Thứ hai 27/07/2026 14:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền của người giám định trong tố tụng hình sự

Bảo đảm quyền của người giám định trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích thực trạng pháp luật, đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế về bảo đảm quyền của người giám định trong tố tụng hình sự, từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) về vấn đề này.

Abstract: In this article, the author analyzes the current legal situation, and at the same time, points out the shortcomings and limitations in ensuring the rights of experts in criminal proceedings, thereby, making some recommendations to improve the legal provisions of the Criminal Procedure Code of 2015 (amended and supplemented in 2021) on this issue.

1. Thực tiễn về bảo đảm quyền của người giám định trong tố tụng hình sự

Thứ nhất, về quyền tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng phải giám định:

Đây là một trong những quyền cơ bản của người giám định đã được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự) quy định, giúp giám định viên đưa ra kết luận chính xác hơn. Bởi, trong tố tụng hình sự, khi có vấn đề bắt buộc hoặc cần thiết phải trưng cầu giám định, cơ quan tiến hành tố tụng thu thập tài liệu, đồ vật (mẫu giám định) trưng cầu cơ quan chuyên môn giám định để kết luận về một sự việc, một tình tiết của vụ án về khả năng xảy ra trong điều kiện hoàn cảnh thực tế hoặc tìm sự đồng nhất… thì người giám định phải tìm hiểu, nắm bắt những thông tin cần thiết về đối tượng giám định, thậm chí phải tìm hiểu thêm những thông tin tài liệu, đồ vật, mẫu vật ngoài những gì mà cơ quan tiến hành tố tụng đã cung cấp có liên quan đến đối tượng giám định thì mới giúp họ đưa ra kết luận có đầy đủ cơ sở khoa học, chính xác, khách quan. Như vậy, có thể thấy rằng, pháp luật tố tụng hình sự cho phép người giám định có quyền tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng phải giám định là cần thiết và mang tính khách quan trong quá trình đi tìm sự thật của vụ án hình sự. Đây là cơ sở pháp lý xác định quyền của người giám định trong tố tụng hình sự.

Thực tiễn tố tụng hình sự cho thấy, quyền này chưa thực sự mang tính khả thi vì nguồn tài liệu chủ yếu do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thu thập trong các giai đoạn tiến hành tố tụng; những tài liệu này thường được người tiến hành tố tụng quản lý, bảo quản tại cơ quan tiến hành tố tụng nên người giám định muốn tiếp cận cũng rất khó khăn, vì nhiều lý do khác nhau. Mặt khác, khi trưng cầu giám định, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ gửi mẫu giám định, còn các tài liệu liên quan đến giám định để giúp việc giám định khách quan, chính xác hơn thì rất ít được cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng quan tâm, thậm chí không cung cấp. Trường hợp giám định viên yêu cầu tham khảo, nghiên cứu những tài liệu liên quan cần thiết cho việc giám định thì cũng gặp khó khăn nhất định từ cơ chế phối hợp, thủ tục hành chính cũng như thời gian, địa điểm nghiên cứu hay sự phê duyệt của lãnh đạo…, do đó, việc thực hiện quyền này chưa có hiệu quả. Về phía người giám định, một bộ phận giám định viên chưa thực sự quan tâm thực hiện quyền này cũng xuất phát từ nhiều lý do khác nhau.

Thứ hai, về quyền yêu cầu cơ quan trưng cầu giám định cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc kết luận:

Về quy phạm pháp luật, quyền yêu cầu cơ quan trưng cầu giám định cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc kết luận và quyền tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng phải giám định là quyền cơ bản của người giám định, có ý nghĩa bổ sung cho nhau. Về thực chất, người giám định muốn thực hiện quyền nghiên cứu tìm hiểu tài liệu thì phải có tài liệu để nghiên cứu. Trong khi đó, trách nhiệm của cơ quan trưng cầu giám định là phải cung cấp tài liệu liên quan đến việc giám định cho người giám định, chứ người giám định không có nhiệm vụ, quyền hạn tiến hành các hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ như cơ quan tiến hành tố tụng.

Để bảo đảm thực hiện quyền tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng giám định của người giám định thì cơ quan tiến hành tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, đồ vật, mẫu vật có liên quan đến đối tượng giám định để người giám định nghiên cứu; nếu qua nghiên cứu tài liệu đã được cung cấp, người giám định xét thấy cần thiết phải nghiên cứu thêm những tài liệu khác có liên quan thì họ có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thêm tài liệu, đồ vật, mẫu vật. Thực tiễn cho thấy, khi nhận được quyết định trưng cầu giám định, một số người giám định không yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cung cấp thêm những tài liệu cần thiết như: Biên bản thu giữ vật chứng, biên bản khám xét, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của những người có liên quan, kết luận giám định trước đó (nếu có), tài liệu liên quan khác… nên quyền này chưa thực sự được thực thi. Trong tố tụng hình sự, việc bảo đảm quyền yêu cầu cơ quan trưng cầu giám định cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc kết luận của người giám định là rất hạn chế.

Thứ ba, về quyền tham dự vào việc hỏi cung, lấy lời khai và đặt câu hỏi về những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định:

Người giám định tham gia việc hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án… nhằm mục đích thu thập thêm những thông tin liên quan đến vấn đề cần giám định, làm cơ sở cho việc đưa ra kết luận giám định. Về mặt lý luận, đây là quy định cần thiết trong tố tụng hình sự, tạo điều kiện thuận lợi cho người giám định thực hiện việc giám định theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Người giám định có quyền chủ động tính toán lựa chọn có tham dự vào việc hỏi cung, lấy lời khai của điều tra viên hay không, tùy thuộc vào tính chất của vụ án có liên quan đến nội dung giám định. Khi tham dự vào việc hỏi cung, lấy lời khai, người giám định có quyền đặt câu hỏi yêu cầu bị can, người có liên quan trả lời, giải thích rõ những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định.

Về mặt thực tiễn, việc hỏi cung do điều tra viên tiến hành tại cơ quan điều tra nếu bị can không bị bắt giam hoặc tại trại tạm giam, nhà tạm giữ nếu bị can bị tạm giam; thời gian hỏi cung cũng do điều tra viên chủ động sắp xếp theo yêu cầu của hoạt động điều tra vụ án. Do vậy, việc tham dự hỏi cung của người giám định phải thông qua thủ trưởng cơ quan điều tra và điều tra viên khi được các chủ thể này chấp thuận nên có những khó khăn nhất định; mặt khác, do yêu cầu nghiệp vụ, cũng như bí mật thông tin trong quá trình điều tra vụ án nên yêu cầu tham dự hỏi cung của người giám định chưa được thực hiện một cách triệt để. Về phía người giám định, do nhiều nguyên nhân khác nhau như ngại khó, ngại va chạm, ngại phiền hà mà trong một số trường hợp chưa thực hiện triệt để quyền này khi thực hiện giám định.

Thứ tư, về quyền từ chối việc thực hiện giám định trong trường hợp thời gian không đủ để tiến hành giám định, các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để kết luận, nội dung yêu cầu giám định vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình:

Thực tế cho thấy, đây là những vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc giám định phải mất nhiều công sức, thời gian hoặc do trình độ khoa học kỹ thuật không cho phép tiến hành giám định trong một giới hạn thời gian nhất định, hoặc do thời hạn tiến hành tố tụng đối với vụ án quá ngắn, người giám định xét thấy khả năng không thể hoàn thành kết luận giám định theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng được, nên từ chối thực hiện giám định. Hoặc, khi người giám định nhận được hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giám định do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cung cấp nhưng không bảo đảm độ tin cậy về khoa học do mất mát, hư hỏng, do thời gian đã quá lâu, dấu vết không rõ…, thiếu những tài liệu quan trọng hay các tài liệu không còn giá trị nguyên bản, do vậy, người giám định đã từ chối giám định vì xét thấy không thể kết luận giám định một cách khách quan, khoa học được. Hoặc, do trình độ chuyên môn của người giám định không thể kết luận được chính xác 100% theo trưng cầu giám định (chẳng hạn như truy nguyên đồng dạng, ADN…), cũng từ chối giám định. Trong trường hợp việc giám định không thể tiến hành theo thời hạn mà cơ quan tr­ưng cầu giám định yêu cầu thì cơ quan giám định hoặc người giám định phải thông báo ngay bằng văn bản và nêu rõ lý do cho cơ quan đã trư­ng cầu giám định biết.

Thứ năm, về quyền ghi riêng ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận chung nếu không thống nhất với kết luận chung trong trường hợp giám định do một nhóm người giám định tiến hành:

Kết thúc việc giám định, người giám định làm bản kết luận giám định. Bản kết luận giám định thể hiện thời gian, địa điểm tiến hành giám định, họ tên, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn của người giám định, người tham gia tiến hành giám định, những dấu vết, đồ vật đã tiến hành giám định, những phương pháp đã áp dụng, giải đáp những yêu cầu giám định (kết luận). Nếu việc giám định có nhiều giám định viên tham gia thì ngoài kết luận chung (kết luận tập thể), người giám định có thể đưa ra kết luận riêng của mình, điều này phải được ghi vào kết luận giám định.

Qua nghiên cứu thực tiễn giám định tư pháp hình sự, tác giả nhận thấy còn tồn tại một số vấn đề như sau:

Một là, một trong những vấn đề bức thiết của các tổ chức giám định tư pháp hiện nay là tình trạng đội ngũ giám định viên còn rất thiếu về số lượng và còn hạn chế về chất lượng. Hầu hết các tổ chức giám định pháp y đều thiếu giám định viên pháp y chuyên trách, riêng đội ngũ giám định kỹ thuật hình sự toàn quốc còn thiếu nhiều so với yêu cầu nhiệm vụ. Bên cạnh việc đội ngũ giám định viên tư pháp hiện chưa được đào tạo một cách bài bản về nghiệp vụ giám định và kiến thức pháp lý cần thiết thì tình hình “chảy máu” nguồn nhân lực trong các tổ chức giám định tư pháp đang diễn ra ngày càng nhiều mà chưa có giải pháp khắc phục hiệu quả.

Hai là, việc bổ nhiệm giám định viên và lập danh sách người giám định tư pháp chưa thực hiện trên cơ sở quy hoạch phát triển và chưa thực sự bám sát vào nhu cầu của hoạt động tố tụng hình sự, chưa mở rộng đến các chuyên gia giỏi ngoài khu vực nhà nước, chưa coi trọng khả năng nghiệp vụ, thiếu sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan tiến hành tố tụng với tư cách là người sử dụng, đánh giá kết luận giám định. Mặt khác, việc lập danh dách người giám định tư pháp theo vụ việc trong phạm vi toàn quốc không được thực hiện đồng bộ, chủ động và thống nhất.

Ba là, việc hình thành lực lượng giám định tư pháp còn phân tán theo bộ, ngành và địa phương, số này chủ yếu kiêm nhiệm khi có yêu cầu còn bình thường tham gia việc khác. Khi cơ quan tiến hành tố tụng cần trưng cầu thì các bộ, ngành, địa phương nhận được văn bản trưng cầu mới tìm giám định viên để thực hiện, quá trình đó kéo dài. Khi thực hiện, trong một số trường hợp, giám định viên cũng chưa tận lực. Thêm vào đó, trình độ, chuyên môn của một bộ phận giám định viên còn có hạn nên vụ việc bị trả về cơ quan điều tra không ít.

Bốn là, chưa có quy định ràng buộc trách nhiệm pháp lý và chế tài xử lý cụ thể khi giám định viên, tổ giám định kéo dài, trễ thời hạn, họ đưa ra các lý do biện minh, trong khi nếu kết luận không chính xác thì cũng khó xử lý bởi quan niệm “vụ việc phức tạp, khó giám định”.

2. Một số kiến nghị

Thứ nhất, nhập quyền tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng phải giám định và yêu cầu cơ quan trưng cầu giám định cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc kết luận thành quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân trưng cầu giám định cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc giám định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 68 Bộ luật Tố tụng hình sự thành quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án liên quan đến đối tượng giám định của người giám định để bảo đảm người giám định đưa ra được kết luận giám định chính xác, khách quan và có cơ sở khoa học.

Thứ ba, bổ sung quyền được biết trước sự tham gia của điều tra viên, kiểm sát viên khi giám định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng hình sự vì theo quy định tại khoản 1 Điều 209 Bộ luật Tố tụng hình sự về việc tiến hành giám định thì: “Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, người yêu cầu giám định có thể tham dự giám định nhưng phải báo trước cho người giám định biết”.

Thứ tư, bổ sung quyền được tham gia phiên tòa của người giám định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng hình sự, vì theo quy định tại Điều 294 Bộ luật Tố tụng hình sự thì: “1. Người giám định, người định giá tài sản tham gia phiên tòa khi được Tòa án triệu tập. 2. Nếu người giám định, người định giá tài sản vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử”.

Thứ năm, bổ sung vào khoản 4 Điều 258 Bộ luật Tố tụng hình sự quyền của người giám định được xem biên bản phiên tòa, quyền ghi ý kiến sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận thành: “4. Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bảo vệ quyền lợi của đương sự hoặc đại diện hợp pháp của những người đó, người giám định được xem biên bản phiên tòa, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận”.

Thứ sáu, bổ sung quyền kháng cáo theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự như sau: “Người giám định có quyền kháng cáo phần bản án hình sự hoặc quyết định có liên quan đến kết luận giám định của họ”.

Thứ bảy, tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định về tố tụng hình sự, dân sự và hành chính theo nguyên tắc bảo đảm sự bình đẳng của các bên tố tụng trong việc cung cấp các kết luận giám định với tư cách là một loại chứng cứ; trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đánh giá kết luận giám định do các bên tố tụng đưa ra một cách khách quan, công bằng.

Thứ tám, tăng cường sự tham gia phiên tòa của người giám định tư pháp trong những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, những trường hợp kết luận giám định là căn cứ duy nhất hoặc mấu chốt để giải quyết vụ án.

Thứ chín, xây dựng quy chuẩn chuyên môn trong từng lĩnh vực giám định, để từ đó, có thể tiến tới xây dựng quy trình, quy chuẩn thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

TS. Trần Thảo

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: