Thứ sáu 13/03/2026 15:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về thực tiễn xác định dân tộc, xác định lại dân tộc

Hiện nay, có nhiều cách hiểu về dân tộc, theo nghĩa phổ biến thì dân tộc được hiểu là “hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử, ví dụ như dân tộc Tày, dân tộc Khơ Me, dân tộc Nùng…”

Hiện nay, có nhiều cách hiểu về dân tộc, theo nghĩa phổ biến thì dân tộc được hiểu là “hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử, ví dụ như dân tộc Tày, dân tộc Khơ Me, dân tộc Nùng…”[1]. Xác định dân tộc là việc xác định lần đầu tiên dân tộc cho một cá nhân, áp dụng phổ biến đối với trường hợp trẻ sơ sinh khi làm thủ tục đăng ký khai sinh[2]. Xác định lại dân tộc là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký xác định lại dân tộc của cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự (khoản 11 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2014).
Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình” (Điều 42), “các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc” (khoản 2 Điều 5)... Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền xác định, xác định lại dân tộc. Theo đó, cá nhân có quyền xác dịnh, xác định lại dân tộc của mình (khoản 1 Điều 29) và cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong các trường hợp: (i) Xác định lại dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; (ii) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình (khoản 3 Điều 29). Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định việc xác định dân tộc trong một số trường hợp cụ thể (khoản 2 Điều 29), trường hợp xác định lại dân tộc đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi (khoản 4 Điều 29), cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc (khoản 5 Điều 29). Thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện việc xác định dân tộc và xác định lại dân tộc được quy định cụ thể trong Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
Có thể khẳng định, quyền xác định dân tộc, xác định lại dân tộc đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận tương đối đầy đủ và toàn diện. Tuy nhiên, thực tiễn phát sinh một số trường hợp cần được nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật liên quan đến việc xác định dân tộc, xác định lại dân tộc.
1. Mối quan hệ giữa xác định dân tộc, xác định lại dân tộc và họ của cá nhân
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền có họ, tên của cá nhân (Điều 26). Quyền có họ, tên và quyền xác định dân tộc nằm trong nhóm quyền cá biệt của cá nhân, gắn với một cá nhân cụ thể. Về nguyên tắc xác định họ và nguyên tắc xác định dân tộc của cá nhân có điểm tương đồng là đều dựa trên quan hệ về huyết thống giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con hoặc quan hệ nuôi dưỡng giữa cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi... Cũng giống như quyền xác định lại dân tộc thì trong một số trường hợp nhất định và theo quy định của pháp luật thì cá nhân có quyền thay đổi họ, tên của mình (Điều 27 Bộ luật Dân sự năm 2015). Như vậy, có thể khẳng định, quyền xác định dân tộc, xác định lại dân tộc với quyền có họ tên, quyền thay đổi họ tên có mối quan hệ mật thiệt với nhau. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều, đã phát sinh trường hợp cá nhân lấy dân tộc của mình theo dân tộc của mẹ và xác định họ của mình theo họ của bố. Trước tình huống này, có quan điểm cho rằng, cần hoàn thiện pháp luật theo hướng “cá nhân khi đã xác định lấy dân tộc nào thì họ cũng phải theo dân tộc đó”, để phù hợp với thuần phong của dân tộc. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, dân tộc của một cá nhân để xác định cá nhân đó thuộc cộng đồng tộc người. Họ của một cá nhân thể hiện nguồn gốc, huyết thống của người đó. Do đó, về bản chất, họ của cá nhân và dân tộc của cá nhân là hai vấn đề khác nhau. Vì vậy, họ của cá nhân và dân tộc của cá nhân được quy định các các điều khoản khác nhau trong Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể: (i) Về họ của cá nhân, Điều 26 quy định về quyền có họ, tên; Điều 27 quy định về quyền thay đổi họ; (ii) Về dân tộc của cá nhân, Điều 29 quy định về quyền xác định, xác định lại dân tộc.
Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014 cũng như pháp luật có liên quan không quy định bắt buộc cá nhân có dân tộc nào thì họ cũng phải theo dân tộc đó. Việc đặt họ, dân tộc của cá nhân được thực hiện trên nguyên tắc là quyền lựa chọn của cá nhân trong khuôn khổ quy định của Luật. Theo đó, cá nhân có thể mang họ của cha và mang dân tộc của mẹ hoặc ngược lại.
2. Xác định lại dân tộc từ dân tộc theo cha đẻ sang dân tộc theo cha nuôi
Với tấm lòng từ tâm, thương người và cưu mang, giúp đỡ những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hiện nay, nhiều gia đình đã nhận nuôi con nuôi là các trẻ em có dân tộc khác nhau. Để gia tăng tình cảm và sự gắn bó của gia đình nhận nuôi con nuôi với con nuôi, nhiều gia đình đã thay đổi họ, tên và dân tộc cho con nuôi. Trong số đó, có trường hợp cha nuôi muốn xác định lại dân tộc cho con nuôi từ dân tộc của cha đẻ sang dân tộc của cha nuôi.
Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: “Xác định lại dân tộc là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký xác định lại dân tộc của cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự” (khoản 11 Điều 4). Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp: Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình (khoản 3 Điều 29). Đối với việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.
Các quy định của pháp luật nêu trên không quy định đối với trường hợp xác định lại dân tộc của một cá nhân từ dân tộc của cha đẻ sang dân tộc của cha nuôi. Khoảng trống pháp lý nêu trên dẫn tới sự lúng túng cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc làm thủ tục xác định lại dân tộc cho cá nhân. Việc chưa có quy định cụ thể đối với trường hợp nêu trên cũng dẫn tới sự tùy nghi của các cơ quan nhà nước, cùng một vụ việc, có nơi, cá nhân được xác định lại dân tộc theo dân tộc của cha nuôi, có nơi lại bị từ chối. Vì vậy, cũng dẫn tới việc bảo đảm quyền của cá nhân cũng chưa được thực hiện một cách thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Do đó, thiết nghĩ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu, quy định rõ đối với các trường hợp nêu trên để một mặt bảo đảm quyền của cá nhân đối với xác định lại dân tộc, mặt khác bảo đảm sự thống nhất trong việc giải quyết yêu cầu từ cá nhân của các cơ quan nhà nước.
3. Xác định dân tộc, xác định lại dân tộc khi làm thẻ căn cước công dân
Theo Luật Căn cước công dân năm 2014, “cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là tập hợp thông tin cơ bản của tất cả công dân Việt Nam được chuẩn hóa, số hóa, lưu trữ, quản lý bằng cơ sở hạ tầng thông tin để phục vụ quản lý nhà nước và giao dịch của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Căn cước công dân năm 2014, dân tộc của cá nhân là một trong 15 trường thông tin được thu thập, cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ngày 11/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 366/QĐ-TTg phê duyệt chủ trương đầu tư dự án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ngày 03/9/2020, Thủ tướng ban hành Quyết định số 1368/QĐ-TTg phê duyệt chủ trương đầu tư dự án sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân. Đến tháng 4/2021, Bộ Công an đã hoàn thiện thủ tục cấp gần 40 triệu thẻ căn cước công dân trên toàn quốc[3]. Tuy nhiên, trong quá trình cấp thẻ căn cước công dân đã phát sinh những trường hợp liên quan đến việc xác định dân tộc. Theo đó, theo phản ánh của người dân trên địa bàn xã Na Mao, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nhiều người dân khi đi làm thẻ căn cước công dân đã xuất trình chứng minh thư nhân dân hoặc hộ khẩu trong đó ghi nhận dân tộc của họ là Sán Chí hoặc San Chí. Tuy nhiên, theo Quyết định số 121/TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979 của Tổng cục Thống kê về Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam không có dân tộc Sán Chí hoặc San Chí mà chỉ có dân tộc Sán Chỉ thuộc dân tộc Sán Chay (mục 15 Danh mục kèm theo Quyết định số 121/TCTK/PPCĐ). Do đó, việc nhập trường thông tin về dân tộc của những người này là không phù hợp với phần mềm cài đặt của máy về các dân tộc tại Việt Nam. Vì vậy, để làm thẻ căn cước công dân, những công dân này phải làm cải chính hộ tịch (cải chính dân tộc). Hiện nay, chưa có con số thống kê riêng đối với những người dân tộc San Chí, Sán Chí của tỉnh Thái Nguyên mà chỉ có số liệu thống kê đối với dân tộc Sán Chay (bao gồm các nhóm dân tộc Sán Chí, San Chí và Cao Lan) với trên 39.400 người. Trong đó, tập trung nhiều nhất ở huyện Phú Lương với trên 13.400 người, huyện Định Hóa với trên 9.100 người, huyện Đại Từ với trên 8.500 người, huyện Đồng Hỷ trên 2.600 người, Võ Nhai trên 2.800 người, thành phố Thái Nguyên khoảng 1.600 người, thị xã Phổ Yên trên 900 người, huyện Phú Bình 180 người, thành phố Sông Công trên 90 người[4]. Theo khảo sát thì đa phần các cá nhân đều có nguyện vọng giữ dân tộc Sán Chí, San Chí, không muốn thay đổi tên gọi dân tộc đã gắn bó với mình và đã được ghi nhận trong chứng minh nhân dân. Về vấn đề này, thiết nghĩ, trong thời gian tới, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần rà soát, thống kê lại thực trạng các dân tộc tại Việt Nam để kịp thời đánh giá và điều chỉnh (nếu cần thiết) để bảo đảm quyền xác định dân tộc của cá nhân. Đặc biệt, khi đang thu thập, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì các cơ quan nhà nước cần có hướng dẫn cụ thể, giải quyết những vướng mắc đối với việc xác định dân tộc chưa có trong danh mục 54 dân tộc hiện nay, qua đó, bảo đảm thống nhất trong thực tiễn thi hành.

Trần Thị Thu Hằng
Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp

[1] Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp, tr. 213.

[2] Nguyễn Văn Cừ & Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 77.

[3] Nguyễn Duy Ngọc (2021), Khai thác, phát huy hiệu quả cở sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở nước ta trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số, xã hội số, Tạp chí Cộng sản số 966 (5-2021), tr. 39.

[4] https://baothainguyen.vn/tin-tuc/xa-hoi/nguoi-dan-toc-san-chi-gap-kho-khan-khi-lam-can-cuoc-cong-dan-288086-85.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Điều kiện về tuổi như thế nào để được đi bầu cử vào ngày 15/3/2026

Điều kiện về tuổi như thế nào để được đi bầu cử vào ngày 15/3/2026

Công dân từ đủ 18 tuổi tính đến ngày bầu cử 15/3/2026, tức là có ngày sinh từ ngày 15/3/2008 trở về trước thì được xác định là đủ tuổi để được ghi vào danh sách cử tri để bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Dòng tự sự đầu năm

Dòng tự sự đầu năm

Năm cũ qua đi trong sắc pháo hoa rực rỡ, không khí se se lạnh của những ngày giáp Tết Hà Nội khiến lòng tôi bồi hồi khó tả. Nhìn cây đào đã lấm tấm nụ hồng trước thềm, tôi chợt nhớ đến mùa xuân năm nào, khi con gái út quyết định hoãn chuyến bay sang trời Tây. Con muốn dành thêm một năm học Luật tại quê nhà, dù trong tay đã có thông báo nhập học và học bổng toàn phần từ một trường đại học danh tiếng của Pháp. Câu hỏi “Tại sao con?” của tôi ngày ấy chỉ nhận được lời đáp bí ẩn: “Con sẽ trả lời ba sau 10 năm!”.
Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain)… làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Edition 1 (444) January 2026

Edition 1 (444) January 2026

Edition 1 (444) January 2026
Công bố Lệnh của Chủ tịch nước với 14 luật, 01 pháp lệnh

Công bố Lệnh của Chủ tịch nước với 14 luật, 01 pháp lệnh

Chiều 31/12, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố các luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV thông qua.
Edition 2 (443) December 2025

Edition 2 (443) December 2025

Edition 2 (443) December 2025
Edition 1 (442) December 2025

Edition 1 (442) December 2025

Edition 1 (442) December 2025
Phát huy đoàn kết, đổi mới tư duy để Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phát triển bền vững

Phát huy đoàn kết, đổi mới tư duy để Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phát triển bền vững

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc ghi nhận, biểu dương những nỗ lực vượt khó và kết quả toàn diện mà tập thể Tạp chí đã đạt được trong một năm đặc biệt nhiều áp lực, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu giữ vững đoàn kết, đổi mới tư duy quản trị và đẩy mạnh chuyển đổi số để thích ứng với bối cảnh mới của báo chí và truyền thông pháp luật.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ cơ bản của quản lý nhà nước và là cầu nối giữa pháp luật với người dân. Trong giai đoạn hiện nay, khi yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát huy vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật ngày càng cao, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã càng đóng vai trò quan trọng. Bài viết nghiên cứu thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới, xác định những kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc gặp phải. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới trong thời gian tới.
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đạt mức tốt về chuyển đổi số báo chí, được vinh danh tại tổng kết công tác tuyên giáo và dân vận

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đạt mức tốt về chuyển đổi số báo chí, được vinh danh tại tổng kết công tác tuyên giáo và dân vận

Đây không chỉ là sự ghi nhận của các cơ quan quản lý, chỉ đạo đối với nỗ lực của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trong năm 2025, mà còn là minh chứng cho hướng đi đúng đắn trong việc gắn chuyển đổi số báo chí với nhiệm vụ chính trị và yêu cầu phát triển bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: