Thứ năm 16/04/2026 11:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về tính khách quan, hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa thu thập trong vụ án hình sự

Chứng cứ đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sử dụng để chứng minh có hay không hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án hình sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả bàn luận về tính khách quan và tính hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa thu thập.

Tóm tắt: Chứng cứ đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sử dụng để chứng minh có hay không hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án hình sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả bàn luận về tính khách quan và tính hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa thu thập.

Abstract: Evidence plays a very important role in the process by which competent authorities conduct proceedings to prove whether or not a crime is committed, who committed the crime as well as other important circumstances which are relevant for the resolution of criminal cases. Within the scope of this article, the author discusses the objectivity and legitimacy of the evidence collected by the defense counsel.

1. Quy định của pháp luật về chứng cứ do người bào chữa thu thập và những điểm bất cập
Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Tố tụng hình sự) quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án”. Với quy định này, quyền thu thập chứng cứ hiện nay đã được mở rộng thêm cho một số chủ thể trong đó có người bào chữa[1]. Theo quy định tại khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa được thể hiện ở 02 nhóm chính đó là: Gặp, tiến hành ghi nhận lời khai, lời trình bày của người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa. Trong trường hợp không tự mình thu thập được thì người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ[2]. Bên cạnh đó, Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ Công an quy định trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố cũng đã đề cập đến quyền thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật của người bào chữa và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án khi xem xét, đánh giá, sử dụng chứng cứ do người bào chữa cung cấp, cũng như các thủ tục, quá trình tiếp nhận các chứng cứ, tài liệu (Điều 15). Các quy định này đã khẳng định vai trò và vị thế của người bào chữa khi tham gia vào giải quyết vụ án hình sự.
Trong thực tiễn, để bảo đảm lời khai, lời trình bày, dữ liệu điện tử và các tài liệu đồ vật khác do người bào chữa thu thập dùng làm chứng cứ để chứng minh trong vụ án hình sự phải bảo đảm các thuộc tính gồm: Tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Tuy nhiên, thực tiễn thu thập chứng cứ ngoài tính liên quan là đương nhiên thì vẫn còn một số vấn đề bất cập liên quan đến tính khách quan và tính hợp pháp. Điều này dẫn đến lời khai, lời trình bày hoặc dữ liệu điện tử, tài liệu, đồ vật mà người bào chữa thu thập được, nhưng khi giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì không được sử dụng để làm chứng cứ, cụ thể:
- Chứng cứ có nguồn từ lời khai, lời trình bày còn gọi là chứng cứ gián tiếp hoặc chứng cứ phi vật chất. Đây là một trong những nguồn chứng cứ mà người bào chữa cần phải thận trọng trong quá trình tiến hành thu thập. Bởi lẽ, tính khách quan của nguồn chứng cứ này phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiểu biết và khả năng nhận thức của mỗi cá nhân và đặc biệt nếu để tình cảm cá nhân lấn át vào trong lời khai, lời trình bày thì nguồn chứng cứ này đã vi phạm tính khách quan. Qua nghiên cứu thực tiễn các vụ án hình sự có người bào chữa tham gia, tác giả đồng quan điểm với một số nhà khoa học khi cho cho rằng, việc ghi nhận lời khai, lời trình bày của người bào chữa đa phần tập trung chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ bào chữa sao cho có lợi cho thân chủ, tránh việc hỏi bất lợi cho thân chủ[3]. Ngoài ra, trong quá trình thu thập lời khai, lời trình bày của người bào chữa, trong nội dung của câu hỏi và câu trả lời chưa thể hiện tính khách quan khi chưa có các nội dung kiểm tra tính chính xác của các thông tin thu thập được và không thể hiện rõ vì sao họ biết được những thông tin đó. Đồng thời, thiếu các câu hỏi về mối quan hệ giữa người trình bày với những người tham gia tố tụng khác. Đây chính là một trong những nguyên nhân cho thấy tính khách quan của lời khai, lời trình bày chưa được thể hiện rõ. Bên cạnh đó, nhiều trường hợp lời khai, lời trình bày do người bào chữa thu thập và tiến hành giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhưng không được sử dụng làm chứng cứ do đã có nhưng vi phạm như: Không mời người đại diện tham gia khi ghi nhận lời khai của người dưới 18 tuổi, người bị nhược điểm về thể chất và tâm thần; người bào chữa đặt những câu hỏi mang tính chất định hướng khai báo[4]…
- Chứng cứ phải được thu thập từ những nguồn mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định[5] và tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục. Tuy nhiên, theo tác giả, không phải tất cả các nguồn của chứng cứ được quy định tại Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự người bào chữa đều thu thập được. Căn cứ vào khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật, người bào chữa chỉ có thể thu thập chứng cứ từ các nguồn là: Lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử và các tài liệu đồ vật khác mà không đủ khả năng, điều kiện cũng như trình tự, thủ tục pháp lý để thu thập chứng cứ có nguồn là vật chứng. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng, luật sư có khả năng tiến hành thu thập chứng cứ là “vật chứng”[6]. Tác giả không đồng tình với quan điểm này, bởi vì, khi thu thập vật chứng để bảo đảm tính hợp pháp phải có đầy đủ trình tự, thủ tục rất chặt chẽ gồm: Lập biên bản ghi nhận, trong biên bản phải mô tả đặc điểm, có người chứng kiến và kiểm sát viên, điều tra viên ký vào biên bản..., về vấn đề này thì người bào chữa không thể tự mình tiến hành được. Do đó, trong thực tiễn, người bào chữa chỉ thu thập dưới dạng là đồ vật, trong trường hợp người bào chữa cho rằng đó là vật chứng thì chỉ có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập thì mới bảo đảm được tính hợp pháp của chứng cứ.
- Ngoài ra, thực tiễn trong giai đoạn điều tra, một số luật sư thu thập được tài liệu, đồ vật nhưng vì nhiều lý do[7], không giao cho cơ quan có thẩm quyền mà đợi đến giai đoạn xét xử mới cung cấp, bổ sung chứng cứ dẫn đến tài liệu đồ vật đó không được xác định là chứng cứ của vụ án. Ví dụ: Trong vụ án Hứa Thị Phấn[8], Luật sư giao nộp cho Hội đồng xét xử 01 USB thu thập từ tháng 4/2017 nhưng đến tháng 5/2018, khi vụ án được xét xử 06 ngày thì Luật sư mới đưa ra. Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho rằng, USB do Luật sư cung cấp không được thu thập đúng theo trình tự tố tụng về thời gian. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn cho rằng USB này không có chức năng ghi âm, từ đó đặt vấn đề về nguồn gốc và tính chính xác của tập tin ghi âm chứa bên trong. Vì vậy, USB được giao nộp không được xác định là chứng cứ của vụ án. Tòa án cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều có phán quyết không công nhận giá trị của chứng cứ là USB chứa đoạn ghi âm nội dung trao đổi giữa bị cáo Hứa Thị Phấn và một số lãnh đạo của Công ty Phương Trang (cùng 48 trang chép nội dung trao đổi này) do không có căn cứ xác định nguồn gốc của chứng cứ. Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ các yếu tố sau:
+ Người bào chữa chưa thực sự tin tưởng vào cơ quan có thẩm quyền ở các giai đoạn của tố tụng hình sự và xem vụ án hình sự đang tham gia bào chữa như một cuộc đấu lý và đấu trí, muốn tạo một điều bất ngờ mà đã quên đi lợi ích của thân chủ. Rõ ràng, trong trường hợp nêu trên, nếu người bào chữa giao USB và các tài liệu trong giai đoạn điều tra hoặc truy tố thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có đủ thời gian để xác định các thuộc tính của chứng cứ và quyết định có sử dụng nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử này hay không.
+ Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa cụ thể hóa về thời gian buộc phải giao chứng cứ mà người bào chữa thu thập được cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đồng thời, thiếu quy định “nếu không kịp thời gian nộp” lời trình bày, tài liệu, dữ liệu điện tử, đồ vật thu thập được tương thích với các giai đoạn tiến hành tố tụng thì không được sử dụng làm chứng cứ. Bên cạnh đó, quy định tại khoản 2 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự chưa xác định vấn đề giao nộp chứng cứ của người bào chữa là nghĩa vụ hay là quyền. Nếu là quyền thì người bào chữa giao nộp chứng cứ vào thời điểm nào là tùy họ, miễn sao có lợi cho thân chủ và bản thân người bào chữa hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng. Chính vấn đề này đã dẫn đến trong thực tiễn, nhiều đồ vật, tài liệu, lời trình bày được người bào chữa trình trước Hội đồng xét xử nhưng không được xác định là đó chứng cứ.
- Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa cụ thể hóa về trình tự, thủ tục, hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa. Do đó, đã gây khó khăn cho hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa và quá trình kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đây có thể nói là một khoảng trống có thể dẫn đến sự chưa minh bạch, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, khi mà hai chức năng buộc tội và bào chữa thường có sự xung đột lẫn nhau.
2. Một số kiến nghị
Với những điểm còn bất cập trong quy định của pháp luật, dẫn đến những khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa. Tác giả kiến nghị một số nội dung sau đây nhằm bảo đảm hiệu quả của hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ của người bào chữa, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cụ thể:
Một là, khi người bào chữa tiến hành thu thập chứng cứ là lời khai, lời trình bày cần phải bảo đảm tính khách quan của chứng cứ. Do đó, trong biên bản ghi nhận lời khai, lời trình bày cần phải có những câu hỏi kiểm tra lại tính khách quan của lời khai, lời trình bày. Trong từng nội dung câu hỏi, câu trả lời phải có sự liên kết và đặc biệt phải làm rõ lý do vì sao họ biết được những nội dung thông tin đó. Các câu hỏi đặt ra phải phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng đối tượng. Hiện nay, chưa có quy định cụ thể về quá trình ghi nhận lời khai, lời trình bày do người bào chữa tiến hành. Tuy nhiên, người bào chữa hoàn toàn có thể tham khảo nội dung này ở Điều 183 (hỏi cung bị can), Điều 186 (lấy lời khai người làm chứng) Bộ luật Tố tụng hình sự để hoàn chỉnh cho mình một bộ khung hỏi và đáp khi tiến hành ghi lời khai, lời trình bày. Ngoài ra, còn có thể sử dụng thêm các phương tiện ghi âm, ghi hình có âm thanh trong suốt quá trình làm việc nhằm hỗ trợ cũng như bảo đảm tính khách quan, tính hợp pháp của chứng cứ.
Hai là, cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn về trình tự, thủ tục người bào chữa thu thập chứng cứ để bảo đảm tính hợp pháp. Cần cụ thể hóa khoản 2 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng người bào chữa khi thu thập chứng cứ ở giai đoạn tố tụng nào thì phải khẩn trương, kịp thời bàn giao ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp không thực hiện đúng thì không được sử dụng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bổ sung nghĩa vụ của người bào chữa tại khoản 2 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng, người bào chữa có nghĩa vụ kịp thời giao ngay tài liệu, chứng cứ thu thập cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tương ứng với các giai đoạn tiến hành tố tụng. Sửa đổi, bổ sung Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự về đánh giá chứng cứ cần quy định rõ hơn trách nhiệm của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm trong việc xem xét, đánh giá mọi chứng cứ không chỉ do người tiến hành tố tụng thu thập mà cả chứng cứ do người bào chữa thu thập một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình tiết của vụ án.
Ba là, người bào chữa cần tự mình nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, nắm vững các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, có thể áp dụng pháp luật một cách chính xác trong các tình huống cụ thể. Trong hoạt động thu thập chứng cứ cần có quan điểm khách quan, toàn diện, đầy đủ, tránh những suy nghĩ tiêu cực, không lợi dụng kẽ hở của pháp luật để lạm quyền.

TS. Trịnh Duy Thuyên
Trường Đại học Cảnh sát nhân dân



[1]. Điểm h khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Khoản 3 Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3]. Luật sư Nguyễn Thành Công, Võ Hồng Sơn, “Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư với nguồn chứng cứ là lời khai, lời trình bày”, Hội thảo Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ngày 01/10/2021.
[4]. Nguyễn Hữu, “Đánh giá của cơ quan, người tiến hành tố tụng về hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự”, Hội thảo Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ngày 01/10/2021.
[5]. Xem Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6]. Nguyễn Thanh Thảo Nhi, Trần Văn Linh, “Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư với nguồn chứng cứ là vật chứng”, Hội thảo Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ngày 01/10/2021.
[7]. Luật sư Nguyễn Việt Quốc, “Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư đối với nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử”, Hội thảo Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ngày 01/10/2021.
[8]. Quốc Chiến (2018), “Viện kiểm sát không chấp nhận điều tra “nhân vật bí ẩn” vụ án Hứa Thị Phấn”, https://nld.com.vn/phap-luat/vks-khong-chap-nhan-dieu-tra-nhanvat-bi-an-vu-an-hua-thi-phan-20180528160755841.htm, truy cập ngày 20/5/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: