Thứ năm 18/06/2026 03:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm các điều kiện kinh tế để nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính

Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính là hoạt động có định hướng, có tổ chức thông qua các phương pháp đặc thù và bằng nhiều hình thức khác nhau, hướng tới cung cấp, trang bị cho cán bộ, công chức hành chính những tri thức, hiểu biết về vấn đề pháp luật nói chung, về vấn đề pháp luật cụ thể nói riêng nhằm trang bị cho họ tri thức hiểu biết pháp luật, làm hình thành ở họ tình cảm, niềm tin đối với pháp luật và hành vi phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành.

Trong bài viết này, tác giả đã bày tỏ quan điểm rằng, việc nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức hành chính không thể tách rời sự đảm bảo các điều kiện về kinh tế - xã hội, đồng thời, tập trung phân tích các điều kiện cần thiết này. Qua đó, tác giả cũng khẳng định, Nhà nước và các cấp, các ngành cần quan tâm, đầu tư nhiều hơn cho việc cải thiện, nâng cao đời sống tinh thần cho cán bộ, công chức hành chính. Để làm được điều này, cần hiện thực hóa một số vấn đề thông qua những đề xuất giải pháp cụ thể được tác giả thể hiện trong bài viết.

Quá trình giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính là lĩnh vực hoạt động tinh thần, hướng tới mục đích cung cấp, trang bị những tri thức, hiểu biết pháp luật cho đội ngũ cán bộ này. Hoạt động tinh thần luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế và các điều kiện về kinh tế đảm bảo cho hoạt động đó. Ph. Ăngghen đã viết: “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật... đều dựa trên sự phát triển kinh tế”[1]. Luận điểm này là cơ sở để khẳng định việc nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính không thể tách rời sự đảm bảo các điều kiện về kinh tế - xã hội, bao gồm:

Một là, Nhà nước cần quan tâm hơn nữa, dành sự đầu tư kinh phí thỏa đáng cho công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính

Mọi hoạt động xã hội nói chung chỉ thực sự đi vào chiều sâu, đạt chất lượng, hiệu quả khi nhận được sự quan tâm và đầu tư kinh phí thỏa đáng từ phía Nhà nước. Hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính ở nước ta hiện nay cũng không nằm ngoài quy luật nói trên. Trong những năm qua, Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, bảo đảm tỷ lệ ngân sách nhà nước chi cho giáo dục tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục[2], trong đó có giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính. Ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động này cũng ngày càng tăng. Tuy nhiên, so với yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì sự đầu tư đó còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm và chưa đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của hoạt động này. Vì vậy, các cấp, các ngành quản lý hành chính cần quan tâm hơn nữa, dành sự đầu tư kinh phí thỏa đáng cho công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính ở nước ta hiện nay.

Nguồn kinh phí được đầu tư đầy đủ, đúng hướng giúp các cơ sở giáo dục pháp luật củng cố, nâng cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động giáo dục pháp luật, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống giảng đường rộng rãi, thoáng mát, bàn ghế đầy đủ, trang bị các thiết bị truyền thông đa phương tiện phục vụ dạy và học; xây dựng trụ sở, phòng làm việc cho các khoa chuyên môn, các phòng, ban chức năng; xây dựng trung tâm thông tin - thư viện với số đầu sách, báo, tạp chí phong phú, phòng đọc đủ rộng, đáp ứng được nhu cầu học tập, nghiên cứu, tra cứu thông tin; xây dựng, mở rộng ký túc xá đầy đủ tiện nghi, trang thiết bị hiện đại...

Đầu tư kinh phí của Nhà nước là điều kiện thiết yếu để các cơ sở giáo dục pháp luật xây dựng nội dung, chương trình đào tạo pháp luật theo hướng hiện đại, chuẩn hóa cho từng nhóm đối tượng người học; tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, nghiên cứu khoa học phục vụ việc củng cố, nâng cấp hệ thống sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, dịch thuật các tài liệu nước ngoài, xuất bản các ấn phẩm khác liên quan đến giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính; giúp các cơ sở giáo dục pháp luật thực hiện tốt hơn chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên, các chuyên gia pháp luật và các cán bộ quản lý công tác giáo dục cho cán bộ, công chức hành chính, như chế độ lương, phụ cấp trách nhiệm, chi trả thù lao giảng dạy, thù lao cho cán bộ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật... Đảm bảo cho cán bộ, giảng viên có được nguồn thu nhập xứng đáng với công sức bỏ ra cũng là biện pháp hữu hiệu trong việc phòng ngừa các hiện tượng tiêu cực xảy ra trong giáo dục, như bệnh thành tích, chạy điểm, học hành giả mà bằng cấp thật...

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực ngày càng sâu rộng, trong đó có giáo dục, đào tạo pháp luật. Kinh phí nhà nước cấp giúp cho việc mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế, trao đổi các đoàn cán bộ, giảng viên giữa các cơ sở giáo dục pháp luật trong và ngoài nước gia tăng hơn về số lượng, đảm bảo về chất lượng. Các nhà giáo dục pháp luật có cơ hội ra nước ngoài để học hỏi kinh nghiệm, nhập khẩu các chương trình, công nghệ giáo dục tiên tiến, hiện đại của nước ngoài; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính.

Hai là, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính

Theo quan điểm duy vật về lịch sử thì “không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ, trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”[3]. Hoạt động giáo dục pháp luật, suy cho cùng, luôn hướng tới mục đích, mục tiêu là cung cấp, trang bị cho cán bộ, công chức hành chính những kiến thức, hiểu biết pháp luật, làm hình thành và phát triển ý thức pháp luật, đặc biệt là ý thức pháp luật nghề nghiệp cho họ. Ý thức pháp luật được hình thành xuất phát từ những điều kiện kinh tế, vật chất nhất định của xã hội, phản ánh những điều kiện vật chất nhất định và chịu sự chi phối của những điều kiện vật chất đó. Đối với cán bộ, công chức nói chung, nhất là cán bộ, công chức cấp xã, Đảng ta cũng đã chủ trương: “Có chế độ đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn”[4]. Luận điểm trên đây chứng minh rằng, muốn nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính thì một trong những biện pháp hết sức quan trọng là phải cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho họ. Đây là điều kiện tiên quyết để cán bộ, công chức hành chính nâng cao ý thức pháp luật, và như vậy, việc giáo dục pháp luật đối với họ mới có ý nghĩa. Bởi vì, chỉ khi thu nhập được nâng lên, mức sống của bản thân và gia đình được cải thiện thì cán bộ, công chức hành chính mới có thể toàn tâm, toàn ý, tập trung vào công tác chuyên môn, chấp hành kỷ cương, cống hiến tài năng và tâm huyết cho sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thực tế cho thấy, nền kinh tế chưa phát triển, thể chế, chính sách kinh tế và pháp luật chưa thông thoáng, tạo điều kiện để cán bộ, công chức hành chính nâng cao thu nhập là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Cùng với đó, những tác động tiêu cực bởi mặt trái của kinh tế thị trường, như chủ nghĩa thực dụng, đề cao sức mạnh của tiền bạc, tư lợi... đang khiến cho một số cán bộ, công chức hành chính phớt lờ các nguyên tắc, quy định của pháp luật, dính líu vào các loại tệ nạn xã hội, tha hóa về đạo đức, thực hiện các hành vi phạm tội như đưa, nhận hối lộ, tham ô tài sản... nhằm thỏa mãn các nhu cầu bất chính. Khi đã quá đam mê với các lợi ích vật chất phi pháp thì những cán bộ, công chức hành chính không còn nghĩ đến việc học tập, nghiên cứu để tiếp nhận, nâng cao kiến thức, hiểu biết pháp luật và phụng sự chuyên môn, nghĩa là không tham gia giáo dục pháp luật. Chính vì vậy, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất cho cán bộ, công chức hành chính là một trong những giải pháp bền vững, hiệu quả, là cơ sở nền tảng của giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ này.

Đời sống vật chất của cán bộ, công chức hành chính chỉ có thể được cải thiện và nâng cao khi các chế độ, chính sách đãi ngộ của Nhà nước đảm bảo được sự ổn định cuộc sống của họ. Chẳng hạn, các chủ trương, chính sách của Nhà nước về cải cách chế độ, tiền lương, điều chỉnh mức phụ cấp, chính sách ưu đãi đối với cán bộ, công chức hành chính... đều là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến lợi ích vật chất của cán bộ, công chức hành chính. Trên thực tế, Nhà nước ta từ lâu đã quan tâm đến chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức hành chính, nhất là công chức cấp xã. Đảng và Nhà nước ta chủ trương rằng, cán bộ chuyên trách xã, phường, thị trấn “có chế độ làm việc và được hưởng chính sách về cơ bản như cán bộ, công chức nhà nước... ”. Chủ trương này đã thành hiện thực, các chế độ đãi ngộ của Nhà nước ta đã từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính các cấp. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và so với mặt bằng giá cả sinh hoạt chung trong xã hội cũng như thời gian công sức mà cán bộ, công chức hành chính phải bỏ ra thì sự đãi ngộ đó là chưa tương xứng (như tại tỉnh Kontum, thiếu nhất là cán bộ tư pháp cấp xã, có xã diện tích rộng bằng tỉnh Thái Bình nhưng chỉ có một cán bộ làm công tác tư pháp). Khối lượng công việc trên một địa bàn rộng lớn như vậy đòi hỏi người cán bộ tư pháp cơ sở phải nỗ lực tối đa và phải có chế độ đãi ngộ thỏa đáng thì mới khuyến khích được lòng nhiệt tình công tác của họ. Đã có những cán bộ, công chức hành chính, ngay cả ở thành phố lớn phải bỏ việc nhà nước để ra kinh doanh, làm nghề tự do.

Đời sống tinh thần của cán bộ, công chức hành chính cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và đối với việc tiếp thu tri thức, hiểu biết pháp luật của đội ngũ cán bộ này trong quá trình tham gia vào công tác giáo dục pháp luật. Khi cán bộ, công chức có một đời sống tinh thần lành mạnh, trong sáng và phong phú thì đó là điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao tiếp xã hội, nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết về các lĩnh vực xã hội, phục vụ tốt hơn cho hoạt động chuyên môn, nhiệt tình, hăng hái hơn trong việc tham gia giáo dục pháp luật. Vì vậy, Nhà nước và các cấp, các ngành cũng cần quan tâm, đầu tư nhiều hơn cho việc cải thiện, nâng cao đời sống tinh thần cho cán bộ, công chức hành chính. Để làm được điều này, cần hiện thực hóa các vấn đề sau:

Thứ nhất, Nhà nước, các cấp, các ngành cần thường xuyên cung cấp các loại tài liệu về pháp luật, các văn bản pháp luật mới, đặc biệt là Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho cán bộ, công chức hành chính, tạo thuận lợi cho họ trong việc cập nhật thông tin pháp luật. Công báo là phương tiện truyền thông đăng tải một cách sớm nhất các loại chính sách, văn bản pháp luật mới của nhà nước nên nó đáp ứng được nhanh nhất nhu cầu cập nhật thông tin pháp luật của cán bộ, công chức hành chính. Trên thực tế, nhu cầu này đã được đáp ứng từ lâu, ngay cả đối với cán bộ, công chức cấp xã; tuy nhiên, đối tượng được tiếp nhận vẫn hạn chế, không kịp thời đối với các vùng sâu, vùng xa. Ngoài ra, bên cạnh các chính sách, văn bản pháp luật của Nhà nước, còn có các văn bản pháp quy do các cấp chính quyền địa phương ban hành. Do đó, cần phải thiết lập một cơ chế thông tin sao cho các văn bản pháp quy đó đến được với đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ở địa phương một cách nhanh chóng nhất để họ có thể kịp thời triển khai trong đời sống hành chính.

Thứ hai, cung cấp miễn phí các loại báo (Báo Nhân dân, Báo Pháp luật Việt Nam...), các loại tạp chí khoa học chuyên ngành, các báo địa phương cho cán bộ, công chức hành chính tùy theo từng cấp, từng ngành. Các loại báo giúp họ nắm bắt kịp thời các thông tin kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên cả nước cũng như ở địa phương, làm phong phú thêm cho họ tri thức, hiểu biết xã hội. Các loại tạp chí khoa học giúp cán bộ, công chức hành chính hiểu sâu thêm kiến thức lý luận và thực tiễn về các lĩnh vực luật thuộc chuyên ngành mà họ đang đảm nhiệm, phục vụ thiết thực cho việc giải quyết công việc chuyên môn. Báo chí là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với cán bộ, công chức hành chính. Chẳng hạn, đối với cán bộ, công chức Ngành Tư pháp các cấp thì cung cấp cho họ Báo Pháp luật Việt Nam và Tạp chí Dân chủ và Pháp luật...

Thứ ba, tạo điều kiện để cán bộ, công chức hành chính được đi du lịch, tham quan các danh lam thắng cảnh, tìm hiểu các di tích lịch sử văn hóa các vùng, các miền của đất nước. Tổ chức các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao; giao lưu, học hỏi kinh nghiệm giữa cán bộ, công chức hành chính các ngành, các địa phương... Những hoạt động đó góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, giảm thiểu stress, tạo tâm lý hưng phấn, thoải mái cho cán bộ, công chức hành chính hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn cũng như tích cực tham gia vào quá trình giáo dục pháp luật.

ThS. Nguyễn Hữu Luận
PGS.TS. Nguyễn Quốc Sửu
Học viện Hành chính Quốc gia

Tài liệu tham khảo:

[1]. C. Mác và Ph. Ăngghen (1999), Toàn tập, tập 39, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[2]. Luật Giáo dục (1998), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[3]. C. Mác và Ph. Ăngghen 1993), Toàn tập, tập 13, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: