Thứ tư 14/01/2026 12:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về việc sửa đổi chế định thế chấp tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết này đã nhận diện bản chất và đặc điểm pháp lý của thế chấp, phân tích và chỉ ra những hạn chế, bất cập của chế định này để làm cơ sở cho việc sửa đổi, hoàn thiện.

Tóm tắt: Bài viết này đã nhận diện bản chất và đặc điểm pháp lý của thế chấp, phân tích và chỉ ra những hạn chế, bất cập của chế định này để làm cơ sở cho việc sửa đổi, hoàn thiện.

Abstract: This paper identifies the legal nature and characteristics of mortgage, analyzes and points out shortcomings, insufficiencies of this institution with a view to create basis for amendment and improvement.

Thế chấp là một chế định quan trọng trong hầu hết các hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Nhiều luật gia cho rằng, thế chấp không chỉ là một vấn đề pháp lý, mà còn là một yếu tố kinh tế. Nhờ có thế chấp mà người ta có thể vay vốn để kinh doanh, đồng thời làm tăng sức mua của người dân… Hiện nay, Việt Nam đang cần vốn để phát triển kinh tế, do đó, cần có các quy định pháp luật về thế chấp hoàn thiện và phù hợp hơn để tăng cường khả năng vay vốn, kể cả vay vốn nước ngoài. Tuy nhiên, chế định thế chấp trong Bộ luật Dân sự năm 2015 còn khá nhiều bất cập, nên khó phát huy tác dụng và có thể gặp nhiều rủi ro cao. Việc sửa đổi chế định này là một nhu cầu khách quan.

1. Bản chất, đặc điểm pháp lý của thế chấp và các bất cập liên quan của Bộ luật Dân sự năm 2015

Thế chấp là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”. Có lẽ vì hiểu và định nghĩa khái niệm thế chấp đơn giản như vậy, nên bản chất và các đặc điểm pháp lý của thế chấp rất khó được làm rõ.

Trong một công trình nghiên cứu liên quan tới bình luận Bộ luật Dân sự năm 1995, tác giả Ngô Huy Cương đề cập tới bốn đặc điểm pháp lý của thế chấp: (i) Thế chấp là một vật quyền bởi nó được chủ nợ thiết lập trên một tài sản cụ thể của con nợ hoặc của người thứ ba; (ii) Thế chấp là một quyền phụ thuộc bởi nó được thiết lập nhằm bảo đảm cho một quyền yêu cầu hay một nghĩa vụ, và phụ thuộc vào sự tồn tại của quyền yêu cầu; (iii) Thế chấp đối kháng với người thứ ba bởi người đã thiết lập vật quyền thế chấp có quyền theo đuổi tài sản thế chấp để thi hành vật quyền của mình; (iv) Thế chấp không thể bị phân chia bởi một thế chấp được xác lập trên nhiều tài sản thì thế chấp đó tồn tại bao trùm lên tất cả các tài sản thế chấp, trên mỗi tài sản và trên mỗi phần của mỗi tài sản trong đó dù các tài sản này bị phân chia hay các nghĩa vụ được bảo đảm bị phân chia cũng không ảnh hưởng tới thế chấp[1]. Khi kết hợp đặc điểm thứ nhất và đặc điểm thứ hai nêu trên, người ta gọi thế chấp là một vật quyền phụ thuộc. Bản chất của thế chấp là việc thiết lập một quan hệ đối vật để bảo đảm cho một quyền đối nhân, khác với bảo lãnh là việc thiết lập một quan hệ đối nhân để bảo đảm cho một quan hệ đối nhân khác[2].

Việc xác định bản chất và các đặc điểm pháp lý như trên của thế chấp có ý nghĩa rất quan trọng giúp chúng ta thấy được cần phải quy định như thế nào về thế chấp cho hợp logic và có hiệu quả. Khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ xác định thế chấp là (i) việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, và (ii) không giao tài sản cho bên kia, tuy nhiên, dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như thế nào, giao tài sản cho bên kia là gì… không được làm rõ trong định nghĩa thế chấp. Việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể được giải thích theo logic của các quy định trong Mục 3 về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Chương XV, Phần thứ ba, Bộ luật Dân sự năm 2015. Thông thường khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm với các phương thức do luật định hay do thỏa thuận để lấy nợ (các điều từ Điều 299 tới Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015). Còn vấn đề không giao tài sản cho bên kia được giải thích ngay tại khoản 2 tiếp theo của Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo khoản này, việc “không giao tài sản cho bên kia” được biểu hiện qua hai dấu hiệu: (i) Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ; (ii) Tài sản thế chấp được bên thứ ba nắm giữ bởi sự thỏa thuận của bên thế chấp và bên nhận thế chấp. Tuy nhiên, các quy định về việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và các quy định không giao tài sản cho bên kia trong chế định thế chấp này có những bất cập chủ yếu sau đây:

Một là, Bộ luật Dân sự năm 2015 không có quy định về việc thế chấp nhiều tài sản cho cùng một khoản nợ. Trước đó, Bộ luật Dân sự năm 2005 có một điều luật riêng nói về vấn đề này với nguyên tắc mỗi tài sản trong số tài sản thế chấp bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ và một ngoại lệ là các bên có thể thỏa thuận mỗi tài sản bảo đảm một phần nghĩa vụ (Điều 347). Như vậy, chế định thế chấp trong Bộ luật Dân sự năm 2005 có gián tiếp nhắc đến đặc điểm thế chấp không thể bị phân chia. Thế nhưng, Bộ luật Dân sự năm 2015 không nhắc tới đặc điểm này dù gián tiếp.

Hai là, thế chấp và cầm cố theo Bộ luật Dân sự năm 2015 được phân biệt chủ yếu qua tiêu chí nhận dạng là bên nhận thế chấp không nắm giữ tài sản trong thời gian thế chấp[3]. Như vậy, thế chấp và cầm cố không có gì để phân biệt trong trường hợp người nhận thế chấp yêu cầu người thế chấp phải chuyển giao tài sản bởi chúng chỉ khác nhau ở một khía cạnh rất nhỏ là đối với cầm cố, người cầm cố phải giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố (Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015); còn đối với thế chấp, người thế chấp phải giao tài sản thế chấp cho bên thứ ba (khoản 2 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Bộ luật Dân sự năm 2015, một mặt quy định rõ ràng khi thế chấp phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba, thì bên nhận thế chấp có quyền theo đuổi tài sản và bắt giữ tài sản để lấy nợ, nhưng mặt khác lại hạn chế quyền định đoạt tài sản thế chấp của người thế chấp dù rằng quyền sở hữu tài sản thế chấp vẫn thuộc về người thế chấp tài sản đó. Khoản 8 Điều 320 Bộ luật này quy định, người thế chấp không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp trừ một vài trường hợp rất hẹp. Cụ thể, bên thế chấp chỉ có quyền được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh và được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật (khoản 4 và khoản 5 Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015). Như vậy, quyền theo đuổi tài sản thế chấp của người nhận thế chấp chỉ dừng lại ở trường hợp người nhận thế chấp đồng ý cho người thế chấp bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp bởi các trường hợp khác không xảy ra và pháp luật sẽ khó có quy định nào khác với nguyên tắc đã được ấn định tại đây.

Các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 dường như thiên về bảo vệ quyền lợi của bên nhận thế chấp và một lần nữa thiết chặt hơn vào bên thế chấp, trong khi bản chất và các đặc điểm pháp lý của thế chấp đã đủ để bảo đảm quyền lợi của bên nhận thế chấp và làm cho các quy định về đăng ký các biện pháp bảo đảm trở nên dư thừa. Đăng ký thế chấp nhằm tới ba mục đích chính, bao gồm: (i) Nhằm đối kháng với người thứ ba; (ii) Nhằm cạnh tranh nhau trong thứ tự ưu tiên trả nợ; (iii) Nhằm xác định tính hợp pháp của tài sản thế chấp[4]. Do đó, nếu với các quy định ở trên, cùng với nghĩa vụ giao giấy tờ liên quan tới tài sản thế chấp tại khoản 1 Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2015 được thực hiện, thì mục đích đối kháng với người thứ ba và cạnh tranh thứ tự ưu tiên trả nợ là không cần thiết.

Việc bảo vệ quyền lợi của bên nhận thế chấp một cách thái quá còn biểu hiện ở cách thức viết điều luật. Chẳng hạn, khoản 1 Điều 293 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi: “Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại”. Điều luật này đã đảo ngược giữa nguyên tắc và trường hợp cụ thể để bảo vệ cho cả tính thiếu thận trọng của người nhận thế chấp. Một mặt, điều luật này tuyên bố: “Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật”, có nghĩa là việc thiết lập quan hệ bảo đảm phải dựa trên nguyên tắc rõ ràng, minh bạch về ý chí của các bên hoặc theo sự cân nhắc kỹ lưỡng của nhà làm luật. Nhưng mặt khác, điều luật lại quy định: “Nếu không có thoả thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại”, trong khi việc bảo đảm ở đây đã được xác định là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, có nghĩa là bảo đảm chủ yếu trong phạm vi của nghĩa vụ của con nợ hay phạm vi của quyền yêu cầu của chủ nợ đã xác định.

Tác giả Lê Thị Thu Thủy khi bình luận về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm theo Bộ luật Dân sự năm 2015 có đặt vấn đề: “Trong trường hợp các bên thỏa thuận phạm vi bảo đảm trong giao dịch bảo đảm vượt quá phạm vi của nghĩa vụ bảo đảm thì thỏa thuận này có bị vô hiệu không?”[5]. Như vậy, về nguyên tắc, việc bảo đảm chỉ trong phạm vi của nghĩa vụ chính và việc mở rộng phạm vi ra ngoài nghĩa vụ chính là trường hợp đặc biệt, mà đã đặc biệt thì cần phải có sự thỏa thuận cụ thể của các bên vì pháp luật không thể định ra một trường hợp bảo đảm nào để trường hợp đó lại có khả năng vô hiệu (có nghĩa là pháp luật chống lại chính pháp luật)[6].

2. Các giải pháp hoàn thiện chế định thế chấp trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Như trên đã nói, thế chấp có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển kinh tế, xã hội. Nếu chế định thế chấp có nhiều bất cập sẽ dẫn tới các hậu quả xấu cho sự phát triển chung dù nó có lợi cho các chủ nợ, vì sự thiệt thòi của các con nợ sẽ làm giảm mức độ sử dụng vốn và giảm mức độ tiêu dùng. Do đó, khắc phục những bất cập của chế định thế chấp là một nhu cầu cấp thiết hiện nay.

Theo nhận định của tác giả Nguyễn Ngọc Điện, có nhiều dạng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác nhau, nhưng “ý nghĩa của vấn đề chỉ đặc biệt nổi rõ trong trường hợp bảo đảm bằng biện pháp thế chấp tài sản và bảo lãnh”[7]. Vì vậy, trước hết, Bộ luật Dân sự cần xác định rõ tính chất của hai dạng bảo đảm này cùng với cầm cố. Bảo lãnh là bảo đảm đối nhân bởi người bảo lãnh bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ bằng toàn bộ tài sản của mình một cách thông thường. Trong khi đó, cầm cố và thế chấp là các dạng bảo đảm đối vật bởi người cầm cố, người thế chấp mang một hay một số tài sản cụ thể của mình ra để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, có nghĩa là, khi người có nghĩa vụ không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình, thì người có quyền yêu cầu có thể theo đuổi để lấy nợ trên một hay một số tài sản cụ thể này. Việc xác định bản chất của thế chấp như vậy giúp cho nhà làm luật dễ dàng trong việc thiết kế các quy định liên quan một cách logic và có khả năng phân biệt rõ giữa các dạng bảo đảm. Hiện nay, xuất phát từ sự khác biệt của truyền thống Common Law liên quan tới thương mại đơn thuần, chỉ liên quan tới sử dụng động sản để bảo đảm và chỉ căn cứ giao dịch bảo đảm, tác giả Lê Thị Thu Thủy kiến nghị rằng, chỉ nên tập trung vào các quyền lợi bảo đảm được các bên thỏa thuận để quy định và không nên quy định các dạng bảo đảm rõ ràng như của ta hiện nay[8]. Ý kiến này sắc sảo và linh động, nhưng có một số điểm cần lưu ý như sau: (i) Căn cứ để làm phát sinh quyền lợi bảo đảm hay các quan hệ bảo đảm không chỉ là hợp đồng, mà còn bởi pháp luật, nhất là trong dân sự; (ii) Tài sản bảo đảm nói chung không chỉ là động sản, mà còn cả bất động sản; (iii) Bảo đảm không chỉ dùng trong hoạt động thương mại, mà còn trong toàn bộ giao lưu dân sự nói chung; (iv) Khi tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài, cần phải quan tâm đến tính hệ thống của pháp luật, cụ thể truyền thống Common Law không chú trọng tới pháp điển hóa như ở truyền thống Civil Law.

Thế chấp cần phải được phân biệt với cầm cố ở tiêu chí có hay không việc phải chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản bảo đảm. Đối với cầm cố, người cầm cố phải chuyển giao tài sản cho người nhận cầm cố hoặc một bên thứ ba. Còn đối với thế chấp, người thế chấp không có nghĩa vụ này. Lưu ý rằng, vì thế chấp và cầm cố ở nước ta hiện nay được áp dụng cho cả động sản và bất động sản, nên tiêu chí phân biệt này có ý nghĩa rất lớn. Nếu bên thế chấp phải giao tài sản thế chấp cho bên thứ ba chiếm hữu, thì đó không thể là thế chấp mà phải là cầm cố. Việc buộc bên thế chấp phải chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản bảo đảm không khác nào ngăn cản việc khai thác kinh tế tài sản đó, gián tiếp ngăn cản sự phát triển kinh tế, xã hội. Về tâm lý, bất cứ chủ nợ nào cũng muốn tài sản thế chấp phải chuyển giao cho một người mình tin tưởng để bảo đảm chắc chắn cho khoản nợ. Việc chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản bảo đảm khiến không còn cần đòi hỏi đăng ký bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Bộ luật Dân sự năm 2015 cần loại bỏ các quy định ngăn cản người thế chấp bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, vì bản thân việc xác định bản chất và các đặc điểm pháp lý của thế chấp như trên đã bảo đảm cho chủ nợ nhận thế chấp khả năng thu hồi nợ trên tài sản thế chấp nếu con nợ không trả nợ được nợ tới hạn. Quyền theo đuổi tài sản bảo đảm cần phải quy định cụ thể hơn nữa để loại bỏ các quy định ngăn cản theo kiểu pháp luật hành chính.

Trong trường hợp các bên không thỏa thuận rõ phạm vi bảo đảm của thế chấp, thì pháp luật phải xác định phạm vi bảo đảm là nghĩa vụ chính vì đó là nguyên tắc thông thường. Việc xác định ngược như hiện nay của Bộ luật Dân sự năm 2015, vô hình chung pháp luật bảo vệ thiên vị cho một bên trong khi các bên bình đẳng về quan hệ dân sự, thương mại và thế chấp có căn cứ chủ yếu là hợp đồng. Trong quan hệ hợp đồng, các bên phải bình đẳng và cùng có lợi một cách hợp lý. Phạm vi bảo đảm mở rộng tới các khoản lãi, các khoản phạt và các khoản bồi thường là trường hợp đặc biệt phải được các bên ý thức rõ ràng và quy định trong hợp đồng.

Thực tiễn cho thấy, nhiều quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 không hợp lý bằng các quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự năm 2005. Chẳng hạn, định nghĩa thế chấp của Bộ luật Dân sự năm 2005 dễ tiếp cận hơn và có ý tưởng tiến bộ hơn, cụ thể: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp” (khoản 1 Điều 342). Ngay trong định nghĩa này, nghĩa vụ đã được phân loại theo truyền thống Civil Law thành nghĩa vụ dân sự, nghĩa vụ tự nhiên và nghĩa vụ đạo đức. Lưu ý rằng, chỉ có nghĩa vụ dân sự mới là quan hệ pháp lý và buộc phải thi hành theo quy định của pháp luật.

Nguyễn Thị Thơm

Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I, Bộ Công an







[1]. Ngô Huy Cương, “Vài nét về thế chấp trong Bộ luật Dân sự Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 5/1997, tr. 10 - 15.

[2]. Ngô Huy Cương, “Những sai lầm khi xây dựng chế định tài sản trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 07 (287) Kỳ 1 - Tháng 04/2015, tr. 17.

[3]. Nguyễn Ngọc Điện, “Xác định tài sản thế chấp theo tinh thần Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 02 + 03 (378 + 379), năm 2019, tr. 35.

[4]. Ngô Huy Cương, “Vài nét về thế chấp trong Bộ luật Dân sự Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/1997, tr. 10 - 15.

[5]. Lê Thị Thu Thủy, “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - Nhìn từ góc độ lý luận”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 18 (370) kỳ 2, tháng 9/2018, tr. 16.

[6]. Ngô Huy Cương, Nghĩa vụ dân sự bài giảng dành cho cao học, Bài giảng điện tử, năm 2012.

[7]. Nguyễn Ngọc Điện, “Xác định tài sản thế chấp theo tinh thần Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 02 + 03 (378 + 379), năm 2019, tr. 34.

[8]. Lê Thị Thu Thủy, “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - Nhìn từ góc độ lý luận”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 18 (370) Kỳ 2- Tháng 9/2018, tr. 14 - 16.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: