Thứ tư 23/09/2026 01:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về tính khách quan, hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa thu thập trong vụ án hình sự

Chứng cứ đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sử dụng để chứng minh có hay không hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án hình sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả bàn luận về tính khách quan và tính hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa thu thập.

Tóm tắt: Chứng cứ đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sử dụng để chứng minh có hay không hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án hình sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả bàn luận về tính khách quan và tính hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa thu thập.

Abstract: Evidence plays a very important role in the process by which competent authorities conduct proceedings to prove whether or not a crime is committed, who committed the crime as well as other important circumstances which are relevant for the resolution of criminal cases. Within the scope of this article, the author discusses the objectivity and legitimacy of the evidence collected by the defense counsel.

1. Quy định của pháp luật về chứng cứ do người bào chữa thu thập và những điểm bất cập
Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Tố tụng hình sự) quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án”. Với quy định này, quyền thu thập chứng cứ hiện nay đã được mở rộng thêm cho một số chủ thể trong đó có người bào chữa[1]. Theo quy định tại khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa được thể hiện ở 02 nhóm chính đó là: Gặp, tiến hành ghi nhận lời khai, lời trình bày của người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa. Trong trường hợp không tự mình thu thập được thì người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ[2]. Bên cạnh đó, Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ Công an quy định trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố cũng đã đề cập đến quyền thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật của người bào chữa và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án khi xem xét, đánh giá, sử dụng chứng cứ do người bào chữa cung cấp, cũng như các thủ tục, quá trình tiếp nhận các chứng cứ, tài liệu (Điều 15). Các quy định này đã khẳng định vai trò và vị thế của người bào chữa khi tham gia vào giải quyết vụ án hình sự.
Trong thực tiễn, để bảo đảm lời khai, lời trình bày, dữ liệu điện tử và các tài liệu đồ vật khác do người bào chữa thu thập dùng làm chứng cứ để chứng minh trong vụ án hình sự phải bảo đảm các thuộc tính gồm: Tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Tuy nhiên, thực tiễn thu thập chứng cứ ngoài tính liên quan là đương nhiên thì vẫn còn một số vấn đề bất cập liên quan đến tính khách quan và tính hợp pháp. Điều này dẫn đến lời khai, lời trình bày hoặc dữ liệu điện tử, tài liệu, đồ vật mà người bào chữa thu thập được, nhưng khi giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì không được sử dụng để làm chứng cứ, cụ thể:
- Chứng cứ có nguồn từ lời khai, lời trình bày còn gọi là chứng cứ gián tiếp hoặc chứng cứ phi vật chất. Đây là một trong những nguồn chứng cứ mà người bào chữa cần phải thận trọng trong quá trình tiến hành thu thập. Bởi lẽ, tính khách quan của nguồn chứng cứ này phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiểu biết và khả năng nhận thức của mỗi cá nhân và đặc biệt nếu để tình cảm cá nhân lấn át vào trong lời khai, lời trình bày thì nguồn chứng cứ này đã vi phạm tính khách quan. Qua nghiên cứu thực tiễn các vụ án hình sự có người bào chữa tham gia, tác giả đồng quan điểm với một số nhà khoa học khi cho cho rằng, việc ghi nhận lời khai, lời trình bày của người bào chữa đa phần tập trung chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ bào chữa sao cho có lợi cho thân chủ, tránh việc hỏi bất lợi cho thân chủ[3]. Ngoài ra, trong quá trình thu thập lời khai, lời trình bày của người bào chữa, trong nội dung của câu hỏi và câu trả lời chưa thể hiện tính khách quan khi chưa có các nội dung kiểm tra tính chính xác của các thông tin thu thập được và không thể hiện rõ vì sao họ biết được những thông tin đó. Đồng thời, thiếu các câu hỏi về mối quan hệ giữa người trình bày với những người tham gia tố tụng khác. Đây chính là một trong những nguyên nhân cho thấy tính khách quan của lời khai, lời trình bày chưa được thể hiện rõ. Bên cạnh đó, nhiều trường hợp lời khai, lời trình bày do người bào chữa thu thập và tiến hành giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhưng không được sử dụng làm chứng cứ do đã có nhưng vi phạm như: Không mời người đại diện tham gia khi ghi nhận lời khai của người dưới 18 tuổi, người bị nhược điểm về thể chất và tâm thần; người bào chữa đặt những câu hỏi mang tính chất định hướng khai báo[4]…
- Chứng cứ phải được thu thập từ những nguồn mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định[5] và tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục. Tuy nhiên, theo tác giả, không phải tất cả các nguồn của chứng cứ được quy định tại Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự người bào chữa đều thu thập được. Căn cứ vào khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật, người bào chữa chỉ có thể thu thập chứng cứ từ các nguồn là: Lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử và các tài liệu đồ vật khác mà không đủ khả năng, điều kiện cũng như trình tự, thủ tục pháp lý để thu thập chứng cứ có nguồn là vật chứng. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng, luật sư có khả năng tiến hành thu thập chứng cứ là “vật chứng”[6]. Tác giả không đồng tình với quan điểm này, bởi vì, khi thu thập vật chứng để bảo đảm tính hợp pháp phải có đầy đủ trình tự, thủ tục rất chặt chẽ gồm: Lập biên bản ghi nhận, trong biên bản phải mô tả đặc điểm, có người chứng kiến và kiểm sát viên, điều tra viên ký vào biên bản..., về vấn đề này thì người bào chữa không thể tự mình tiến hành được. Do đó, trong thực tiễn, người bào chữa chỉ thu thập dưới dạng là đồ vật, trong trường hợp người bào chữa cho rằng đó là vật chứng thì chỉ có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập thì mới bảo đảm được tính hợp pháp của chứng cứ.
- Ngoài ra, thực tiễn trong giai đoạn điều tra, một số luật sư thu thập được tài liệu, đồ vật nhưng vì nhiều lý do[7], không giao cho cơ quan có thẩm quyền mà đợi đến giai đoạn xét xử mới cung cấp, bổ sung chứng cứ dẫn đến tài liệu đồ vật đó không được xác định là chứng cứ của vụ án. Ví dụ: Trong vụ án Hứa Thị Phấn[8], Luật sư giao nộp cho Hội đồng xét xử 01 USB thu thập từ tháng 4/2017 nhưng đến tháng 5/2018, khi vụ án được xét xử 06 ngày thì Luật sư mới đưa ra. Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho rằng, USB do Luật sư cung cấp không được thu thập đúng theo trình tự tố tụng về thời gian. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn cho rằng USB này không có chức năng ghi âm, từ đó đặt vấn đề về nguồn gốc và tính chính xác của tập tin ghi âm chứa bên trong. Vì vậy, USB được giao nộp không được xác định là chứng cứ của vụ án. Tòa án cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều có phán quyết không công nhận giá trị của chứng cứ là USB chứa đoạn ghi âm nội dung trao đổi giữa bị cáo Hứa Thị Phấn và một số lãnh đạo của Công ty Phương Trang (cùng 48 trang chép nội dung trao đổi này) do không có căn cứ xác định nguồn gốc của chứng cứ. Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ các yếu tố sau:
+ Người bào chữa chưa thực sự tin tưởng vào cơ quan có thẩm quyền ở các giai đoạn của tố tụng hình sự và xem vụ án hình sự đang tham gia bào chữa như một cuộc đấu lý và đấu trí, muốn tạo một điều bất ngờ mà đã quên đi lợi ích của thân chủ. Rõ ràng, trong trường hợp nêu trên, nếu người bào chữa giao USB và các tài liệu trong giai đoạn điều tra hoặc truy tố thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có đủ thời gian để xác định các thuộc tính của chứng cứ và quyết định có sử dụng nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử này hay không.
+ Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa cụ thể hóa về thời gian buộc phải giao chứng cứ mà người bào chữa thu thập được cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đồng thời, thiếu quy định “nếu không kịp thời gian nộp” lời trình bày, tài liệu, dữ liệu điện tử, đồ vật thu thập được tương thích với các giai đoạn tiến hành tố tụng thì không được sử dụng làm chứng cứ. Bên cạnh đó, quy định tại khoản 2 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự chưa xác định vấn đề giao nộp chứng cứ của người bào chữa là nghĩa vụ hay là quyền. Nếu là quyền thì người bào chữa giao nộp chứng cứ vào thời điểm nào là tùy họ, miễn sao có lợi cho thân chủ và bản thân người bào chữa hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng. Chính vấn đề này đã dẫn đến trong thực tiễn, nhiều đồ vật, tài liệu, lời trình bày được người bào chữa trình trước Hội đồng xét xử nhưng không được xác định là đó chứng cứ.
- Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa cụ thể hóa về trình tự, thủ tục, hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa. Do đó, đã gây khó khăn cho hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa và quá trình kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đây có thể nói là một khoảng trống có thể dẫn đến sự chưa minh bạch, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, khi mà hai chức năng buộc tội và bào chữa thường có sự xung đột lẫn nhau.
2. Một số kiến nghị
Với những điểm còn bất cập trong quy định của pháp luật, dẫn đến những khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa. Tác giả kiến nghị một số nội dung sau đây nhằm bảo đảm hiệu quả của hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ của người bào chữa, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cụ thể:
Một là, khi người bào chữa tiến hành thu thập chứng cứ là lời khai, lời trình bày cần phải bảo đảm tính khách quan của chứng cứ. Do đó, trong biên bản ghi nhận lời khai, lời trình bày cần phải có những câu hỏi kiểm tra lại tính khách quan của lời khai, lời trình bày. Trong từng nội dung câu hỏi, câu trả lời phải có sự liên kết và đặc biệt phải làm rõ lý do vì sao họ biết được những nội dung thông tin đó. Các câu hỏi đặt ra phải phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng đối tượng. Hiện nay, chưa có quy định cụ thể về quá trình ghi nhận lời khai, lời trình bày do người bào chữa tiến hành. Tuy nhiên, người bào chữa hoàn toàn có thể tham khảo nội dung này ở Điều 183 (hỏi cung bị can), Điều 186 (lấy lời khai người làm chứng) Bộ luật Tố tụng hình sự để hoàn chỉnh cho mình một bộ khung hỏi và đáp khi tiến hành ghi lời khai, lời trình bày. Ngoài ra, còn có thể sử dụng thêm các phương tiện ghi âm, ghi hình có âm thanh trong suốt quá trình làm việc nhằm hỗ trợ cũng như bảo đảm tính khách quan, tính hợp pháp của chứng cứ.
Hai là, cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn về trình tự, thủ tục người bào chữa thu thập chứng cứ để bảo đảm tính hợp pháp. Cần cụ thể hóa khoản 2 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng người bào chữa khi thu thập chứng cứ ở giai đoạn tố tụng nào thì phải khẩn trương, kịp thời bàn giao ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp không thực hiện đúng thì không được sử dụng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bổ sung nghĩa vụ của người bào chữa tại khoản 2 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng, người bào chữa có nghĩa vụ kịp thời giao ngay tài liệu, chứng cứ thu thập cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tương ứng với các giai đoạn tiến hành tố tụng. Sửa đổi, bổ sung Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự về đánh giá chứng cứ cần quy định rõ hơn trách nhiệm của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm trong việc xem xét, đánh giá mọi chứng cứ không chỉ do người tiến hành tố tụng thu thập mà cả chứng cứ do người bào chữa thu thập một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình tiết của vụ án.
Ba là, người bào chữa cần tự mình nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, nắm vững các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, có thể áp dụng pháp luật một cách chính xác trong các tình huống cụ thể. Trong hoạt động thu thập chứng cứ cần có quan điểm khách quan, toàn diện, đầy đủ, tránh những suy nghĩ tiêu cực, không lợi dụng kẽ hở của pháp luật để lạm quyền.

TS. Trịnh Duy Thuyên
Trường Đại học Cảnh sát nhân dân



[1]. Điểm h khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Khoản 3 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3]. Luật sư Nguyễn Thành Công, Võ Hồng Sơn, “Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư với nguồn chứng cứ là lời khai, lời trình bày”, Hội thảo Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ngày 01/10/2021.
[4]. Nguyễn Hữu, “Đánh giá của cơ quan, người tiến hành tố tụng về hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự”, Hội thảo Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ngày 01/10/2021.
[5]. Xem Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6]. Nguyễn Thanh Thảo Nhi, Trần Văn Linh, “Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư với nguồn chứng cứ là vật chứng”, Hội thảo Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ngày 01/10/2021.
[7]. Luật sư Nguyễn Việt Quốc, “Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư đối với nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử”, Hội thảo Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ngày 01/10/2021.
[8]. Quốc Chiến (2018), “Viện kiểm sát không chấp nhận điều tra “nhân vật bí ẩn” vụ án Hứa Thị Phấn”, https://nld.com.vn/phap-luat/vks-khong-chap-nhan-dieu-tra-nhanvat-bi-an-vu-an-hua-thi-phan-20180528160755841.htm, truy cập ngày 20/5/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: