá nhân để xác định cá nhân đó thuộc cộng đồng tộc người. Họ của một cá nhân thể hiện nguồn gốc, huyết thống của người đó. Do đó, về bản chất, họ của cá nhân và dân tộc của cá nhân là hai vấn đề khác nhau. Vì vậy, họ của cá nhân và dân tộc của cá nhân được quy định các các điều khoản khác nhau trong Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể: (i) Về họ của cá nhân, Điều 26 quy định về quyền có họ, tên; Điều 27 quy định về quyền thay đổi họ; (ii) Về dân tộc của cá nhân, Điều 29 quy định về quyền xác định, xác định lại dân tộc.
Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014 cũng như pháp luật có liên quan không quy định bắt buộc cá nhân có dân tộc nào thì họ cũng phải theo dân tộc đó. Việc đặt họ, dân tộc của cá nhân được thực hiện trên nguyên tắc là quyền lựa chọn của cá nhân trong khuôn khổ quy định của Luật. Theo đó, cá nhân có thể mang họ của cha và mang dân tộc của mẹ hoặc ngược lại.
2. Xác định lại dân tộc từ dân tộc theo cha đẻ sang dân tộc theo cha nuôi
Với tấm lòng từ tâm, thương người và cưu mang, giúp đỡ những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hiện nay, nhiều gia đình đã nhận nuôi con nuôi là các trẻ em có dân tộc khác nhau. Để gia tăng tình cảm và sự gắn bó của gia đình nhận nuôi con nuôi với con nuôi, nhiều gia đình đã thay đổi họ, tên và dân tộc cho con nuôi. Trong số đó, có trường hợp cha nuôi muốn xác định lại dân tộc cho con nuôi từ dân tộc của cha đẻ sang dân tộc của cha nuôi.
Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: “Xác định lại dân tộc là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký xác định lại dân tộc của cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự” (khoản 11 Điều 4). Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp: Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình (khoản 3 Điều 29). Đối với việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.
Các quy định của pháp luật nêu trên không quy định đối với trường hợp xác định lại dân tộc của một cá nhân từ dân tộc của cha đẻ sang dân tộc của cha nuôi. Khoảng trống pháp lý nêu trên dẫn tới sự lúng túng cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc làm thủ tục xác định lại dân tộc cho cá nhân. Việc chưa có quy định cụ thể đối với trường hợp nêu trên cũng dẫn tới sự tùy nghi của các cơ quan nhà nước, cùng một vụ việc, có nơi, cá nhân được xác định lại dân tộc theo dân tộc của cha nuôi, có nơi lại bị từ chối. Vì vậy, cũng dẫn tới việc bảo đảm quyền của cá nhân cũng chưa được thực hiện một cách thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Do đó, thiết nghĩ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu, quy định rõ đối với các trường hợp nêu trên để một mặt bảo đảm quyền của cá nhân đối với xác định lại dân tộc, mặt khác bảo đảm sự thống nhất trong việc giải quyết yêu cầu từ cá nhân của các cơ quan nhà nước.
3. Xác định dân tộc, xác định lại dân tộc khi làm thẻ căn cước công dân
Theo Luật Căn cước công dân năm 2014, “cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là tập hợp thông tin cơ bản của tất cả công dân Việt Nam được chuẩn hóa, số hóa, lưu trữ, quản lý bằng cơ sở hạ tầng thông tin để phục vụ quản lý nhà nước và giao dịch của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Căn cước công dân năm 2014, dân tộc của cá nhân là một trong 15 trường thông tin được thu thập, cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ngày 11/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 366/QĐ-TTg phê duyệt chủ trương đầu tư dự án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ngày 03/9/2020, Thủ tướng ban hành Quyết định số 1368/QĐ-TTg phê duyệt chủ trương đầu tư dự án sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân. Đến tháng 4/2021, Bộ Công an đã hoàn thiện thủ tục cấp gần 40 triệu thẻ căn cước công dân trên toàn quốc[3]. Tuy nhiên, trong quá trình cấp thẻ căn cước công dân đã phát sinh những trường hợp liên quan đến việc xác định dân tộc. Theo đó, theo phản ánh của người dân trên địa bàn xã Na Mao, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nhiều người dân khi đi làm thẻ căn cước công dân đã xuất trình chứng minh thư nhân dân hoặc hộ khẩu trong đó ghi nhận dân tộc của họ là Sán Chí hoặc San Chí. Tuy nhiên, theo Quyết định số 121/TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979 của Tổng cục Thống kê về Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam không có dân tộc Sán Chí hoặc San Chí mà chỉ có dân tộc Sán Chỉ thuộc dân tộc Sán Chay (mục 15 Danh mục kèm theo Quyết định số 121/TCTK/PPCĐ). Do đó, việc nhập trường thông tin về dân tộc của những người này là không phù hợp với phần mềm cài đặt của máy về các dân tộc tại Việt Nam. Vì vậy, để làm thẻ căn cước công dân, những công dân này phải làm cải chính hộ tịch (cải chính dân tộc). Hiện nay, chưa có con số thống kê riêng đối với những người dân tộc San Chí, Sán Chí của tỉnh Thái Nguyên mà chỉ có số liệu thống kê đối với dân tộc Sán Chay (bao gồm các nhóm dân tộc Sán Chí, San Chí và Cao Lan) với trên 39.400 người. Trong đó, tập trung nhiều nhất ở huyện Phú Lương với trên 13.400 người, huyện Định Hóa với trên 9.100 người, huyện Đại Từ với trên 8.500 người, huyện Đồng Hỷ trên 2.600 người, Võ Nhai trên 2.800 người, thành phố Thái Nguyên khoảng 1.600 người, thị xã Phổ Yên trên 900 người, huyện Phú Bình 180 người, thành phố Sông Công trên 90 người[4]. Theo khảo sát thì đa phần các cá nhân đều có nguyện vọng giữ dân tộc Sán Chí, San Chí, không muốn thay đổi tên gọi dân tộc đã gắn bó với mình và đã được ghi nhận trong chứng minh nhân dân. Về vấn đề này, thiết nghĩ, trong thời gian tới, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần rà soát, thống kê lại thực trạng các dân tộc tại Việt Nam để kịp thời đánh giá và điều chỉnh (nếu cần thiết) để bảo đảm quyền xác định dân tộc của cá nhân. Đặc biệt, khi đang thu thập, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì các cơ quan nhà nước cần có hướng dẫn cụ thể, giải quyết những vướng mắc đối với việc xác định dân tộc chưa có trong danh mục 54 dân tộc hiện nay, qua đó, bảo đảm thống nhất trong thực tiễn thi hành.

Trần Thị Thu Hằng
Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp

[1] Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp, tr. 213.

[2] Nguyễn Văn Cừ & Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 77.

[3] Nguyễn Duy Ngọc (2021), Khai thác, phát huy hiệu quả cở sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở nước ta trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số, xã hội số, Tạp chí Cộng sản số 966 (5-2021), tr. 39.

[4] https://baothainguyen.vn/tin-tuc/xa-hoi/nguoi-dan-toc-san-chi-gap-kho-khan-khi-lam-can-cuoc-cong-dan-288086-85.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công bố Lệnh của Chủ tịch nước với 14 luật, 01 pháp lệnh

Công bố Lệnh của Chủ tịch nước với 14 luật, 01 pháp lệnh

Chiều 31/12, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố các luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV thông qua.
Edition 2 (443) December 2025

Edition 2 (443) December 2025

Edition 2 (443) December 2025
Edition 1 (442) December 2025

Edition 1 (442) December 2025

Edition 1 (442) December 2025
Phát huy đoàn kết, đổi mới tư duy để Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phát triển bền vững

Phát huy đoàn kết, đổi mới tư duy để Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phát triển bền vững

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc ghi nhận, biểu dương những nỗ lực vượt khó và kết quả toàn diện mà tập thể Tạp chí đã đạt được trong một năm đặc biệt nhiều áp lực, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu giữ vững đoàn kết, đổi mới tư duy quản trị và đẩy mạnh chuyển đổi số để thích ứng với bối cảnh mới của báo chí và truyền thông pháp luật.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ cơ bản của quản lý nhà nước và là cầu nối giữa pháp luật với người dân. Trong giai đoạn hiện nay, khi yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát huy vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật ngày càng cao, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã càng đóng vai trò quan trọng. Bài viết nghiên cứu thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới, xác định những kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc gặp phải. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới trong thời gian tới.
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đạt mức tốt về chuyển đổi số báo chí, được vinh danh tại tổng kết công tác tuyên giáo và dân vận

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đạt mức tốt về chuyển đổi số báo chí, được vinh danh tại tổng kết công tác tuyên giáo và dân vận

Đây không chỉ là sự ghi nhận của các cơ quan quản lý, chỉ đạo đối với nỗ lực của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trong năm 2025, mà còn là minh chứng cho hướng đi đúng đắn trong việc gắn chuyển đổi số báo chí với nhiệm vụ chính trị và yêu cầu phát triển bền vững.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trải qua 35 năm xây dựng và phát triển, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Thành ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố và tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, toàn ngành Tư pháp thành phố Huế đã triển khai thực hiện các mục tiêu với tinh thần vào cuộc “từ sớm, từ xa”, tập trung giải quyết, xử lý kịp thời những vấn đề mới phát sinh, thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ “hàng rào kỹ thuật” về các vấn đề pháp lý, nhất là lĩnh vực trực tiếp gắn liền với người dân, doanh nghiệp; góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển của thành phố Huế, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Trong bức tranh tổng thể phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, Sở Tư pháp ngày càng thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong tham mưu xây dựng thể chế, kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc thông qua những hoạt động chuyên môn sâu, rộng và tinh thần đổi mới sáng tạo không ngừng, góp phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện, bền vững của địa phương.
Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Tóm tắt: Kết luận giám định tư pháp là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng, được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án, vụ việc, giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm. Bài viết phân tích quy định của pháp luật và thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của đối tượng này nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan và hiệu quả trong hoạt động tố tụng.
Edition 2 (441) November 2025

Edition 2 (441) November 2025

Edition 2 (441) November 2025
Edition 1 (440) November 2025

Edition 1 (440) November 2025

Edition 1 (440) November 2025
Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Việc tương trợ tư pháp được cơ quan chức năng triển khai và áp dụng theo các điều ước quốc tế (song phương và đa phương) mà Việt Nam là thành viên, trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại.
Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Trong hoạt động tương trợ tư pháp (TTTP) giữa các quốc gia, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (được yêu cầu) ngoài việc áp dụng pháp luật nước mình, có phải áp dụng pháp luật nước ngoài hay không và điều kiện áp dụng ra sao là vấn đề luôn được đặt ra dưới khía cạnh tư pháp quốc tế, cũng như trong hoạt động tố tụng dân sự quốc tế nói chung.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.

Theo dõi chúng tôi trên: