Thứ tư 17/06/2026 07:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về thực tiễn xác định dân tộc, xác định lại dân tộc

Hiện nay, có nhiều cách hiểu về dân tộc, theo nghĩa phổ biến thì dân tộc được hiểu là “hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử, ví dụ như dân tộc Tày, dân tộc Khơ Me, dân tộc Nùng…”

Hiện nay, có nhiều cách hiểu về dân tộc, theo nghĩa phổ biến thì dân tộc được hiểu là “hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử, ví dụ như dân tộc Tày, dân tộc Khơ Me, dân tộc Nùng…”[1]. Xác định dân tộc là việc xác định lần đầu tiên dân tộc cho một cá nhân, áp dụng phổ biến đối với trường hợp trẻ sơ sinh khi làm thủ tục đăng ký khai sinh[2]. Xác định lại dân tộc là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký xác định lại dân tộc của cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự (khoản 11 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2014).
Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình” (Điều 42), “các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc” (khoản 2 Điều 5)... Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền xác định, xác định lại dân tộc. Theo đó, cá nhân có quyền xác dịnh, xác định lại dân tộc của mình (khoản 1 Điều 29) và cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong các trường hợp: (i) Xác định lại dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; (ii) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình (khoản 3 Điều 29). Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định việc xác định dân tộc trong một số trường hợp cụ thể (khoản 2 Điều 29), trường hợp xác định lại dân tộc đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi (khoản 4 Điều 29), cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc (khoản 5 Điều 29). Thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện việc xác định dân tộc và xác định lại dân tộc được quy định cụ thể trong Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
Có thể khẳng định, quyền xác định dân tộc, xác định lại dân tộc đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận tương đối đầy đủ và toàn diện. Tuy nhiên, thực tiễn phát sinh một số trường hợp cần được nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật liên quan đến việc xác định dân tộc, xác định lại dân tộc.
1. Mối quan hệ giữa xác định dân tộc, xác định lại dân tộc và họ của cá nhân
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền có họ, tên của cá nhân (Điều 26). Quyền có họ, tên và quyền xác định dân tộc nằm trong nhóm quyền cá biệt của cá nhân, gắn với một cá nhân cụ thể. Về nguyên tắc xác định họ và nguyên tắc xác định dân tộc của cá nhân có điểm tương đồng là đều dựa trên quan hệ về huyết thống giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con hoặc quan hệ nuôi dưỡng giữa cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi... Cũng giống như quyền xác định lại dân tộc thì trong một số trường hợp nhất định và theo quy định của pháp luật thì cá nhân có quyền thay đổi họ, tên của mình (Điều 27 Bộ luật Dân sự năm 2015). Như vậy, có thể khẳng định, quyền xác định dân tộc, xác định lại dân tộc với quyền có họ tên, quyền thay đổi họ tên có mối quan hệ mật thiệt với nhau. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều, đã phát sinh trường hợp cá nhân lấy dân tộc của mình theo dân tộc của mẹ và xác định họ của mình theo họ của bố. Trước tình huống này, có quan điểm cho rằng, cần hoàn thiện pháp luật theo hướng “cá nhân khi đã xác định lấy dân tộc nào thì họ cũng phải theo dân tộc đó”, để phù hợp với thuần phong của dân tộc. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, dân tộc của một cá nhân để xác định cá nhân đó thuộc cộng đồng tộc người. Họ của một cá nhân thể hiện nguồn gốc, huyết thống của người đó. Do đó, về bản chất, họ của cá nhân và dân tộc của cá nhân là hai vấn đề khác nhau. Vì vậy, họ của cá nhân và dân tộc của cá nhân được quy định các các điều khoản khác nhau trong Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể: (i) Về họ của cá nhân, Điều 26 quy định về quyền có họ, tên; Điều 27 quy định về quyền thay đổi họ; (ii) Về dân tộc của cá nhân, Điều 29 quy định về quyền xác định, xác định lại dân tộc.
Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014 cũng như pháp luật có liên quan không quy định bắt buộc cá nhân có dân tộc nào thì họ cũng phải theo dân tộc đó. Việc đặt họ, dân tộc của cá nhân được thực hiện trên nguyên tắc là quyền lựa chọn của cá nhân trong khuôn khổ quy định của Luật. Theo đó, cá nhân có thể mang họ của cha và mang dân tộc của mẹ hoặc ngược lại.
2. Xác định lại dân tộc từ dân tộc theo cha đẻ sang dân tộc theo cha nuôi
Với tấm lòng từ tâm, thương người và cưu mang, giúp đỡ những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hiện nay, nhiều gia đình đã nhận nuôi con nuôi là các trẻ em có dân tộc khác nhau. Để gia tăng tình cảm và sự gắn bó của gia đình nhận nuôi con nuôi với con nuôi, nhiều gia đình đã thay đổi họ, tên và dân tộc cho con nuôi. Trong số đó, có trường hợp cha nuôi muốn xác định lại dân tộc cho con nuôi từ dân tộc của cha đẻ sang dân tộc của cha nuôi.
Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: “Xác định lại dân tộc là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký xác định lại dân tộc của cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự” (khoản 11 Điều 4). Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp: Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình (khoản 3 Điều 29). Đối với việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.
Các quy định của pháp luật nêu trên không quy định đối với trường hợp xác định lại dân tộc của một cá nhân từ dân tộc của cha đẻ sang dân tộc của cha nuôi. Khoảng trống pháp lý nêu trên dẫn tới sự lúng túng cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc làm thủ tục xác định lại dân tộc cho cá nhân. Việc chưa có quy định cụ thể đối với trường hợp nêu trên cũng dẫn tới sự tùy nghi của các cơ quan nhà nước, cùng một vụ việc, có nơi, cá nhân được xác định lại dân tộc theo dân tộc của cha nuôi, có nơi lại bị từ chối. Vì vậy, cũng dẫn tới việc bảo đảm quyền của cá nhân cũng chưa được thực hiện một cách thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Do đó, thiết nghĩ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu, quy định rõ đối với các trường hợp nêu trên để một mặt bảo đảm quyền của cá nhân đối với xác định lại dân tộc, mặt khác bảo đảm sự thống nhất trong việc giải quyết yêu cầu từ cá nhân của các cơ quan nhà nước.
3. Xác định dân tộc, xác định lại dân tộc khi làm thẻ căn cước công dân
Theo Luật Căn cước công dân năm 2014, “cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là tập hợp thông tin cơ bản của tất cả công dân Việt Nam được chuẩn hóa, số hóa, lưu trữ, quản lý bằng cơ sở hạ tầng thông tin để phục vụ quản lý nhà nước và giao dịch của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Căn cước công dân năm 2014, dân tộc của cá nhân là một trong 15 trường thông tin được thu thập, cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ngày 11/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 366/QĐ-TTg phê duyệt chủ trương đầu tư dự án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ngày 03/9/2020, Thủ tướng ban hành Quyết định số 1368/QĐ-TTg phê duyệt chủ trương đầu tư dự án sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân. Đến tháng 4/2021, Bộ Công an đã hoàn thiện thủ tục cấp gần 40 triệu thẻ căn cước công dân trên toàn quốc[3]. Tuy nhiên, trong quá trình cấp thẻ căn cước công dân đã phát sinh những trường hợp liên quan đến việc xác định dân tộc. Theo đó, theo phản ánh của người dân trên địa bàn xã Na Mao, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nhiều người dân khi đi làm thẻ căn cước công dân đã xuất trình chứng minh thư nhân dân hoặc hộ khẩu trong đó ghi nhận dân tộc của họ là Sán Chí hoặc San Chí. Tuy nhiên, theo Quyết định số 121/TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979 của Tổng cục Thống kê về Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam không có dân tộc Sán Chí hoặc San Chí mà chỉ có dân tộc Sán Chỉ thuộc dân tộc Sán Chay (mục 15 Danh mục kèm theo Quyết định số 121/TCTK/PPCĐ). Do đó, việc nhập trường thông tin về dân tộc của những người này là không phù hợp với phần mềm cài đặt của máy về các dân tộc tại Việt Nam. Vì vậy, để làm thẻ căn cước công dân, những công dân này phải làm cải chính hộ tịch (cải chính dân tộc). Hiện nay, chưa có con số thống kê riêng đối với những người dân tộc San Chí, Sán Chí của tỉnh Thái Nguyên mà chỉ có số liệu thống kê đối với dân tộc Sán Chay (bao gồm các nhóm dân tộc Sán Chí, San Chí và Cao Lan) với trên 39.400 người. Trong đó, tập trung nhiều nhất ở huyện Phú Lương với trên 13.400 người, huyện Định Hóa với trên 9.100 người, huyện Đại Từ với trên 8.500 người, huyện Đồng Hỷ trên 2.600 người, Võ Nhai trên 2.800 người, thành phố Thái Nguyên khoảng 1.600 người, thị xã Phổ Yên trên 900 người, huyện Phú Bình 180 người, thành phố Sông Công trên 90 người[4]. Theo khảo sát thì đa phần các cá nhân đều có nguyện vọng giữ dân tộc Sán Chí, San Chí, không muốn thay đổi tên gọi dân tộc đã gắn bó với mình và đã được ghi nhận trong chứng minh nhân dân. Về vấn đề này, thiết nghĩ, trong thời gian tới, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần rà soát, thống kê lại thực trạng các dân tộc tại Việt Nam để kịp thời đánh giá và điều chỉnh (nếu cần thiết) để bảo đảm quyền xác định dân tộc của cá nhân. Đặc biệt, khi đang thu thập, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì các cơ quan nhà nước cần có hướng dẫn cụ thể, giải quyết những vướng mắc đối với việc xác định dân tộc chưa có trong danh mục 54 dân tộc hiện nay, qua đó, bảo đảm thống nhất trong thực tiễn thi hành.

Trần Thị Thu Hằng
Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp

[1] Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp, tr. 213.

[2] Nguyễn Văn Cừ & Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 77.

[3] Nguyễn Duy Ngọc (2021), Khai thác, phát huy hiệu quả cở sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở nước ta trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số, xã hội số, Tạp chí Cộng sản số 966 (5-2021), tr. 39.

[4] https://baothainguyen.vn/tin-tuc/xa-hoi/nguoi-dan-toc-san-chi-gap-kho-khan-khi-lam-can-cuoc-cong-dan-288086-85.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (dự thảo Nghị định) theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 để thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.
Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Một số kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Một số kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 được ban hành nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm triển khai thi hành, Luật đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện ở việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, mở rộng phạm vi và phương thức tiếp cận thông tin, cũng như nâng cao hiệu quả công khai và cung cấp thông tin trên thực tiễn. Tuy nhiên, trước bối cảnh phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, việc thực thi Luật bộc lộ một số hạn chế, bất cập cả về quy định pháp luật và tổ chức thực hiện. Trên cơ sở phân tích các kết quả đạt được, bối cảnh và những vấn đề đặt ra, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiếp cận thông tin, qua đó bảo đảm thực hiện thực chất, hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới.
Bảo vệ quyền của người dân trong thương mại hóa di sản văn hóa tại thành phố Huế - tiếp cận từ du lịch cộng đồng

Bảo vệ quyền của người dân trong thương mại hóa di sản văn hóa tại thành phố Huế - tiếp cận từ du lịch cộng đồng

Tóm tắt: Thành phố Huế được định hướng trở thành đô thị di sản; xu hướng thương mại hóa di sản văn hóa gắn với du lịch cộng đồng đặt ra yêu cầu cấp thiết bảo vệ quyền và lợi ích cư dân địa phương. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn bảo vệ quyền của cư dân trong hoạt động thương mại hóa di sản tại các mô hình du lịch cộng đồng ở thành phố Huế giai đoạn 2010 - 2025. Trên cơ sở tiếp cận quyền con người, nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật và khai thác số liệu thứ cấp, chỉ ra nguy cơ biến dạng giá trị văn hóa, bất bình đẳng trong chia sẻ lợi ích, tác động đến không gian sống và sinh kế truyền thống, trong khi cơ chế tham gia, giám sát của cộng đồng còn hạn chế. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện chính sách và cơ chế bảo vệ quyền cư dân trong phát triển du lịch cộng đồng tại thành phố Huế.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Trong bối cảnh Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đang được sửa đổi, việc đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền trở nên cần thiết. Bài viết tiếp cận theo hướng dựa trên quyền con người, phân tích nội dung quyền theo Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và pháp luật hiện hành, đồng thời, đánh giá thực tiễn thi hành giai đoạn 2018 - 2025. Nghiên cứu cho thấy, bên cạnh những tiến bộ, thành công, kết quả đạt được, còn tồn tại khoảng cách giữa ghi nhận và thụ hưởng quyền, thể hiện qua thủ tục hành chính, sự không đồng đều trong thực thi và khoảng trống pháp lý trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và đề xuất hoàn thiện theo hướng tăng cường tính minh bạch, giảm điều kiện hóa quyền và nâng cao cơ chế bảo vệ quyền.
Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào DTTS, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách toàn diện, trong đó có trợ giúp pháp lý, thể hiện tính nhân văn và định hướng xã hội chủ nghĩa của hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Từ khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được ban hành và có hiệu lực, đồng bào DTTS tại tỉnh Lạng Sơn có điều kiện tiếp cận và thụ hưởng ngày càng hiệu quả hơn dịch vụ pháp lý quan trọng này.
Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân

Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân

Trong bối cảnh mới, việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm bớt số lượng giấy tờ, rút ngắn thời gian xử lý và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết. Theo đó, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đã hoàn thiện một số quy định về thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính về tín ngưỡng, tôn giáo.
Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên mới, việc tăng cường nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, đặc biệt, cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng.
Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Phiên tòa giả định được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác tuyên truyền pháp luật về trợ giúp pháp lý cho trẻ em nói riêng và chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung, góp phần xây dựng đất nước công bằng, xã hội văn minh trong kỷ nguyên mới.
Một số bất cập của pháp luật về trợ giúp pháp lý và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của pháp luật về trợ giúp pháp lý và kiến nghị hoàn thiện

Việc nghiên cứu, định hướng sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, trong đó có vấn đề chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý, lĩnh vực thực hiện trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý được xây dựng trên nền tảng pháp lý vững chắc, đồng thời, chịu sự tác động mạnh mẽ từ yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng của Việt Nam.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình

Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp là tổ chức cơ sở đoàn trực thuộc Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Chính phủ, nơi hội tụ, tập hợp đội ngũ cán bộ trẻ đầy nhiệt huyết, có trình độ chuyên môn cao, hoạt động trong lĩnh vực pháp luật. Lĩnh vực pháp luật được xác định là một trong những nền tảng vững chắc để khởi tạo xã hội thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Việt Nam trong sạch, vững mạnh, toàn diện. Qua đó, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị làm “nòng cốt” để Nhân dân làm chủ được vận hành thông suốt, góp phần hiện thực hóa khát vọng đi lên chủ nghĩa xã hội của Nhân dân.
Điều kiện về tuổi như thế nào để được đi bầu cử vào ngày 15/3/2026

Điều kiện về tuổi như thế nào để được đi bầu cử vào ngày 15/3/2026

Công dân từ đủ 18 tuổi tính đến ngày bầu cử 15/3/2026, tức là có ngày sinh từ ngày 15/3/2008 trở về trước thì được xác định là đủ tuổi để được ghi vào danh sách cử tri để bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Dòng tự sự đầu năm

Dòng tự sự đầu năm

Năm cũ qua đi trong sắc pháo hoa rực rỡ, không khí se se lạnh của những ngày giáp Tết Hà Nội khiến lòng tôi bồi hồi khó tả. Nhìn cây đào đã lấm tấm nụ hồng trước thềm, tôi chợt nhớ đến mùa xuân năm nào, khi con gái út quyết định hoãn chuyến bay sang trời Tây. Con muốn dành thêm một năm học Luật tại quê nhà, dù trong tay đã có thông báo nhập học và học bổng toàn phần từ một trường đại học danh tiếng của Pháp. Câu hỏi “Tại sao con?” của tôi ngày ấy chỉ nhận được lời đáp bí ẩn: “Con sẽ trả lời ba sau 10 năm!”.

Theo dõi chúng tôi trên: