Thứ năm 22/01/2026 18:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về vấn đề xã hội hóa trong thi hành án

Vấn đề xã hội hóa một số hoạt động trong lĩnh vực tư pháp, trong đó có lĩnh vực thi hành án đang là xu hướng tiến bộ trên thế giới. Nghề Thừa phát lại đã phát triển lâu đời và có truyền thống tại một số quốc gia như Pháp, Bỉ, Hy Lạp, Luých-xăm-bua, Hà Lan..., là một nghề độc lập, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Mặc dù hành nghề tự do, không phải nhân viên nhà nước, nhưng Thừa phát lại được Nhà nước bổ nhiệm, trao quyền để thực hiện một số công việc. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Thừa phát lại có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Hoạt động của Thừa phát lại chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước như Tòa án, công tố, Bộ Tư pháp và chịu sự kiểm tra, quản lý của tổ chức nghề nghiệp Thừa phát lại.

Ở Việt Nam, việc xã hội hóa công tác thi hành án dân sự và phát triển tổ chức Thừa phát lại đã và đang được Đảng, Nhà nước quan tâm và triển khai. Vai trò của Thừa phát lại ngày càng được khẳng định, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong đời sống dân sự, trong quan hệ với cơ quan nhà nước và trong các quá trình tố tụng, giúp giảm tải công việc cho cơ quan thi hành án dân sự và Tòa án, tạo điều kiện để hoạt động tư pháp đúng pháp luật, nhanh hơn, hiệu quả hơn. Ngoài ra, xã hội hóa còn nhằm nâng cao trách nhiệm, tạo điều kiện cho người dân, xã hội tham gia vào hoạt động tư pháp, người dân có quyền lựa chọn tổ chức thi hành án cho mình, việc cạnh tranh sẽ làm tăng chất lượng dịch vụ, các cơ quan thi hành án của Nhà nước sẽ có động lực đổi mới phong cách, lề lối làm việc, khắc phục quan liêu, sách nhiễu, tiêu cực trong thi hành án.

Trong xu hướng phát triển, xã hội hóa một số hoạt động thi hành án dân sự là một lựa chọn cần được ưu tiên, đến một giai đoạn phát triển nhất định sẽ xóa bỏ bao cấp của Nhà nước đối với hoạt động này.

ở nước ta, việc xã hội hóa một số hoạt động thi hành án dân sự cũng đã có những bước đi thích hợp, cụ thể, ngày 14/11/2008, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 24/2008/QH11 về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó đã giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương. Thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở kết quả thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23/11/2012, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại đến hết ngày 31/12/2015, trong đó, giao Chính phủ tiếp tục tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trên cơ sở Nghị quyết này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 về sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày 25/3/2013 phê duyệt Đề án về tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại và chỉ đạo Bộ Tư pháp phối hợp với bộ, ngành liên quan triển khai thực hiện. Bộ Tư pháp đã thống nhất ý kiến với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính lựa chọn 12 địa phương thực hiện thí điểm, ngoài thành phố Hồ Chí Minh, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, An Giang và Vĩnh Long.

Qua hai giai đoạn tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, kết quả tổng kết cho thấy, mặc dù vẫn còn một số tồn tại, hạn chế nhưng việc thí điểm Thừa phát lại là một hướng đi đúng về cải cách tư pháp của nước ta cũng như xu hướng hội nhập quốc tế, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, góp phần giảm tải công việc cho Nhà nước, tiết kiệm ngân sách, tạo công ăn việc làm cho người lao động được đào tạo. Để chính thức phát triển Thừa phát lại ở nước ta, ngày 26/11/2015, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiện chế định Thừa phát lại, chấm dứt việc thực hiện thí điểm và cho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016. Sau đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 về việc ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội.

Kết quả hoạt động của Thừa phát lại thời gian qua đã chứng tỏ tính đúng đắn và được xã hội chấp nhận, đặc biệt là ở các địa bàn kinh tế - xã hội phát triển. Tính đến tháng 10/2015, cả nước hiện có 53 văn phòng Thừa phát lại với 134 Thừa phát lại, 295 thư ký nghiệp vụ và 214 nhân viên. Về kết quả, tính đến ngày 30/9/2015, các văn phòng Thừa phát lại đã tống đạt được 939.544 văn bản, lập 42.911 vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án 885 việc, trực tiếp tổ chức thi hành án 378 vụ việc, đạt tổng doanh thu là gần 136 tỷ đồng. Việc thí điểm thực hiện chế định Thừa phát lại đã có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh, thành phố tổ chức thí điểm; tạo thêm một công cụ pháp lý để người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong thực hiện các giao dịch dân sự và trong các quá trình tố tụng tư pháp. Hoạt động Thừa phát lại cũng đã bước đầu hỗ trợ tích cực cho các hoạt động tư pháp được nhanh hơn, hiệu quả hơn, góp phần giảm tải công việc của các cơ quan tư pháp, đồng thời, bước đầu tạo lập một nghề mới trong thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý và cũng là bước đầu tiên xã hội hóa hoạt động thi hành án, được xã hội đón nhận.

Về phạm vi công việc Thừa phát lại được làm, theo quy định hiện hành, Thừa phát lại được thực hiện 4 loại công việc, trong đó có 3 loại việc liên quan trực tiếp đến thi hành án dân sự, đó là tống đạt văn bản của cơ quan thi hành án dân sự, xác minh điều kiện thi hành án dân sự và trực tiếp thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự (trừ các bản án, quyết định thuộc diện chủ động ra quyết định thi hành án của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự). Có thể thấy, phạm vi xã hội hóa hiện nay còn hẹp, nếu để tiến tới xóa bỏ bao cấp trong hoạt động thi hành án thì việc nghiên cứu để mở rộng phạm vi xã hội hóa trong thi hành án dân sự cần được đặt ra.

Trong thi hành án dân sự, hiện có hai loại việc được thi hành theo hai phương thức khác nhau, một là thi hành án chủ động, hai là thi hành án theo đơn yêu cầu. Thi hành án chủ động không tùy thuộc vào ý chí của đương sự, bao gồm các bản án, quyết định thu cho ngân sách nhà nước, các vụ việc thi hành bản án, quyết định khẩn cấp, tạm thời để bảo đảm lợi ích cấp thiết của đương sự, đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án; thi hành án theo đơn yêu cầu là cơ quan thi hành án khi nhận được đơn yêu cầu thi hành án mới thụ lý thi hành. Đây được xem như căn cứ quan trọng để phân định phạm vi xã hội hóa công tác thi hành án dân sự trong thời gian tới. Đối với loại việc thi hành án chủ động là nhằm bảo vệ lợi ích công nên mọi chi phí cũng như phương tiện để thi hành án đều do ngân sách nhà nước chi trả, cơ quan thực hiện thi hành án chủ động là cơ quan công quyền với đội ngũ cán bộ, chấp hành viên thi hành án được hưởng lương từ ngân nhà nhà nước. Đối với thi hành án theo đơn yêu cầu, có thể coi là lợi ích tư của công dân nên để được bảo vệ các quyền lợi đó, họ phải chịu các chi phí cần thiết, Nhà nước không nên bao cấp việc này, cần coi đó như một dịch vụ pháp lý đặc biệt và giao cho các tổ chức, cá nhân đảm nhiệm trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện của đương sự, nhằm giảm bớt gánh nặng cho bộ máy công quyền, đẩy nhanh tiến độ và hiệu quả giải quyết việc thi hành án dân sự. Như vậy, nên chăng cần sớm có quy định các vụ việc thi hành án theo đơn yêu cầu sẽ do Thừa phát lại thực hiện, cơ quan thi hành án dân sự chỉ thi hành án đối với những vụ việc thu cho ngân sách nhà nước và thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, có như vậy mới đảm bảo bình đẳng, công bằng trong xã hội. Ngoài ra, cũng có thể xã hội hóa hoạt động xây dựng và quản lý kho tang vật, tài sản, vật chứng của cơ quan thi hành án dân sự hiện nay.

Về xã hội hóa trong thi hành án hình sự, hiện nay Việt Nam chưa thực hiện, tuy nhiên đây cũng là vấn đề cần được đưa ra để nghiên cứu, có thể thực hiện xã hội hóa một số hoạt động như giao cho cá nhân, tổ chức có năng lực xây dựng, quản lý các trại giam, trại tạm giam và tổ chức quản lý phạm nhân. Sau khi bản án hình sự có hiệu lực, phạm nhân được thụ án tại các trại giam tư nhân, điều này sẽ giảm tải cho lực lượng giám thị trại giam của cơ quan công quyền. Nhà nước đóng vai trò quản lý, hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, giám sát… Việc xã hội hóa thi hành án hình sự có thể còn khá mới mẻ đối với nước ta, nhưng đối với một số nước trên thế giới thì không còn là điều mới. Ngay từ giữa thế kỷ thứ 18, chính quyền Mỹ đã bàn giao việc quản lý và điều hành những nhà tù đầu tiên cho các doanh nghiệp tư nhân. Cũng kể từ đó, mô hình tư nhân hóa nhà tù đã nở rộ và trở thành một ngành kinh doanh rất hấp dẫn và cạnh tranh tại đất nước này. Chính phủ hợp tác với doanh nghiệp thông qua các hợp đồng từ xây dựng và điều hành nhà tù đến việc cung cấp các dịch vụ như sức khỏe, thực phẩm hay công tác phục hồi nhân phẩm... Đã có hơn 30 bang của Mỹ trong đó có California, Texas, Florida và Colorado áp dụng giải pháp nhà tù tư nhân. Hiện có khoảng 9% tù nhân được đưa vào các nhà tù tư nhân và con số này không dừng lại ở đây vì số phạm nhân được đưa vào các nhà tù tư nhân đang gia tăng nhanh từng năm. Na Uy cũng tính đến việc “xuất khẩu” tù nhân sang Hà Lan1, Nghị viện của 2 quốc gia thuộc vùng Bắc Âu này vừa bỏ phiếu chuẩn y thỏa thuận được ký kết vào cuối năm 2014, cho phép các tù nhân người Na Uy bị kết án có thể chấp hành hình phạt ở nhà tù nằm trên đất Hà Lan. Theo thỏa thuận, sẽ có 242 tù nhân người Na Uy được chuyển đến chấp hành hình phạt tại nhà tù Norgerhaven, ở Đông bắc Hà Lan. Lý do dẫn đến việc ký kết thỏa ước đa quốc gia này là do Hà Lan có rất nhiều chỗ giam giữ phạm nhân còn để trống, trong khi các nhà tù ở Na Uy đang lâm vào tình trạng quá tải, không đủ sức chứa hết những người bị kết án (Bộ trưởng A. Anundsen giải trình trước Quốc hội Na Uy). Số liệu thống kê của Bộ Tư pháp Na Uy cho biết, tính đến thời điểm hiện nay có gần 1.300 người Na Uy đã bị Tòa kết án nhưng vẫn được “tự do”, bởi không có chỗ để giam giữ họ. Đồng thời Hiệp định “xuất khẩu” tù nhân còn kèm theo quy định cụ thể rằng, luật pháp Na Uy sẽ được áp dụng triệt để đối với các phạm nhân thụ án ở Hà Lan. Ngoài ra, để không phát sinh các trở ngại khác, họ cũng được canh giữ bởi các nhân viên giám ngục người Na Uy. Bản phụ lục của thỏa thuận xác định một đội ngũ gồm 240 nhân viên bảo vệ và hỗ trợ tư pháp, sẽ được phía Na Uy cử đến nhà tù Norgerhaven trực tiếp giám sát các tù nhân đồng hương. Thụy Sỹ cũng đã tính đến việc xuất khẩu tù nhân sang các nước láng giềng như Pháp, Đức để giúp giảm bớt tình trạng quá tải của các nhà tù trong nước.

Như vậy, về nguyên lý, có thể xã hội hóa cả thi hành án dân sự và thi hành án hình sự, cơ quan nhà nước chỉ nắm giữ vai trò của quản lý. Đây là kinh nghiệm quốc tế mà Việt Nam có thể tham khảo.

Tuy nhiên, việc xã hội hóa thi hành án sẽ tác động đến mô hình tổ chức các cơ quan thi hành án hiện nay, khi lực lượng xã hội hóa đảm nhiệm tất cả các vụ việc thi hành án dân sự theo đơn yêu cầu thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ chỉ còn thi hành những vụ việc chủ động và thực hiện chức năng quản lý, hướng dẫn chỉ đạo, kiểm tra... về thi hành án. Đối với thi hành án hình sự, việc xây dựng trại giam và trông coi phạm nhân có thể được xã hội hóa, do vậy cơ cấu trại giam của cơ quan thi hành án hình sự cũng sẽ thay đổi, đến một thời điểm thích hợp, khi xã hội hóa phát triển mạnh sẽ thu hẹp chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án nhà nước, theo đó, cơ cấu trong mỗi hệ thống thi hành án cũng được thu gọn.

Để đẩy mạnh xã hội hóa trong thi hành án dân sự và thi hành án hình sự, cần một số giải pháp, trước mắt như hoàn thiện về thể chế, trong đó quy định cụ thể về xã hội hóa, phạm vi xã hội hóa của từng loại thi hành án, đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án Luật Thừa phát lại, dự án sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Thi hành án dân sự và Luật Thi hành án hình sự theo đúng tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: “Từng bước thực hiện việc xã hội hoá và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án”, trong đó đặc biệt lưu ý đến vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức thực hiện xã hội hóa, quy định rõ ràng về quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền hỗ trợ và thực hiện một số công việc về cưỡng chế trong thi hành án, bảo đảm quyền lực nhà nước do Nhà nước thực hiện. Bên cạnh đó, đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ, kỹ năng nghề nghiệp để đảm nhận nhiệm vụ xã hội hóa thi hành án. Ngoài ra, cần có cơ chế kiểm soát, quản lý chặt chẽ từ phía Nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân thực hiện xã hội hóa; tăng cường phòng chống tiêu cực trong hoạt động tư pháp, trong đó có hoạt động thi hành án và đẩy mạnh tuyên truyền về xã hội hóa trong thi hành án cho nhân dân biết để giám sát, phản biện cũng như lựa chọn dịch vụ cho chính mình.

ThS. Đào Thị Hoài Thu
Văn phòng Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: