Thứ bảy 15/08/2026 13:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về thực tiễn xác định dân tộc, xác định lại dân tộc

Hiện nay, có nhiều cách hiểu về dân tộc, theo nghĩa phổ biến thì dân tộc được hiểu là “hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử, ví dụ như dân tộc Tày, dân tộc Khơ Me, dân tộc Nùng…”

Hiện nay, có nhiều cách hiểu về dân tộc, theo nghĩa phổ biến thì dân tộc được hiểu là “hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử, ví dụ như dân tộc Tày, dân tộc Khơ Me, dân tộc Nùng…”[1]. Xác định dân tộc là việc xác định lần đầu tiên dân tộc cho một cá nhân, áp dụng phổ biến đối với trường hợp trẻ sơ sinh khi làm thủ tục đăng ký khai sinh[2]. Xác định lại dân tộc là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký xác định lại dân tộc của cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự (khoản 11 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2014).
Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình” (Điều 42), “các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc” (khoản 2 Điều 5)... Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền xác định, xác định lại dân tộc. Theo đó, cá nhân có quyền xác dịnh, xác định lại dân tộc của mình (khoản 1 Điều 29) và cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong các trường hợp: (i) Xác định lại dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; (ii) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình (khoản 3 Điều 29). Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định việc xác định dân tộc trong một số trường hợp cụ thể (khoản 2 Điều 29), trường hợp xác định lại dân tộc đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi (khoản 4 Điều 29), cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc (khoản 5 Điều 29). Thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện việc xác định dân tộc và xác định lại dân tộc được quy định cụ thể trong Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
Có thể khẳng định, quyền xác định dân tộc, xác định lại dân tộc đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận tương đối đầy đủ và toàn diện. Tuy nhiên, thực tiễn phát sinh một số trường hợp cần được nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật liên quan đến việc xác định dân tộc, xác định lại dân tộc.
1. Mối quan hệ giữa xác định dân tộc, xác định lại dân tộc và họ của cá nhân
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền có họ, tên của cá nhân (Điều 26). Quyền có họ, tên và quyền xác định dân tộc nằm trong nhóm quyền cá biệt của cá nhân, gắn với một cá nhân cụ thể. Về nguyên tắc xác định họ và nguyên tắc xác định dân tộc của cá nhân có điểm tương đồng là đều dựa trên quan hệ về huyết thống giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con hoặc quan hệ nuôi dưỡng giữa cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi... Cũng giống như quyền xác định lại dân tộc thì trong một số trường hợp nhất định và theo quy định của pháp luật thì cá nhân có quyền thay đổi họ, tên của mình (Điều 27 Bộ luật Dân sự năm 2015). Như vậy, có thể khẳng định, quyền xác định dân tộc, xác định lại dân tộc với quyền có họ tên, quyền thay đổi họ tên có mối quan hệ mật thiệt với nhau. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều, đã phát sinh trường hợp cá nhân lấy dân tộc của mình theo dân tộc của mẹ và xác định họ của mình theo họ của bố. Trước tình huống này, có quan điểm cho rằng, cần hoàn thiện pháp luật theo hướng “cá nhân khi đã xác định lấy dân tộc nào thì họ cũng phải theo dân tộc đó”, để phù hợp với thuần phong của dân tộc. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, dân tộc của một cá nhân để xác định cá nhân đó thuộc cộng đồng tộc người. Họ của một cá nhân thể hiện nguồn gốc, huyết thống của người đó. Do đó, về bản chất, họ của cá nhân và dân tộc của cá nhân là hai vấn đề khác nhau. Vì vậy, họ của cá nhân và dân tộc của cá nhân được quy định các các điều khoản khác nhau trong Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể: (i) Về họ của cá nhân, Điều 26 quy định về quyền có họ, tên; Điều 27 quy định về quyền thay đổi họ; (ii) Về dân tộc của cá nhân, Điều 29 quy định về quyền xác định, xác định lại dân tộc.
Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014 cũng như pháp luật có liên quan không quy định bắt buộc cá nhân có dân tộc nào thì họ cũng phải theo dân tộc đó. Việc đặt họ, dân tộc của cá nhân được thực hiện trên nguyên tắc là quyền lựa chọn của cá nhân trong khuôn khổ quy định của Luật. Theo đó, cá nhân có thể mang họ của cha và mang dân tộc của mẹ hoặc ngược lại.
2. Xác định lại dân tộc từ dân tộc theo cha đẻ sang dân tộc theo cha nuôi
Với tấm lòng từ tâm, thương người và cưu mang, giúp đỡ những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hiện nay, nhiều gia đình đã nhận nuôi con nuôi là các trẻ em có dân tộc khác nhau. Để gia tăng tình cảm và sự gắn bó của gia đình nhận nuôi con nuôi với con nuôi, nhiều gia đình đã thay đổi họ, tên và dân tộc cho con nuôi. Trong số đó, có trường hợp cha nuôi muốn xác định lại dân tộc cho con nuôi từ dân tộc của cha đẻ sang dân tộc của cha nuôi.
Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: “Xác định lại dân tộc là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký xác định lại dân tộc của cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự” (khoản 11 Điều 4). Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp: Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình (khoản 3 Điều 29). Đối với việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.
Các quy định của pháp luật nêu trên không quy định đối với trường hợp xác định lại dân tộc của một cá nhân từ dân tộc của cha đẻ sang dân tộc của cha nuôi. Khoảng trống pháp lý nêu trên dẫn tới sự lúng túng cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc làm thủ tục xác định lại dân tộc cho cá nhân. Việc chưa có quy định cụ thể đối với trường hợp nêu trên cũng dẫn tới sự tùy nghi của các cơ quan nhà nước, cùng một vụ việc, có nơi, cá nhân được xác định lại dân tộc theo dân tộc của cha nuôi, có nơi lại bị từ chối. Vì vậy, cũng dẫn tới việc bảo đảm quyền của cá nhân cũng chưa được thực hiện một cách thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Do đó, thiết nghĩ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu, quy định rõ đối với các trường hợp nêu trên để một mặt bảo đảm quyền của cá nhân đối với xác định lại dân tộc, mặt khác bảo đảm sự thống nhất trong việc giải quyết yêu cầu từ cá nhân của các cơ quan nhà nước.
3. Xác định dân tộc, xác định lại dân tộc khi làm thẻ căn cước công dân
Theo Luật Căn cước công dân năm 2014, “cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là tập hợp thông tin cơ bản của tất cả công dân Việt Nam được chuẩn hóa, số hóa, lưu trữ, quản lý bằng cơ sở hạ tầng thông tin để phục vụ quản lý nhà nước và giao dịch của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Căn cước công dân năm 2014, dân tộc của cá nhân là một trong 15 trường thông tin được thu thập, cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ngày 11/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 366/QĐ-TTg phê duyệt chủ trương đầu tư dự án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ngày 03/9/2020, Thủ tướng ban hành Quyết định số 1368/QĐ-TTg phê duyệt chủ trương đầu tư dự án sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân. Đến tháng 4/2021, Bộ Công an đã hoàn thiện thủ tục cấp gần 40 triệu thẻ căn cước công dân trên toàn quốc[3]. Tuy nhiên, trong quá trình cấp thẻ căn cước công dân đã phát sinh những trường hợp liên quan đến việc xác định dân tộc. Theo đó, theo phản ánh của người dân trên địa bàn xã Na Mao, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nhiều người dân khi đi làm thẻ căn cước công dân đã xuất trình chứng minh thư nhân dân hoặc hộ khẩu trong đó ghi nhận dân tộc của họ là Sán Chí hoặc San Chí. Tuy nhiên, theo Quyết định số 121/TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979 của Tổng cục Thống kê về Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam không có dân tộc Sán Chí hoặc San Chí mà chỉ có dân tộc Sán Chỉ thuộc dân tộc Sán Chay (mục 15 Danh mục kèm theo Quyết định số 121/TCTK/PPCĐ). Do đó, việc nhập trường thông tin về dân tộc của những người này là không phù hợp với phần mềm cài đặt của máy về các dân tộc tại Việt Nam. Vì vậy, để làm thẻ căn cước công dân, những công dân này phải làm cải chính hộ tịch (cải chính dân tộc). Hiện nay, chưa có con số thống kê riêng đối với những người dân tộc San Chí, Sán Chí của tỉnh Thái Nguyên mà chỉ có số liệu thống kê đối với dân tộc Sán Chay (bao gồm các nhóm dân tộc Sán Chí, San Chí và Cao Lan) với trên 39.400 người. Trong đó, tập trung nhiều nhất ở huyện Phú Lương với trên 13.400 người, huyện Định Hóa với trên 9.100 người, huyện Đại Từ với trên 8.500 người, huyện Đồng Hỷ trên 2.600 người, Võ Nhai trên 2.800 người, thành phố Thái Nguyên khoảng 1.600 người, thị xã Phổ Yên trên 900 người, huyện Phú Bình 180 người, thành phố Sông Công trên 90 người[4]. Theo khảo sát thì đa phần các cá nhân đều có nguyện vọng giữ dân tộc Sán Chí, San Chí, không muốn thay đổi tên gọi dân tộc đã gắn bó với mình và đã được ghi nhận trong chứng minh nhân dân. Về vấn đề này, thiết nghĩ, trong thời gian tới, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần rà soát, thống kê lại thực trạng các dân tộc tại Việt Nam để kịp thời đánh giá và điều chỉnh (nếu cần thiết) để bảo đảm quyền xác định dân tộc của cá nhân. Đặc biệt, khi đang thu thập, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì các cơ quan nhà nước cần có hướng dẫn cụ thể, giải quyết những vướng mắc đối với việc xác định dân tộc chưa có trong danh mục 54 dân tộc hiện nay, qua đó, bảo đảm thống nhất trong thực tiễn thi hành.

Trần Thị Thu Hằng
Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp

[1] Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp, tr. 213.

[2] Nguyễn Văn Cừ & Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 77.

[3] Nguyễn Duy Ngọc (2021), Khai thác, phát huy hiệu quả cở sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở nước ta trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số, xã hội số, Tạp chí Cộng sản số 966 (5-2021), tr. 39.

[4] https://baothainguyen.vn/tin-tuc/xa-hoi/nguoi-dan-toc-san-chi-gap-kho-khan-khi-lam-can-cuoc-cong-dan-288086-85.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những bước chuyển dịch mang tính chiến lược, yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn liền với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng trở nên cấp bách. Trong tiến trình đó, hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) giữ vai trò nền tảng trong việc hiện thực hóa công bằng xã hội và bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế. Để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã ban các hành kế hoạch và tổ chức triển khai các nội dung của Luật Trợ giúp pháp lý, góp phần thực hiện quyền con người, quyền công dân. Trong 06 tháng đầu năm 2026, công tác TGPL tại Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã đạt được những kết quả đáng kể.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống thi hành án dân sự Việt Nam (19/7/1946 - 19/7/2026) là dịp để nhìn lại chặng đường hình thành, xây dựng và phát triển của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) - bộ phận cấu thành không thể tách rời của nền tư pháp Việt Nam. Trải qua 80 năm, Hệ thống THADS không ngừng được củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cơ chế pháp lý, đóng góp quan trọng vào công cuộc bảo vệ công lý, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tiến trình đó, mối quan hệ phối hợp giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan THADS luôn giữ vai trò trung tâm, là “sợi chỉ đỏ” kết nối hoạt động xét xử với hoạt động thi hành án, bảo đảm mỗi bản án, quyết định của Tòa án không chỉ dừng lại trên văn bản mà thực sự đi vào cuộc sống, phát huy giá trị, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, trong bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang đặt ra ngày càng cấp thiết, việc tổng kết, phân tích công tác phối hợp giữa hai thiết chế này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, chuyển đổi số và sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ mới đối với Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS). Theo đó, công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ không chỉ giải đáp khó khăn, vướng mắc trong từng vụ việc cụ thể mà còn phải bảo đảm thống nhất nhận thức, áp dụng pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, chỉ đạo, điều hành trong toàn Hệ thống THADS. Thực tiễn cho thấy, chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ có tác động trực tiếp đến chất lượng tổ chức thi hành án và kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, việc đổi mới tư duy, quy trình và nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ THADS là yêu cầu cấp thiết, góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam ghi nhận dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự, đồng thời, thiết lập cơ chế giám định tư pháp nhằm phục vụ hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự còn bộc lộ nhiều hạn chế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu làm rõ những bất cập, hạn chế trong hoạt động giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: