Chủ nhật 15/03/2026 08:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền khai thác thông tin đất đai của người dân trong nền kinh tế số

Bên cạnh các quyền cơ bản của người sử dụng đất đã được định hình thành những quy định cụ thể, nhu cầu được khai thác hệ thống thông tin đất đai của công dân cũng là một trong những quyền hạn rất quan trọng. Thực tế chỉ ra rằng, đây là cơ sở để bảo đảm công tác quản lý, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đồng thời cũng là cơ chế thể hiện quyền con người - quyền được tiếp cận thông tin đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Trong bài viết này, tác giả phân tích để đi đến một cái nhìn có chiều sâu hơn liên quan đến việc bảo đảm quyền khai thác thông tin đất đai của người dân và một số giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện các quy định có liên quan.


1. Đặt vấn đề

Đất đai là một nguồn tài nguyên quan trọng và có giới hạn. Việc quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai sẽ đem tới những lợi thế cạnh tranh và tạo ra một xã hội ổn định và thịnh vượng[1]. Xuất phát từ lý do này, ngay từ Hiến pháp và những văn bản quy phạm pháp luật về đất đai đầu tiên, nhu cầu khai thác, thông tin, dữ liệu về đất đai đã sớm được manh nha và qua thời gian, tiếp tục được định hình thành những quy định cụ thể.

Quyền được khai thác thông tin đất đai của công dân là một trong những thành tố quan trọng của quyền tiếp cận thông tin - quyền được quy định trong Hiến pháp năm 2013 hay Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Tuy nhiên, với hành lang pháp lý còn thiếu thống nhất, thiếu cụ thể, đặc biệt là những khoảng trống trong quy định của Luật Đất đai năm 2013 cũng như hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành, quyền tiếp cận, khai thác thông tin đất đai còn chưa được bảo đảm.

Cho đến nay, hệ thống khung chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng đất đã liên tục được hoàn thiện với việc ban hành Luật Đất đai các năm 1987, 1993, 2003, 2013 và được quốc tế công nhận là tương đối đầy đủ và hợp lý[2]. So với các văn bản cũ, các quy định của Luật Đất đai năm 2013 đã có những bước tiến đáng kể trong việc ghi nhận quyền của người sử dụng đất nói chung, nhu cầu khai thác hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu đất đai nói riêng. Tuy nhiên, năng lực thực thi chính sách pháp luật của ngành quản lý đất đai vẫn tiếp tục là hạn chế cơ bản, khoảng cách giữa khung chính sách và hiệu quả thực thi pháp luật vẫn còn khá lớn, đặc biệt, khung chính sách không được thực thi một cách thống nhất giữa các địa phương trong cả nước[3].

2. Quy định của pháp luật hiện hành về quyền khai thác thông tin đất đai của người dân

Khoản 3 Điều 122 Luật Đất đai năm 2013 nêu rõ: “Tổ chức, cá nhân có nhu cầu về thông tin, dữ liệu đất đai được khai thác, sử dụng qua cổng thông tin đất đai ở trung ương, địa phương và phải nộp phí; khi thực hiện khai thác thông tin, dữ liệu đất đai phải thực hiện đúng quy định của pháp luật”.

Điều 9, Điều 10, Điều 11 Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai (Thông tư 34/2014/TT-BTNMT), Thông tư số 24/2019/TT-BTNMT ngày 31/1/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi và bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành, liên tịch ban hành của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (Thông tư 24/2019/TT-BTNMT) quy định, các hình thức khai thác thông tin đất đai bao gồm: (i) Khai thác thông tin đất đai qua mạng internet, cổng thông tin đất đai, dịch vụ tin nhắn SMS; (ii) Khai thác thông tin đất đai thông qua phiếu yêu cầu hoặc văn bản tại cơ quan có thẩm quyền cung cấp dữ liệu đất đai.

2.1. Khai thác thông tin đất đai qua mạng internet, cổng thông tin đất đai, dịch vụ tin nhắn SMS

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT, việc khai thác thông tin đất đai thông qua hình thức này có một số điểm lưu ý:

Thứ nhất, tổ chức, cá nhân khi khai thác dữ liệu đất đai trên mạng internet, cổng thông tin đất đai phải đăng ký và được cấp quyền truy cập, khai thác dữ liệu từ hệ thống thông tin đất đai. Khoản 22 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định, hệ thống thông tin đất đai là hệ thống tổng hợp các yếu tố hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, phần mềm, dữ liệu và quy trình, thủ tục được xây dựng để thu thập, lưu trữ, cập nhật, xử lý, phân tích, tổng hợp và truy xuất thông tin đất đai. Khoản 23 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định, cơ sở dữ liệu đất đai là tập hợp các dữ liệu đất đai được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thông qua phương tiện điện tử. Bàn về hệ thống thông tin đất đai, có quan điểm cho rằng, “hệ thống thông tin đất đai là công cụ quản lý tới từng thửa đất, từng chủ sử dụng, quản lý cả các quá trình chuyển đổi đất đai, kiểm tra đất đai, theo dõi quá trình quản lý và sử dụng đất. Hệ thống thông tin đất đai là công cụ để quản lý thống nhất hệ thống các dữ liệu về hồ sơ địa chính, các thông tin về tài nguyên đất và cung cấp các thông tin đất đai cho các hoạt động kinh tế của các ngành, các địa phương và các đối tượng sử dụng đất”[4].

Thứ hai, khoản 2, khoản 3 Điều 12 Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT quy định, cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai tiếp nhận, xử lý và thông báo nghĩa vụ tài chính (trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính) cho tổ chức, cá nhân. Trường hợp từ chối cung cấp dữ liệu thì phải nêu rõ lý do và trả lời cho tổ chức, cá nhân biết. Sau khi tổ chức, cá nhân thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai thực hiện cung cấp dữ liệu đất đai theo yêu cầu.

Về thời hạn cung cấp dữ liệu đất đai thực hiện theo quy định sau:

Thứ ba, tổ chức, cá nhân được cấp quyền truy cập có trách nhiệm:

- Truy cập đúng địa chỉ, mã khóa; không được làm lộ địa chỉ, mã khóa truy cập đã được cấp;

- Khai thác dữ liệu trong phạm vi được cấp, sử dụng dữ liệu đúng mục đích, không xâm nhập trái phép cơ sở dữ liệu đất đai;

- Quản lý nội dung các dữ liệu đã khai thác, không được cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác trừ trường hợp đã được thỏa thuận, cho phép bằng văn bản của cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai;

- Không được thay đổi, xóa, hủy, sao chép, tiết lộ, hiển thị, di chuyển trái phép một phần hoặc toàn bộ dữ liệu; không được tạo ra hoặc phát tán chương trình phần mềm làm rối loạn, thay đổi, phá hoại hệ thống thông tin đất đai; thông báo kịp thời cho cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai về những sai sót của dữ liệu đã cung cấp.

Thứ tư, nhằm bảo đảm việc thực thi hiệu quả nhu cầu khai thác thông tin về đất đai, cũng như bảo đảm việc tuân thủ chặt chẽ các quy định về khai thác thông tin đất đai, pháp luật hiện hành xây dựng hệ thống quy định khá rõ ràng về trách nhiệm đối ứng của cơ quan có thẩm quyền. Theo đó, cơ quan quản lý đất đai phải tuân thủ các quy định sau:

- Bảo đảm cho tổ chức, cá nhân truy cập thuận tiện; có công cụ tìm kiếm dữ liệu dễ sử dụng và cho kết quả đúng nội dung cần tìm kiếm;

- Bảo đảm khuôn dạng dữ liệu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định để dễ dàng tải xuống, hiển thị nhanh chóng và in ấn bằng các phương tiện điện tử phổ biến;

- Hỗ trợ tổ chức, cá nhân truy cập hệ thống thông tin đất đai;

- Bảo đảm tính chính xác, thống nhất về nội dung, cập nhật thường xuyên và kịp thời của dữ liệu trong hệ thống thông tin đất đai;

- Quy định rõ thời hạn tồn tại trực tuyến của từng loại thông tin;

- Thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

2.2. Khai thác thông tin đất đai thông qua phiếu yêu cầu hoặc văn bản tại cơ quan có thẩm quyền cung cấp dữ liệu đất đai

Căn cứ các quy định tại khoản 2 Điều 9 và Điều 11 Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT, việc khai thác thông tin đất đai thông qua hình thức này được thực hiện theo trình tự, thủ tục như sau:

Một là, tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác dữ liệu đất đai nộp phiếu yêu cầu hoặc gửi văn bản yêu cầu cho các cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai theo Mẫu số 01/PYC được ban hành kèm theo Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT.

Hai là, tương tự như hình thức yêu cầu cung cấp thông tin đất đai qua mạng internet, cổng thông tin đất đai, dịch vụ tin nhắn SMS, việc tiếp nhận, xử lý thực hiện cung cấp dữ liệu đất đai trong trường hợp này cũng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 12 Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT.

Ba là, mặc dù pháp luật ghi nhận quyền của người dân trong việc khai thác dữ liệu đất đai, tuy nhiên, nhu cầu này không mang tính tuyệt đối mà bị giới hạn trong một số trường hợp nhất định: Nếu thuộc những trường hợp quy định tại Điều 13 Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT, cơ quan có thẩm quyền sẽ không cung cấp dữ liệu đất đai.

Theo quan điểm của tác giả, điều khoản giới hạn quyền của người sử dụng đất thông qua các trường hợp ngoại lệ như trên góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch, hiệu quả, an toàn thông tin trong quá trình cung cấp, khai thác, sử dụng , hệ thống thông tin về đất đai, tránh trường hợp một số chủ thể lợi dụng việc khai thác để thực hiện các hành vi bất hợp pháp.

Như vậy, mặc dù không được quy định thành một điều khoản cụ thể trong hệ thống các quy định về quyền của người sử dụng đất, song căn cứ vào các quy định pháp luật liên quan cho thấy, quyền khai thác thông tin, cơ sở dữ liệu đất đai là một trong những phạm trù quan trọng nhất của quyền tiếp cận thông tin về đất đai của công dân. Do đó, đòi hỏi hành lang pháp lý cần được xây dựng đầy đủ, chặt chẽ, khoa học, vừa có các quy định là nguyên tắc, định hướng, vừa có hệ thống điều khoản ghi nhận rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của công dân khi khai thác thông tin đất đai. Song song với đó, yếu tố không thể thiếu đó là tăng cường trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể đối ứng, điển hình là các cơ quan quản lý đất đai.

Xét trên bình diện lý luận, pháp lý, cũng như thực tiễn, có thể thấy rằng, việc ghi nhận quyền được khai thác hệ thống thông tin về đất đai của người dân đã mang lại những vai trò đáng kể. Đối với chủ thể quyền sử dụng đất, việc thừa nhận bằng các quy định tương đối rõ ràng trong văn bản quy phạm pháp luật đã giúp người dân nắm bắt thông tin đất đai một cách kịp thời, hiệu quả, qua đó bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cũng như an toàn pháp lý khi thực hiện các quyền của người sử dụng đất, bên cạnh đó, còn góp phần đáng kể vào hạn chế các xung đột về đất đai. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, nội dung này đã tạo cơ sở cho công tác quản lý, thanh tra, giám sát, điều phối đất đai của các cơ quan, ban, ngành từ trung ương đến địa phương được vận hành một cách minh bạch, khoa học, hiệu quả.

3. Thực tiễn thực hiện quy định về quyền khai thác thông tin đất đai, bất cập và một số kiến nghị hoàn thiện

Sau gần 10 năm đi vào thực tiễn, những đóng góp quan trọng mà Luật Đất đai năm 2013 đã mang lại là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, nhiều chế định còn rất chung chung, thiếu tính thống nhất, vô hình trung làm cho việc triển khai, áp dụng trong thực tiễn còn nhiều vướng mắc, gây ảnh hưởng đến công tác bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân.

3.1. Về các hình thức khai thác thông tin đất đai

Một là, tại mục 5 Mẫu số 01/PYC kèm theo Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT có nội dung: “Mục đích sử dụng dữ liệu” nhưng lại không có hướng dẫn rõ ràng về nội dung này. Trong khi đó, khoản 3 Điều 13 Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT quy định, một trong những trường hợp cơ quan có thẩm quyền từ chối cung cấp dữ liệu đất đai là “Mục đích sử dụng dữ liệu không phù hợp theo quy định của pháp luật”. Như vậy, nội dung này sẽ được nhận diện, đánh giá dựa trên các tiêu chí, tiêu chuẩn nào? Việc người yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai chỉ cần điền thông tin không trái với quy định pháp luật có đương nhiên được xem là phù hợp với quy định của pháp luật để được cung cấp thông tin theo yêu cầu? Có cần thiết phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh mục đích sử dụng dữ liệu là không trái với quy định của pháp luật hay không? Bên cạnh đó, tiêu chí không cung cấp cho bất kỳ bên thứ ba nào khác có loại trừ các trường hợp được quy định trong pháp luật chuyên ngành khác hay không? Chẳng hạn, cung cấp cho Tòa án, Viện kiểm sát, hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phục vụ việc giải quyết vụ việc thì có bị xem là vi phạm hay không?

Mặt khác, việc đánh giá về tính không phù hợp với quy định của pháp luật như quy định hiện hành chủ yếu mang tính chủ quan từ phía cơ quan có thẩm quyền giải quyết, như có hành vi vi phạm quy định về mục đích sử dụng cơ sở dữ liệu nhưng làm sao để có thể chứng minh, ví dụ như người dân đưa ra mục đích là để bảo đảm việc thực hiện các giao dịch về đất như chuyển nhượng, góp vốn, tặng cho… hợp pháp, tuy nhiên, thực tế giao dịch này không diễn ra vì lý do khách quan hoặc ngay cả chủ quan là các bên không có sự đồng thuận về mặt ý chí.

Hai là, cũng tại Mẫu số 01/PYC nêu trên, ở phần chữ ký người yêu cầu, biểu mẫu đòi hỏi người yêu cầu phải ký, ghi rõ họ tên. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 13 Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT quy định: “Phiếu yêu cầu không có chữ ký, tên và địa chỉ cụ thể của cá nhân yêu cầu cung cấp dữ liệu” là trường hợp bị từ chối cung cấp dữ liệu. Như vậy, đối với trường hợp các chủ thể bị mù chữ hoặc vì một số khuyết tật mà không thể ký, ghi rõ họ tên thì phải xử lý như thế nào? Tham khảo quy định tại các quốc gia có thể thấy rằng, “phần lớn các luật đều quy định cụ thể về việc hỗ trợ cho những người có đơn yêu cầu, ví dụ như khi người yêu cầu gặp khó khăn trong việc mô tả thông tin đầy đủ thông tin cần tìm hoặc họ không thể tự viết đơn yêu cầu do mù chữ hay tàn tật. Ở Ấn Độ, luật còn quy định hỗ trợ người tàn tật tiếp cận các thông tin đã được công khai. Mức độ hỗ trợ có khác nhau song nhiều luật quy định một cách đơn giản là hỗ trợ “một cách hợp lý””[5].

Vì vậy, nhằm bảo đảm sự công bằng hơn với mọi chủ thể có đầy đủ năng lực dân sự, tác giả đề xuất, khoản 2 Điều 13 và mục chữ ký người yêu cầu trong Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT cần bổ sung “điểm chỉ”.

3.2. Về tính thống nhất của các cơ quan, ban, ngành trong việc quản lý, số hóa, cung cấp thông tin đất đai

Một là, một trong những nguyên nhân chính gây ra bất cập, khó khăn trong việc khai thác thông tin đất đai là khả năng thực thi và hệ thống công cụ công nghệ để hỗ trợ, vận hành còn khá hạn chế. Trong xã hội ngày càng phát triển, thời đại mà khoa học công nghệ đang có những bước tiến như vũ bão thì có lẽ việc nỗ lực hoàn thiện các phần mềm, hệ thống cơ sở dữ liệu về đất đai là một trong những nội dung tối quan trọng. Điều này được lý giải bởi “Hệ thống thông tin đất đai (Land Information System - LIS) là hệ thống thống tin cung cấp các thông tin về đất đai. Nó là cơ sở cho việc ra quyết định liên quan đến việc đầu tư, phát triển, quản lý và sử dụng đất đai[6]. Hệ thống thông tin đất đai là công cụ hiện đại được xây dựng dựa trên những giải pháp khoa học - công nghệ tiên tiến, nhằm trợ giúp và đáp ứng những nhu cầu cấp thiết cho công tác quản lý nhà nước các cấp về đất đai. Nó có tính đa mục đích, phục vụ các nhu cầu khai thác, sử dụng khác nhau về thông tin đất đai của Chính phủ, các bộ, ngành liên quan và cộng đồng xã hội[7].

Do đó, việc hoàn thiện hạ tầng công nghệ sẽ tạo ra những kênh trung gian hữu hiệu để các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương dễ dàng quản lý, vận hành, phối hợp, điều phối là phương tiện tối ưu để mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân khai thác hiệu quả các thông tin về đất đai bất cứ khi nào. Đồng thời, cũng là công cụ pháp lý quan trọng góp phần hạn chế tình trạng nhũng nhiễu, quan liêu của một phận cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ngoài ra, hiện nay, khoản 2 Điều 15 Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT quy định: “Cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai ở địa phương là Văn phòng đăng ký đất đai. Đối với địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, Văn phòng đăng ký đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp dữ liệu đất đai từ hồ sơ địa chính theo phân cấp quản lý hồ sơ địa chính”. Tuy nhiên, hiện nay, thực tiễn thi hành quy định này đã cho thấy tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm, sự bất nhất trong việc lưu trữ, cung cấp thông tin của các cơ quan có vai trò chính trong quản lý đất đai, sự thiếu thống nhất trong quản lý, giải quyết giữa các địa phương, điều này gây ảnh hưởng lớn đến quyền, lợi ích chính đáng của người dân.

Bên cạnh đó, việc thiếu minh bạch, khách quan về thông tin đất đai là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tranh chấp, khiếu kiện, khiếu nại, đặc biệt đối với những nơi được xem là “vùng trũng pháp lý về đất đai” - khu vực mà tình hình đất đai chưa được rõ ràng về tình trạng pháp lý, đất đai thuộc các dự án treo; chưa được cấp giấy tờ pháp lý, làm phát sinh nhiều giao dịch ngầm, là mảnh đất màu mỡ cho một bộ phận cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể khác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác quản lý, giám sát, thanh tra… của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoài ra, sự thiếu gắn kết giữa các cơ quan liên quan như Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai, Văn phòng công chứng, Cơ quan cảnh sát điều tra, Tòa án… đã vô hình trung gây ra những bất lợi một bộ phận người dân, tạo ra những tranh chấp không đáng có. Điều này đòi hỏi cần thiết phải có sự đồng bộ, thống nhất hệ thống thông tin, dữ liệu về đất đai.

Đánh giá trên bình diện thực tiễn, không thể phủ nhận những nỗ lực của các cơ quan quản lý đất đai khi triển khai thực hiện những đề án của Chính phủ trong thời gian vừa qua, góp phần hình thành nên LIS vừa đáp ứng nhu cầu quản lý, vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng, khai thác thông tin của con người. “LIS được coi như một giải pháp kỹ thuật nhằm hiện đại hóa quản lý đất đai theo xu hướng tin học hóa để quản trị đất đai. Đây là sự phát triển tất yếu của ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, không chỉ giúp cho quản lý chính xác hơn, mà còn tạo nhiều hiệu quả mới trong quản lý do có sự trợ giúp của LIS”[8]. Bên cạnh đó, nhằm cụ thể hóa quy định trên, Thông tư số 34/2014/TT-BTNM là văn bản điều chỉnh khá chi tiết về việc xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai. Theo đó, văn bản này điều chỉnh các khía cạnh như việc xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai; điều kiện của tổ chức, cá nhân hoạt động tư vấn về xây dựng hệ thống thông tin đất đai. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành những quy định này vẫn còn tạo ra những bất cập. Do vậy, tác giả đề xuất, cần sớm xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin đất đai quốc gia theo hướng đồng bộ, tập trung, thống nhất. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay - thời đại của nền kinh tế số, công nghệ thông tin ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhu cầu được tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin của người dân ngày càng cao; kéo theo đó là công tác quản lý, thanh tra, giám sát, điều phối của các cơ quan, ban, ngành từ trung ương đến địa phương cũng đặt ra những yêu cầu nhất định đối với việc xây dựng, hoàn thiện, triển khai áp dụng, vận hành thống nhất hệ thống quản lý đất đai dựa trên nền tảng công nghệ thông tin. Không quá khi nói rằng “Hạ tầng thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia là yếu tố cốt lõi để hỗ trợ vận hành công tác chuyên môn, cải cách thủ tục hành chính cũng như phục vụ cho việc phối, kết hợp với các bên có liên quan[9]

Thứ hai, không thể phủ nhận những điểm sáng đáng kể trong các quy định của pháp luật hiện hành, cũng như các kế hoạch thí điểm, chiến lược ngắn hạn, dài hạn mà Đảng và Chính phủ đã đặt ra liên quan đến việc ghi nhận các quyền của người dân trong quá trình sử dụng, khai thác các thông tin liên quan đến quyền sử dụng đất của mình hay các thông tin được công khai, không thuộc bí mật nhà nước bởi lẽ “quy định ghi nhận quyền là các quy định cần thiết đầu tiên, có tầm quan trọng đặc biệt, xác định được cho công dân rằng họ có quyền tiếp cận thông tin về đất đai[10]”. Tuy nhiên, hệ thống quy định hiện hành vẫn còn thiếu những quy định bảo đảm cho quyền này được thực hiện, thực thi trên thực tế, bên cạnh đó là cơ chế pháp lý để xử lý khi quyền của người dân bị xâm phạm. Tức là, mặc dù pháp luật đã có những quy định về hình thức, cách thức, thời hạn thực hiện nhưng lại thiếu những biện pháp chế tài trong trường hợp chủ thể có thẩm quyền không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc không đúng thời hạn pháp luật quy định.

Không chỉ người dân, thực trạng bất cập liên quan đến việc khai thác, sử dụng các dữ liệu đất đai cũng ảnh hưởng đến công tác giải quyết tranh chấp về đất đai tại Tòa án. Theo đó, một số vụ án dân sự, hành chính, hình sự có liên quan đến nguồn gốc đất đai, quá trình xác lập, thực hiện các giao dịch bị kéo dài thời hạn giải quyết hoặc tạm đình chỉ giải quyết do phải chờ cơ quan chuyên môn cung cấp tài liệu, chứng cứ. Điểm đáng lưu ý là, trong các công văn yêu cầu, Tòa án đều quy định rõ thời hạn phải có nghĩa vụ cung cấp, trường hợp không cung cấp được phải nêu rõ lý do nhưng qua nhiều lần có văn bản đề nghị, Tòa án cũng chỉ nhận được là sự “im lặng”. Việc chậm trễ, thiếu thiện chí này làm cho vụ án bị trì hoãn, kéo dài, thậm chí đã quá thời hạn giải quyết vẫn chưa có phán quyết cuối cùng.

Từ thực tiễn nêu trên, tác giả đề xuất cần quy định chế tài đối với trường hợp chủ thể có thẩm quyền quản lý dữ liệu đất đai nhưng không cung cấp, cung cấp không đầy đủ hoặc cung cấp không đúng hạn theo yêu cầu của người dân mà không có lý do chính đáng. Theo đó, nhằm bảo đảm quyền của công dân được thực thi trên thực tế, tác giả cho rằng, Luật Đất đai năm 2013 và hệ thống văn bản hướng dẫn cần đặt ra trách nhiệm pháp lý đối với trường hợp cơ quan quản lý đất đai vi phạm.

Ngoài ra, trên cơ sở những bất cập trong thực tiễn hiện nay, tác giả đồng tình với ý kiến đề xuất của nhóm tác giả Nguyễn Hồng Nam - Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Nguyễn Hoàng Long - Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, theo đó, cần thiết nên có Quy chế liên tịch giữa Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban nhân dân các cấp[11], trong đó, quy định cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan chuyên môn ở địa phương, các cá nhân có thẩm quyền trong việc cung cấp thông tin, dữ liệu, tài liệu về quản lý đất đai đối với đất tranh chấp khi có yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát, đương sự. Trong văn bản này, chú trọng các nội dung như: Nội dung và hình thức yêu cầu cung cấp của đương sự hoặc cơ quan tư pháp; thời hạn mà cơ quan đang quản lý dữ liệu đất đai phải cung cấp; phương thức cung cấp (thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu, văn bản,…); trường hợp không cung cấp được thì phải phản hồi như thế nào; hành vi vi phạm cụ thể và các biện pháp chế tài xử lý tương ứng; trường hợp đã áp dụng biện pháp xử lý hành vi vi phạm mà chủ thể có nghĩa vụ vẫn vi phạm, không cung cấp thì cần có cơ chế xử lý như thế nào.

ThS. Nguyễn Thị Thu Sương
Phó Trưởng Phòng Pháp lý, Công ty Luật TNHH MTV Ta Pha


[1] Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Thanh Phương, Cần làm sâu sắc hơn nội hàm “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai” thông qua đổi mới tổ chức bộ máy địa chính và tối ưu hóa quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin về đất đai gắn với chuyển đổi số, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/824445/can-

lam-sau-sac-hon-noi-ham-%E2%80%9Cnha-nuoc-thong-nhat-quan-ly-dat-dai%E2%80%9D-thong-qua-doi-moi-

to-chuc-bo-may-dia-chinh-va-toi-uu-hoa-quan-ly%2C-khai-thac%2C-su-dung-du-lieu%2C-thong-tin-ve-dat-dai-gan-voi-chuyen-doi-so.aspx
, truy cập ngày 15/02/2022.

[2] Lê Minh Thùy, Nhanh chóng hoàn thiện xây dựng hệ thống thông tin đất đai để quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên đất, http://gdla.gov.vn/index.php/news/Co-so-du-lieu-Dat-dai/Xay-dung-he-thong-thong-tin-dat-dai-de-quan-ly-khai-thac-hieu-qua-tai-nguyen-dat-2708.html, truy cập ngày 28/02/2022.

[3] Lê Minh Thùy, Nhanh chóng hoàn thiện xây dựng hệ thống thông tin đất đai để quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên đất, http://gdla.gov.vn/index.php/news/Co-so-du-lieu-Dat-dai/Xay-dung-he-thong-thong-tin-dat-dai-de-

quan-ly-khai-thac-hieu-qua-tai-nguyen-dat-2708.html
, truy cập ngày 28/02/2022.

[4] Trường Ðại học Nông nghiệp Hà Nội, Bài giảng Hệ thống thông tin đất đai (Land Information Stem), tr. 21.

[5] Bộ Tư pháp, Đánh giá tác động thủ tục hành chính theo biểu mẫu đánh giá tác động của thủ tục hành chính (Biểu mẫu 01A/ĐG-KSTT, ban hành kèm theo Thông tư số 07/2014/TT-BTP ngày 24/02/2014 của Bộ Tư pháp), tr. 5.

[6] “The Effectiveness of Land Information System”, https://www.habitat.org/lac-en/newsroom/2018/effectiveness-land-information-system, truy cập ngày 03/02/2022.

[7] https://ungdungmoi.edu.vn/tong-quan-ve-he-thong-thong-tin-dat-dai.html, truy cập ngày 03/02/2022.

[8] Phạm Ngô Hiếu, Cần sớm có hệ thống thông tin đất đai quốc gia tập trung, thống nhất, https://baotainguyenmoitruong.vn/can-som-co-he-thong-thong-tin-dat-dai-quoc-gia-tap-trung-thong-nhat-336907.html#:~:text=Do%20%C4%91%C3%B3%2C%20LIS%20%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c%20coi,s%E

1%BB%B1%20tr%E1%BB%A3%20gi%C3%BAp%20c%E1%BB%A7a%20LIS
, truy cập ngày 27/02/2022.

[9] Nguyễn Đình Thọ, “Mô hình quản lý đất đai ở Việt Nam: Bài 2: Giải pháp nào để đổi mới?”, https://baotainguyenmoitruong.vn/mo-hinh-quan-ly-dat-dai-o-viet-nam-bai-2-giai-phap-nao-de-doi-moi-335045.html, truy cập ngày 21/02/2022.

[10] Bùi Thị Thuận Ánh, Vai trò của việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về đất đai, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/vai-tro-cua-viec-bao-dam-quyen-tiep-can-thong-tin-ve-dat-dai-70791.htm, truy cập ngày 03/02/2022.

[11] Nguyễn Hồng Nam, Nguyễn Hoàng Long (2020), Thực tiễn giải quyết, xét xử liên quan đến đất đai tại Tòa án nhân dân, một số vướng mắc và kiến nghị sửa đổi Luật Đất đai, Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2013, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 211.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: