Thứ sáu 15/05/2026 00:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về việc sửa đổi chế định thế chấp tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết này đã nhận diện bản chất và đặc điểm pháp lý của thế chấp, phân tích và chỉ ra những hạn chế, bất cập của chế định này để làm cơ sở cho việc sửa đổi, hoàn thiện.

Tóm tắt: Bài viết này đã nhận diện bản chất và đặc điểm pháp lý của thế chấp, phân tích và chỉ ra những hạn chế, bất cập của chế định này để làm cơ sở cho việc sửa đổi, hoàn thiện.

Abstract: This paper identifies the legal nature and characteristics of mortgage, analyzes and points out shortcomings, insufficiencies of this institution with a view to create basis for amendment and improvement.

Thế chấp là một chế định quan trọng trong hầu hết các hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Nhiều luật gia cho rằng, thế chấp không chỉ là một vấn đề pháp lý, mà còn là một yếu tố kinh tế. Nhờ có thế chấp mà người ta có thể vay vốn để kinh doanh, đồng thời làm tăng sức mua của người dân… Hiện nay, Việt Nam đang cần vốn để phát triển kinh tế, do đó, cần có các quy định pháp luật về thế chấp hoàn thiện và phù hợp hơn để tăng cường khả năng vay vốn, kể cả vay vốn nước ngoài. Tuy nhiên, chế định thế chấp trong Bộ luật Dân sự năm 2015 còn khá nhiều bất cập, nên khó phát huy tác dụng và có thể gặp nhiều rủi ro cao. Việc sửa đổi chế định này là một nhu cầu khách quan.

1. Bản chất, đặc điểm pháp lý của thế chấp và các bất cập liên quan của Bộ luật Dân sự năm 2015

Thế chấp là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”. Có lẽ vì hiểu và định nghĩa khái niệm thế chấp đơn giản như vậy, nên bản chất và các đặc điểm pháp lý của thế chấp rất khó được làm rõ.

Trong một công trình nghiên cứu liên quan tới bình luận Bộ luật Dân sự năm 1995, tác giả Ngô Huy Cương đề cập tới bốn đặc điểm pháp lý của thế chấp: (i) Thế chấp là một vật quyền bởi nó được chủ nợ thiết lập trên một tài sản cụ thể của con nợ hoặc của người thứ ba; (ii) Thế chấp là một quyền phụ thuộc bởi nó được thiết lập nhằm bảo đảm cho một quyền yêu cầu hay một nghĩa vụ, và phụ thuộc vào sự tồn tại của quyền yêu cầu; (iii) Thế chấp đối kháng với người thứ ba bởi người đã thiết lập vật quyền thế chấp có quyền theo đuổi tài sản thế chấp để thi hành vật quyền của mình; (iv) Thế chấp không thể bị phân chia bởi một thế chấp được xác lập trên nhiều tài sản thì thế chấp đó tồn tại bao trùm lên tất cả các tài sản thế chấp, trên mỗi tài sản và trên mỗi phần của mỗi tài sản trong đó dù các tài sản này bị phân chia hay các nghĩa vụ được bảo đảm bị phân chia cũng không ảnh hưởng tới thế chấp[1]. Khi kết hợp đặc điểm thứ nhất và đặc điểm thứ hai nêu trên, người ta gọi thế chấp là một vật quyền phụ thuộc. Bản chất của thế chấp là việc thiết lập một quan hệ đối vật để bảo đảm cho một quyền đối nhân, khác với bảo lãnh là việc thiết lập một quan hệ đối nhân để bảo đảm cho một quan hệ đối nhân khác[2].

Việc xác định bản chất và các đặc điểm pháp lý như trên của thế chấp có ý nghĩa rất quan trọng giúp chúng ta thấy được cần phải quy định như thế nào về thế chấp cho hợp logic và có hiệu quả. Khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ xác định thế chấp là (i) việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, và (ii) không giao tài sản cho bên kia, tuy nhiên, dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như thế nào, giao tài sản cho bên kia là gì… không được làm rõ trong định nghĩa thế chấp. Việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể được giải thích theo logic của các quy định trong Mục 3 về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Chương XV, Phần thứ ba, Bộ luật Dân sự năm 2015. Thông thường khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm với các phương thức do luật định hay do thỏa thuận để lấy nợ (các điều từ Điều 299 tới Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015). Còn vấn đề không giao tài sản cho bên kia được giải thích ngay tại khoản 2 tiếp theo của Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo khoản này, việc “không giao tài sản cho bên kia” được biểu hiện qua hai dấu hiệu: (i) Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ; (ii) Tài sản thế chấp được bên thứ ba nắm giữ bởi sự thỏa thuận của bên thế chấp và bên nhận thế chấp. Tuy nhiên, các quy định về việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và các quy định không giao tài sản cho bên kia trong chế định thế chấp này có những bất cập chủ yếu sau đây:

Một là, Bộ luật Dân sự năm 2015 không có quy định về việc thế chấp nhiều tài sản cho cùng một khoản nợ. Trước đó, Bộ luật Dân sự năm 2005 có một điều luật riêng nói về vấn đề này với nguyên tắc mỗi tài sản trong số tài sản thế chấp bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ và một ngoại lệ là các bên có thể thỏa thuận mỗi tài sản bảo đảm một phần nghĩa vụ (Điều 347). Như vậy, chế định thế chấp trong Bộ luật Dân sự năm 2005 có gián tiếp nhắc đến đặc điểm thế chấp không thể bị phân chia. Thế nhưng, Bộ luật Dân sự năm 2015 không nhắc tới đặc điểm này dù gián tiếp.

Hai là, thế chấp và cầm cố theo Bộ luật Dân sự năm 2015 được phân biệt chủ yếu qua tiêu chí nhận dạng là bên nhận thế chấp không nắm giữ tài sản trong thời gian thế chấp[3]. Như vậy, thế chấp và cầm cố không có gì để phân biệt trong trường hợp người nhận thế chấp yêu cầu người thế chấp phải chuyển giao tài sản bởi chúng chỉ khác nhau ở một khía cạnh rất nhỏ là đối với cầm cố, người cầm cố phải giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố (Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015); còn đối với thế chấp, người thế chấp phải giao tài sản thế chấp cho bên thứ ba (khoản 2 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Bộ luật Dân sự năm 2015, một mặt quy định rõ ràng khi thế chấp phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba, thì bên nhận thế chấp có quyền theo đuổi tài sản và bắt giữ tài sản để lấy nợ, nhưng mặt khác lại hạn chế quyền định đoạt tài sản thế chấp của người thế chấp dù rằng quyền sở hữu tài sản thế chấp vẫn thuộc về người thế chấp tài sản đó. Khoản 8 Điều 320 Bộ luật này quy định, người thế chấp không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp trừ một vài trường hợp rất hẹp. Cụ thể, bên thế chấp chỉ có quyền được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh và được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật (khoản 4 và khoản 5 Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015). Như vậy, quyền theo đuổi tài sản thế chấp của người nhận thế chấp chỉ dừng lại ở trường hợp người nhận thế chấp đồng ý cho người thế chấp bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp bởi các trường hợp khác không xảy ra và pháp luật sẽ khó có quy định nào khác với nguyên tắc đã được ấn định tại đây.

Các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 dường như thiên về bảo vệ quyền lợi của bên nhận thế chấp và một lần nữa thiết chặt hơn vào bên thế chấp, trong khi bản chất và các đặc điểm pháp lý của thế chấp đã đủ để bảo đảm quyền lợi của bên nhận thế chấp và làm cho các quy định về đăng ký các biện pháp bảo đảm trở nên dư thừa. Đăng ký thế chấp nhằm tới ba mục đích chính, bao gồm: (i) Nhằm đối kháng với người thứ ba; (ii) Nhằm cạnh tranh nhau trong thứ tự ưu tiên trả nợ; (iii) Nhằm xác định tính hợp pháp của tài sản thế chấp[4]. Do đó, nếu với các quy định ở trên, cùng với nghĩa vụ giao giấy tờ liên quan tới tài sản thế chấp tại khoản 1 Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2015 được thực hiện, thì mục đích đối kháng với người thứ ba và cạnh tranh thứ tự ưu tiên trả nợ là không cần thiết.

Việc bảo vệ quyền lợi của bên nhận thế chấp một cách thái quá còn biểu hiện ở cách thức viết điều luật. Chẳng hạn, khoản 1 Điều 293 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi: “Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại”. Điều luật này đã đảo ngược giữa nguyên tắc và trường hợp cụ thể để bảo vệ cho cả tính thiếu thận trọng của người nhận thế chấp. Một mặt, điều luật này tuyên bố: “Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật”, có nghĩa là việc thiết lập quan hệ bảo đảm phải dựa trên nguyên tắc rõ ràng, minh bạch về ý chí của các bên hoặc theo sự cân nhắc kỹ lưỡng của nhà làm luật. Nhưng mặt khác, điều luật lại quy định: “Nếu không có thoả thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại”, trong khi việc bảo đảm ở đây đã được xác định là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, có nghĩa là bảo đảm chủ yếu trong phạm vi của nghĩa vụ của con nợ hay phạm vi của quyền yêu cầu của chủ nợ đã xác định.

Tác giả Lê Thị Thu Thủy khi bình luận về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm theo Bộ luật Dân sự năm 2015 có đặt vấn đề: “Trong trường hợp các bên thỏa thuận phạm vi bảo đảm trong giao dịch bảo đảm vượt quá phạm vi của nghĩa vụ bảo đảm thì thỏa thuận này có bị vô hiệu không?”[5]. Như vậy, về nguyên tắc, việc bảo đảm chỉ trong phạm vi của nghĩa vụ chính và việc mở rộng phạm vi ra ngoài nghĩa vụ chính là trường hợp đặc biệt, mà đã đặc biệt thì cần phải có sự thỏa thuận cụ thể của các bên vì pháp luật không thể định ra một trường hợp bảo đảm nào để trường hợp đó lại có khả năng vô hiệu (có nghĩa là pháp luật chống lại chính pháp luật)[6].

2. Các giải pháp hoàn thiện chế định thế chấp trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Như trên đã nói, thế chấp có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển kinh tế, xã hội. Nếu chế định thế chấp có nhiều bất cập sẽ dẫn tới các hậu quả xấu cho sự phát triển chung dù nó có lợi cho các chủ nợ, vì sự thiệt thòi của các con nợ sẽ làm giảm mức độ sử dụng vốn và giảm mức độ tiêu dùng. Do đó, khắc phục những bất cập của chế định thế chấp là một nhu cầu cấp thiết hiện nay.

Theo nhận định của tác giả Nguyễn Ngọc Điện, có nhiều dạng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác nhau, nhưng “ý nghĩa của vấn đề chỉ đặc biệt nổi rõ trong trường hợp bảo đảm bằng biện pháp thế chấp tài sản và bảo lãnh”[7]. Vì vậy, trước hết, Bộ luật Dân sự cần xác định rõ tính chất của hai dạng bảo đảm này cùng với cầm cố. Bảo lãnh là bảo đảm đối nhân bởi người bảo lãnh bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ bằng toàn bộ tài sản của mình một cách thông thường. Trong khi đó, cầm cố và thế chấp là các dạng bảo đảm đối vật bởi người cầm cố, người thế chấp mang một hay một số tài sản cụ thể của mình ra để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, có nghĩa là, khi người có nghĩa vụ không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình, thì người có quyền yêu cầu có thể theo đuổi để lấy nợ trên một hay một số tài sản cụ thể này. Việc xác định bản chất của thế chấp như vậy giúp cho nhà làm luật dễ dàng trong việc thiết kế các quy định liên quan một cách logic và có khả năng phân biệt rõ giữa các dạng bảo đảm. Hiện nay, xuất phát từ sự khác biệt của truyền thống Common Law liên quan tới thương mại đơn thuần, chỉ liên quan tới sử dụng động sản để bảo đảm và chỉ căn cứ giao dịch bảo đảm, tác giả Lê Thị Thu Thủy kiến nghị rằng, chỉ nên tập trung vào các quyền lợi bảo đảm được các bên thỏa thuận để quy định và không nên quy định các dạng bảo đảm rõ ràng như của ta hiện nay[8]. Ý kiến này sắc sảo và linh động, nhưng có một số điểm cần lưu ý như sau: (i) Căn cứ để làm phát sinh quyền lợi bảo đảm hay các quan hệ bảo đảm không chỉ là hợp đồng, mà còn bởi pháp luật, nhất là trong dân sự; (ii) Tài sản bảo đảm nói chung không chỉ là động sản, mà còn cả bất động sản; (iii) Bảo đảm không chỉ dùng trong hoạt động thương mại, mà còn trong toàn bộ giao lưu dân sự nói chung; (iv) Khi tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài, cần phải quan tâm đến tính hệ thống của pháp luật, cụ thể truyền thống Common Law không chú trọng tới pháp điển hóa như ở truyền thống Civil Law.

Thế chấp cần phải được phân biệt với cầm cố ở tiêu chí có hay không việc phải chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản bảo đảm. Đối với cầm cố, người cầm cố phải chuyển giao tài sản cho người nhận cầm cố hoặc một bên thứ ba. Còn đối với thế chấp, người thế chấp không có nghĩa vụ này. Lưu ý rằng, vì thế chấp và cầm cố ở nước ta hiện nay được áp dụng cho cả động sản và bất động sản, nên tiêu chí phân biệt này có ý nghĩa rất lớn. Nếu bên thế chấp phải giao tài sản thế chấp cho bên thứ ba chiếm hữu, thì đó không thể là thế chấp mà phải là cầm cố. Việc buộc bên thế chấp phải chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản bảo đảm không khác nào ngăn cản việc khai thác kinh tế tài sản đó, gián tiếp ngăn cản sự phát triển kinh tế, xã hội. Về tâm lý, bất cứ chủ nợ nào cũng muốn tài sản thế chấp phải chuyển giao cho một người mình tin tưởng để bảo đảm chắc chắn cho khoản nợ. Việc chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản bảo đảm khiến không còn cần đòi hỏi đăng ký bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Bộ luật Dân sự năm 2015 cần loại bỏ các quy định ngăn cản người thế chấp bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, vì bản thân việc xác định bản chất và các đặc điểm pháp lý của thế chấp như trên đã bảo đảm cho chủ nợ nhận thế chấp khả năng thu hồi nợ trên tài sản thế chấp nếu con nợ không trả nợ được nợ tới hạn. Quyền theo đuổi tài sản bảo đảm cần phải quy định cụ thể hơn nữa để loại bỏ các quy định ngăn cản theo kiểu pháp luật hành chính.

Trong trường hợp các bên không thỏa thuận rõ phạm vi bảo đảm của thế chấp, thì pháp luật phải xác định phạm vi bảo đảm là nghĩa vụ chính vì đó là nguyên tắc thông thường. Việc xác định ngược như hiện nay của Bộ luật Dân sự năm 2015, vô hình chung pháp luật bảo vệ thiên vị cho một bên trong khi các bên bình đẳng về quan hệ dân sự, thương mại và thế chấp có căn cứ chủ yếu là hợp đồng. Trong quan hệ hợp đồng, các bên phải bình đẳng và cùng có lợi một cách hợp lý. Phạm vi bảo đảm mở rộng tới các khoản lãi, các khoản phạt và các khoản bồi thường là trường hợp đặc biệt phải được các bên ý thức rõ ràng và quy định trong hợp đồng.

Thực tiễn cho thấy, nhiều quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 không hợp lý bằng các quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự năm 2005. Chẳng hạn, định nghĩa thế chấp của Bộ luật Dân sự năm 2005 dễ tiếp cận hơn và có ý tưởng tiến bộ hơn, cụ thể: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp” (khoản 1 Điều 342). Ngay trong định nghĩa này, nghĩa vụ đã được phân loại theo truyền thống Civil Law thành nghĩa vụ dân sự, nghĩa vụ tự nhiên và nghĩa vụ đạo đức. Lưu ý rằng, chỉ có nghĩa vụ dân sự mới là quan hệ pháp lý và buộc phải thi hành theo quy định của pháp luật.

Nguyễn Thị Thơm

Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I, Bộ Công an







[1]. Ngô Huy Cương, “Vài nét về thế chấp trong Bộ luật Dân sự Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 5/1997, tr. 10 - 15.

[2]. Ngô Huy Cương, “Những sai lầm khi xây dựng chế định tài sản trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 07 (287) Kỳ 1 - Tháng 04/2015, tr. 17.

[3]. Nguyễn Ngọc Điện, “Xác định tài sản thế chấp theo tinh thần Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 02 + 03 (378 + 379), năm 2019, tr. 35.

[4]. Ngô Huy Cương, “Vài nét về thế chấp trong Bộ luật Dân sự Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/1997, tr. 10 - 15.

[5]. Lê Thị Thu Thủy, “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - Nhìn từ góc độ lý luận”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 18 (370) kỳ 2, tháng 9/2018, tr. 16.

[6]. Ngô Huy Cương, Nghĩa vụ dân sự bài giảng dành cho cao học, Bài giảng điện tử, năm 2012.

[7]. Nguyễn Ngọc Điện, “Xác định tài sản thế chấp theo tinh thần Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 02 + 03 (378 + 379), năm 2019, tr. 34.

[8]. Lê Thị Thu Thủy, “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - Nhìn từ góc độ lý luận”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 18 (370) Kỳ 2- Tháng 9/2018, tr. 14 - 16.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: