Thứ tư 20/05/2026 04:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về tính khách quan, hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa thu thập trong vụ án hình sự

Chứng cứ đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sử dụng để chứng minh có hay không hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án hình sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả bàn luận về tính khách quan và tính hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa thu thập.

Tóm tắt: Chứng cứ đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sử dụng để chứng minh có hay không hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án hình sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả bàn luận về tính khách quan và tính hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa thu thập.

Abstract: Evidence plays a very important role in the process by which competent authorities conduct proceedings to prove whether or not a crime is committed, who committed the crime as well as other important circumstances which are relevant for the resolution of criminal cases. Within the scope of this article, the author discusses the objectivity and legitimacy of the evidence collected by the defense counsel.

1. Quy định của pháp luật về chứng cứ do người bào chữa thu thập và những điểm bất cập
Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Tố tụng hình sự) quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án”. Với quy định này, quyền thu thập chứng cứ hiện nay đã được mở rộng thêm cho một số chủ thể trong đó có người bào chữa[1]. Theo quy định tại khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa được thể hiện ở 02 nhóm chính đó là: Gặp, tiến hành ghi nhận lời khai, lời trình bày của người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa. Trong trường hợp không tự mình thu thập được thì người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ[2]. Bên cạnh đó, Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ Công an quy định trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố cũng đã đề cập đến quyền thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật của người bào chữa và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án khi xem xét, đánh giá, sử dụng chứng cứ do người bào chữa cung cấp, cũng như các thủ tục, quá trình tiếp nhận các chứng cứ, tài liệu (Điều 15). Các quy định này đã khẳng định vai trò và vị thế của người bào chữa khi tham gia vào giải quyết vụ án hình sự.
Trong thực tiễn, để bảo đảm lời khai, lời trình bày, dữ liệu điện tử và các tài liệu đồ vật khác do người bào chữa thu thập dùng làm chứng cứ để chứng minh trong vụ án hình sự phải bảo đảm các thuộc tính gồm: Tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Tuy nhiên, thực tiễn thu thập chứng cứ ngoài tính liên quan là đương nhiên thì vẫn còn một số vấn đề bất cập liên quan đến tính khách quan và tính hợp pháp. Điều này dẫn đến lời khai, lời trình bày hoặc dữ liệu điện tử, tài liệu, đồ vật mà người bào chữa thu thập được, nhưng khi giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì không được sử dụng để làm chứng cứ, cụ thể:
- Chứng cứ có nguồn từ lời khai, lời trình bày còn gọi là chứng cứ gián tiếp hoặc chứng cứ phi vật chất. Đây là một trong những nguồn chứng cứ mà người bào chữa cần phải thận trọng trong quá trình tiến hành thu thập. Bởi lẽ, tính khách quan của nguồn chứng cứ này phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiểu biết và khả năng nhận thức của mỗi cá nhân và đặc biệt nếu để tình cảm cá nhân lấn át vào trong lời khai, lời trình bày thì nguồn chứng cứ này đã vi phạm tính khách quan. Qua nghiên cứu thực tiễn các vụ án hình sự có người bào chữa tham gia, tác giả đồng quan điểm với một số nhà khoa học khi cho cho rằng, việc ghi nhận lời khai, lời trình bày của người bào chữa đa phần tập trung chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ bào chữa sao cho có lợi cho thân chủ, tránh việc hỏi bất lợi cho thân chủ[3]. Ngoài ra, trong quá trình thu thập lời khai, lời trình bày của người bào chữa, trong nội dung của câu hỏi và câu trả lời chưa thể hiện tính khách quan khi chưa có các nội dung kiểm tra tính chính xác của các thông tin thu thập được và không thể hiện rõ vì sao họ biết được những thông tin đó. Đồng thời, thiếu các câu hỏi về mối quan hệ giữa người trình bày với những người tham gia tố tụng khác. Đây chính là một trong những nguyên nhân cho thấy tính khách quan của lời khai, lời trình bày chưa được thể hiện rõ. Bên cạnh đó, nhiều trường hợp lời khai, lời trình bày do người bào chữa thu thập và tiến hành giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhưng không được sử dụng làm chứng cứ do đã có nhưng vi phạm như: Không mời người đại diện tham gia khi ghi nhận lời khai của người dưới 18 tuổi, người bị nhược điểm về thể chất và tâm thần; người bào chữa đặt những câu hỏi mang tính chất định hướng khai báo[4]…
- Chứng cứ phải được thu thập từ những nguồn mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định[5] và tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục. Tuy nhiên, theo tác giả, không phải tất cả các nguồn của chứng cứ được quy định tại Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự người bào chữa đều thu thập được. Căn cứ vào khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật, người bào chữa chỉ có thể thu thập chứng cứ từ các nguồn là: Lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử và các tài liệu đồ vật khác mà không đủ khả năng, điều kiện cũng như trình tự, thủ tục pháp lý để thu thập chứng cứ có nguồn là vật chứng. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng, luật sư có khả năng tiến hành thu thập chứng cứ là “vật chứng”[6]. Tác giả không đồng tình với quan điểm này, bởi vì, khi thu thập vật chứng để bảo đảm tính hợp pháp phải có đầy đủ trình tự, thủ tục rất chặt chẽ gồm: Lập biên bản ghi nhận, trong biên bản phải mô tả đặc điểm, có người chứng kiến và kiểm sát viên, điều tra viên ký vào biên bản..., về vấn đề này thì người bào chữa không thể tự mình tiến hành được. Do đó, trong thực tiễn, người bào chữa chỉ thu thập dưới dạng là đồ vật, trong trường hợp người bào chữa cho rằng đó là vật chứng thì chỉ có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập thì mới bảo đảm được tính hợp pháp của chứng cứ.
- Ngoài ra, thực tiễn trong giai đoạn điều tra, một số luật sư thu thập được tài liệu, đồ vật nhưng vì nhiều lý do[7], không giao cho cơ quan có thẩm quyền mà đợi đến giai đoạn xét xử mới cung cấp, bổ sung chứng cứ dẫn đến tài liệu đồ vật đó không được xác định là chứng cứ của vụ án. Ví dụ: Trong vụ án Hứa Thị Phấn[8], Luật sư giao nộp cho Hội đồng xét xử 01 USB thu thập từ tháng 4/2017 nhưng đến tháng 5/2018, khi vụ án được xét xử 06 ngày thì Luật sư mới đưa ra. Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho rằng, USB do Luật sư cung cấp không được thu thập đúng theo trình tự tố tụng về thời gian. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn cho rằng USB này không có chức năng ghi âm, từ đó đặt vấn đề về nguồn gốc và tính chính xác của tập tin ghi âm chứa bên trong. Vì vậy, USB được giao nộp không được xác định là chứng cứ của vụ án. Tòa án cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều có phán quyết không công nhận giá trị của chứng cứ là USB chứa đoạn ghi âm nội dung trao đổi giữa bị cáo Hứa Thị Phấn và một số lãnh đạo của Công ty Phương Trang (cùng 48 trang chép nội dung trao đổi này) do không có căn cứ xác định nguồn gốc của chứng cứ. Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ các yếu tố sau:
+ Người bào chữa chưa thực sự tin tưởng vào cơ quan có thẩm quyền ở các giai đoạn của tố tụng hình sự và xem vụ án hình sự đang tham gia bào chữa như một cuộc đấu lý và đấu trí, muốn tạo một điều bất ngờ mà đã quên đi lợi ích của thân chủ. Rõ ràng, trong trường hợp nêu trên, nếu người bào chữa giao USB và các tài liệu trong giai đoạn điều tra hoặc truy tố thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có đủ thời gian để xác định các thuộc tính của chứng cứ và quyết định có sử dụng nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử này hay không.
+ Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa cụ thể hóa về thời gian buộc phải giao chứng cứ mà người bào chữa thu thập được cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đồng thời, thiếu quy định “nếu không kịp thời gian nộp” lời trình bày, tài liệu, dữ liệu điện tử, đồ vật thu thập được tương thích với các giai đoạn tiến hành tố tụng thì không được sử dụng làm chứng cứ. Bên cạnh đó, quy định tại khoản 2 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự chưa xác định vấn đề giao nộp chứng cứ của người bào chữa là nghĩa vụ hay là quyền. Nếu là quyền thì người bào chữa giao nộp chứng cứ vào thời điểm nào là tùy họ, miễn sao có lợi cho thân chủ và bản thân người bào chữa hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng. Chính vấn đề này đã dẫn đến trong thực tiễn, nhiều đồ vật, tài liệu, lời trình bày được người bào chữa trình trước Hội đồng xét xử nhưng không được xác định là đó chứng cứ.
- Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa cụ thể hóa về trình tự, thủ tục, hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa. Do đó, đã gây khó khăn cho hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa và quá trình kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đây có thể nói là một khoảng trống có thể dẫn đến sự chưa minh bạch, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, khi mà hai chức năng buộc tội và bào chữa thường có sự xung đột lẫn nhau.
2. Một số kiến nghị
Với những điểm còn bất cập trong quy định của pháp luật, dẫn đến những khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa. Tác giả kiến nghị một số nội dung sau đây nhằm bảo đảm hiệu quả của hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ của người bào chữa, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cụ thể:
Một là, khi người bào chữa tiến hành thu thập chứng cứ là lời khai, lời trình bày cần phải bảo đảm tính khách quan của chứng cứ. Do đó, trong biên bản ghi nhận lời khai, lời trình bày cần phải có những câu hỏi kiểm tra lại tính khách quan của lời khai, lời trình bày. Trong từng nội dung câu hỏi, câu trả lời phải có sự liên kết và đặc biệt phải làm rõ lý do vì sao họ biết được những nội dung thông tin đó. Các câu hỏi đặt ra phải phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng đối tượng. Hiện nay, chưa có quy định cụ thể về quá trình ghi nhận lời khai, lời trình bày do người bào chữa tiến hành. Tuy nhiên, người bào chữa hoàn toàn có thể tham khảo nội dung này ở Điều 183 (hỏi cung bị can), Điều 186 (lấy lời khai người làm chứng) Bộ luật Tố tụng hình sự để hoàn chỉnh cho mình một bộ khung hỏi và đáp khi tiến hành ghi lời khai, lời trình bày. Ngoài ra, còn có thể sử dụng thêm các phương tiện ghi âm, ghi hình có âm thanh trong suốt quá trình làm việc nhằm hỗ trợ cũng như bảo đảm tính khách quan, tính hợp pháp của chứng cứ.
Hai là, cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn về trình tự, thủ tục người bào chữa thu thập chứng cứ để bảo đảm tính hợp pháp. Cần cụ thể hóa khoản 2 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng người bào chữa khi thu thập chứng cứ ở giai đoạn tố tụng nào thì phải khẩn trương, kịp thời bàn giao ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp không thực hiện đúng thì không được sử dụng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bổ sung nghĩa vụ của người bào chữa tại khoản 2 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng, người bào chữa có nghĩa vụ kịp thời giao ngay tài liệu, chứng cứ thu thập cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tương ứng với các giai đoạn tiến hành tố tụng. Sửa đổi, bổ sung Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự về đánh giá chứng cứ cần quy định rõ hơn trách nhiệm của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm trong việc xem xét, đánh giá mọi chứng cứ không chỉ do người tiến hành tố tụng thu thập mà cả chứng cứ do người bào chữa thu thập một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình tiết của vụ án.
Ba là, người bào chữa cần tự mình nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, nắm vững các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, có thể áp dụng pháp luật một cách chính xác trong các tình huống cụ thể. Trong hoạt động thu thập chứng cứ cần có quan điểm khách quan, toàn diện, đầy đủ, tránh những suy nghĩ tiêu cực, không lợi dụng kẽ hở của pháp luật để lạm quyền.

TS. Trịnh Duy Thuyên
Trường Đại học Cảnh sát nhân dân



[1]. Điểm h khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Khoản 3 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3]. Luật sư Nguyễn Thành Công, Võ Hồng Sơn, “Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư với nguồn chứng cứ là lời khai, lời trình bày”, Hội thảo Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ngày 01/10/2021.
[4]. Nguyễn Hữu, “Đánh giá của cơ quan, người tiến hành tố tụng về hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự”, Hội thảo Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ngày 01/10/2021.
[5]. Xem Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6]. Nguyễn Thanh Thảo Nhi, Trần Văn Linh, “Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư với nguồn chứng cứ là vật chứng”, Hội thảo Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ngày 01/10/2021.
[7]. Luật sư Nguyễn Việt Quốc, “Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư đối với nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử”, Hội thảo Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ngày 01/10/2021.
[8]. Quốc Chiến (2018), “Viện kiểm sát không chấp nhận điều tra “nhân vật bí ẩn” vụ án Hứa Thị Phấn”, https://nld.com.vn/phap-luat/vks-khong-chap-nhan-dieu-tra-nhanvat-bi-an-vu-an-hua-thi-phan-20180528160755841.htm, truy cập ngày 20/5/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: