Thứ ba 28/07/2026 17:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động ở Việt Nam theo yêu cầu của Hiệp định CPTPP và EVFTA

Bài viết đề cập đến quy định của ILO và yêu cầu của Hiệp định CPTPP, Hiệp định EVFTA về quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động; đưa ra một số hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động; qua đó, đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này đáp ứng yêu cầu của Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA.

Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, nhiều hiệp định thương mại tự do sẽ được ký kết thì vấn đề bảo vệ quyền của người lao động nói chung và quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động nói riêng càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Quyền tự do liên kết của người lao động được quy định trong Công ước số 87 của ILO về quyền tự do hiệp hội và quyền được tổ chức năm 1948, quyền tổ chức và thương lượng tập thể được quy định trong Công ước số 98 năm 1949 của ILO. Việt Nam đã chính thức phê chuẩn Công ước số 98 từ tháng 6/2019 nhưng vẫn chưa phê chuẩn Công ước số 87 (dự kiến phê chuẩn Công ước này vào năm 2023). Hiện nay, Việt Nam đang tích cực triển khai các cam kết, thỏa thuận quốc tế đã được ghi nhận tại các điều ước quốc tế và các hiệp định thương mại tự do và tiến hành rà soát hệ thống pháp luật để phê chuẩn các công ước còn lại của ILO. Do đó, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về lao động và công đoàn nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn của các hiệp định thương mại tự do là yêu cầu bắt buộc đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

1. Quy định của Tổ chức Lao động quốc tế và yêu cầu của Hiệp định CPTPP, EVFTA về quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động

1.1. Quyền tự do liên kết, quyền được tổ chức và thương lượng tập thể của người lao động theo quy định của Tổ chức Lao động quốc tế

Quyền tự do liên kết hay còn gọi là quyền tự do hiệp hội là một trong những quyền cơ bản và chủ yếu của người lao động trong quan hệ lao động. Cũng chính điều này mà ngay trong Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã ghi nhận quyền tự do liên kết là một trong quyền cốt lõi của người lao động. Quyền tự do liên kết của người lao động được quy định trong Công ước số 87 của ILO về quyền tự do hiệp hội và quyền được tổ chức năm 1948 (Công ước số 87).

Về cơ bản, nội dung của Công ước số 87 quy định về quyền tự do hiệp hội của người lao động, theo đó, người lao động và người sử dụng lao động, không phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào, đều không phải xin phép trước mà vẫn có quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình, với một điều kiện duy nhất là phải tuân theo điều lệ của chính tổ chức đó (Điều 2). Bên cạnh đó, các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động có quyền lập ra điều lệ, những quy tắc quản lý, tự do bầu các đại diện, tổ chức việc điều hành hoạt động và soạn thảo chương trình hoạt động của mình. Các cơ quan có thẩm quyền phải tránh mọi sự can thiệp có tính chất hạn chế quyền đó, hoặc cản trở việc thi hành hợp pháp quyền đó (Điều 3). Đồng thời, các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động không thể bị bất cứ một cơ quan hành chính nào buộc phải giải tán hoặc đình chỉ. Các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động có quyền hợp thành các liên đoàn, tổng liên đoàn và mọi tổ chức, liên đoàn hoặc tổng liên đoàn đó đều có quyền gia nhập, đều có quyền liên kết với các tổ chức quốc tế của người lao động và người sử dụng lao động (Điều 4, Điều 5). Rõ ràng, với những quy định như vậy, ILO đã đề cao quyền tự do liên kết của người lao động và xác định đây là một nhóm quyền về kinh tế - xã hội và văn hóa trong hành lang pháp lý quốc tế, bắt buộc các quốc gia thành viên phải công nhận và bảo đảm thực hiện.

Bên cạnh quyền tự do liên kết, nội dung Tuyên bố năm 1998 của ILO còn đề cập đến một nội dung cũng rất quan trọng đó là quyền được tổ chức và thương lượng tập thể của người lao động. Công ước số 98 của ILO về quyền tổ chức và thương lượng tập thể năm 1949 (Công ước số 98) đề cập đến ba nội dung cơ bản, đó là: (i) Bảo vệ người lao động khỏi các hành vi phân biệt, đối xử quyền công đoàn; (ii) Bảo vệ tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động không bị can thiệp, thao túng lẫn nhau trong quá trình thành lập và điều hành hoạt động; (iii) Thúc đẩy hoạt động thương lượng tập thể giữa một bên là người sử dụng lao động và các tổ chức của người sử dụng lao động với một bên là các tổ chức của người lao động.

1.2.Yêu cầu về bảo đảm quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động trong Hiệp định CPTPP và EVFTA

Cam kết về lao động được quy định trong Chương 19 của CPTPP và trong Chương 13 của EVFTA cơ bản là giống nhau.

- Yêu cầu của CPTPP

Về lĩnh vực lao động, theo cam kết trong Chương 19 CPTPP thì tất cả các nước tham gia phải thông qua và duy trì các quyền được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO trong pháp luật, thể chế và thông lệ của họ[1].

Thực chất CPTPP không đưa ra những tiêu chuẩn lao động mới đối với các quốc gia thành viên tham gia Hiệp định này, mà quy định chủ yếu dựa trên những nội dung cơ bản của Tuyên bố năm 1998, dựa trên nền tảng của 08 công ước cốt lõi của ILO (bao gồm quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động được thể hiện trong Công ước số 87 và Công ước số 98). Theo đó, về quyền lao động, Điều 19.3 Hiệp định nêu rõ mỗi bên sẽ thông qua và duy trì trong các đạo luật và quy định cũng như trong thực hiện các đạo luật và quy định đó ở nước mình, những quyền được nêu trong Tuyên bố của ILO: Tự do liên kết và công nhận một cách thực chất quyền thương lượng tập thể, chấm dứt mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc ép buộc... Mặc dù không đưa ra những tiêu chuẩn mới về lĩnh vực lao động nhưng có thể thấy rằng, những nội dung về các tiêu chuẩn lao động mà CPTPP đề cập có giá trị ràng buộc pháp lý các quốc gia thành viên phải cam kết thực hiện là những tiêu chuẩn cao, tiến bộ, đáp ứng được các chuẩn mực pháp lý quốc tế nhằm bảo vệ các quyền cơ bản và cốt lõi của người lao động.

- Yêu cầu của EVFTA

Về vấn đề bảo đảm quyền của người lao động, cũng giống như CPTPP, EVFTA cũng tiếp tục khẳng định những nguyên tắc bảo vệ quyền của người lao động dựa trên cơ sở Tuyên bố năm 1998 của ILO yêu cầu các quốc gia công nhận và thực thi có hiệu quả các nguyên tắc về các quyền cơ bản tại nơi làm việc. Theo đó, mỗi bên tái khẳng định cam kết của mình, phù hợp với các nghĩa vụ theo ILO và Tuyên bố ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc và những hành động tiếp theo, được thông qua bởi Hội nghị Lao động Quốc tế tại kỳ họp lần thứ 86 năm 1998; sẽ tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện hiệu quả các nguyên tắc về các quyền cơ bản tại nơi làm việc. Như vậy, có thể thấy rằng, về vấn đề bảo vệ quyền lợi của người lao động ở cả hai hiệp định CPTPP và EVFTA đều dựa trên nội dung Tuyên bố năm 1998 của ILO. Xác định những nội dung trong Tuyên bố năm 1998 của ILO là thước đo cho hoạt động bảo vệ quyền của người lao động trong đó có việc bảo đảm quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể.

2. Một số hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động

Việt Nam đã trở thành thành viên ILO từ năm 1992 và đã phê chuẩn 23/198 công ước, bao gồm 6/8 công ước cơ bản[2]. Việt Nam đã chính thức phê chuẩn Công ước số 98 từ tháng 6/2019 nhưng vẫn chưa phê chuẩn Công ước số 87 (dự kiến phê chuẩn Công ước này vào năm 2023). Hiện nay, Việt Nam đang tích cực triển khai các cam kết, thỏa thuận quốc tế đã được ghi nhận tại các điều ước quốc tế và các hiệp định thương mại tự do và tiến hành rà soát hệ thống pháp luật để phê chuẩn các công ước còn lại của ILO. Tuy nhiên, việc thực thi nội dung các công ước của ILO theo cam kết trong các hiệp định thương mại tự do CPTPP, EVFTA ở Việt Nam cũng đang gặp những hạn chế, bất cập nhất định. Cụ thể:

Thứ nhất, về phạm vi quyền tự do liên kết của người lao động

Liên quan đến quyền tự do liên kết của người lao động, Điều 2 Công ước số 87 khẳng định: Người lao động và người sử dụng lao động, không phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào, đều không phải xin phép trước mà vẫn có quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình, với một điều kiện duy nhất là phải tuân theo điều lệ của chính tổ chức đó. Như vậy, có thể thấy, theo tinh thần của Công ước số 87 thì cả người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình chỉ với một điều kiện duy nhất là phải tuân theo điều lệ của chính tổ chức đó. Việc tham gia tổ chức để bảo vệ quyền của người lao động là quyền của chính người lao động, do ý chí của họ (người lao động và người sử dụng lao động) quyết định, mà không phụ thuộc ý chí của bất kỳ ai.

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 172 Bộ luật Lao động năm 2019 lại quy định: Tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp được thành lập và hoạt động hợp pháp sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký. Điều này có nghĩa là các tổ chức này chỉ được hoạt động và được xem là hoạt động hợp pháp khi phải “đăng ký”, thậm chí là phải “xin phép” các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới được hoạt động. Mà việc phải “xin phép” để tổ chức đó được hoạt động trong nhiều trường hợp phải phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các cơ quan quản lý nhà nước, gây khó khăn trong tổ chức hoạt động đối với các tổ chức này, không đảm bảo được nguyên tắc tự do hiệp hội của người lao động. Điều này, trái ngược với nội dung “không phải xin phép trước mà vẫn có quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình” đã được ghi nhận trong nội dung của Công ước số 87.

Thứ hai, pháp luật Việt Nam còn hạn chế quyền tham gia tổ chức công đoàn của người lao động nước ngoài

Ở Việt Nam, công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn, có vai trò chăm lo và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động trong quá trình người lao động tham gia lao động, sản xuất. Mặc dù là một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn nằm trong hệ thống chính trị, vừa mang tính quần chúng, thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi cho người lao động nhưng thành viên của tổ chức công đoàn còn bị hạn chế. Cụ thể, trong Hướng dẫn số 238/2014/HD-TLD ngày 04/3/2014 của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam có quy định các tượng không được kết nạp vào tổ chức Công đoàn Việt Nam, bao gồm: Người lao động có quốc tịch nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam; chủ doanh nghiệp, chủ tịch hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên, tổng giám đốc, giám đốc; người được ủy quyền quản lý doanh nghiệp hoặc ký hợp đồng lao động với người lao động trong doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài… Số lượng lao động người nước ngoài ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ nhất định trong cơ cấu lao động ở Việt Nam hiện nay, việc hạn chế người lao động nước ngoài tham gia hoạt động của tổ chức công đoàn trong quy định của pháp luật quốc gia là chưa phù hợp với tinh thần của Công ước số 87 và cam kết trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia.

Thứ ba, chưa có văn bản hướng dẫn cho việc thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp (bên cạnh tổ chức công đoàn)

Thực tế, từ trước tới nay tại Việt Nam, công đoàn là tổ chức duy nhất đóng vai trò là đại diện và bảo vệ quyền của người lao động. Tuy nhiên, trong quy định về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, Bộ luật Lao động năm 2019 đã mở rộng đối tượng là tổ chức đại diện cho người người lao động ngoài tổ chức công đoàn, nhưng quy chế pháp lý của các tổ chức này chưa được quy định rõ ràng và chưa có hướng dẫn thi hành của các cơ quan có thẩm quyền.

Thứ tư, theo yêu cầu của CPTPP và EVFTA, tổ chức công đoàn phải hoạt động độc lập

Tính độc lập của tổ chức công đoàn thể hiện trên phương diện độc lập về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động cũng như về vấn đề tài chính. Hiệp định CPTPP và EVFTA ghi nhận thông qua Tuyên bố năm 1998 của ILO, theo đó các cơ quan có thẩm quyền phải tránh mọi sự can thiệp có tính chất hạn chế quyền đó hoặc cản trở việc thi hành hợp pháp quyền đó và các tổ chức của người lao động không thể bị bất cứ một cơ quan hành chính nào buộc phải giải tán hoặc đình chỉ (Công ước số 87).

Ngoài ra, CPTPP cũng ghi nhận: “Khi một doanh nghiệp có cả những đại diện công đoàn và những đại diện được bầu ra thì phải có những biện pháp thích hợp mỗi khi cần thiết, để bảo đảm rằng sự có mặt của các đại diện được bầu không được dùng để làm suy yếu vị trí của các công đoàn hoặc các tổ chức đại diện lao động của họ” theo tinh thần của Công ước số 135 của ILO về việc bảo vệ và những thuận lợi dành cho đại diện người lao động trong các doanh nghiệp.

Tuy nhiên, pháp luật lao động hiện hành lại chưa tương thích với các yêu cầu đặt ra trong CPTPP và EVFTA. Theo đó, tổ chức Công đoàn Việt Nam hoạt động theo điều lệ riêng. Mặc dù vậy, vấn đề tài chính của tổ chức công đoàn gồm các nguồn thu từ: (i) Đoàn phí công đoàn do đoàn viên công đoàn đóng theo quy định; (ii) Kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng bằng 02% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; (iii) Ngân sách nhà nước hỗ trợ; (iv) Nguồn thu khác từ hoạt động văn hóa, thể thao kinh tế của công đoàn. Chính vì sự lệ thuộc về tài chính của tổ chức công đoàn vào người sử dụng lao động nên sẽ ảnh hưởng đến tính độc lập trong tổ chức và hoạt động của công đoàn.

Thứ năm, pháp luật Việt Nam còn quy định chưa rõ ràng về phân biệt đối xử khi thực hiện quyền công đoàn

Tại khoản 1 Điều 4 Luật Công đoàn năm 2012 quy định quyền công đoàn là quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động, đoàn viên công đoàn và quyền của tổ chức công đoàn theo quy định của pháp luật và quy định của cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Lao động năm 2019 thì người lao động có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động công đoàn theo quy định của Luật Công đoàn. Đồng thời, quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động liên quan đến thành lập, gia nhập và hoạt động của tổ chức đại diện lao động tại cơ sở (Điều 175 Bộ luật Lao động năm 2019). Tuy vậy, đối chiếu các quy định này với Công ước số 98 cho thấy còn nhiều điểm chưa tương thích. Cụ thể, Bộ luật Lao động năm 2019 đã bổ sung định nghĩa về phân biệt đối xử trong lao động tuy nhiên, chưa định nghĩa rõ ràng, cụ thể về phân biệt đối xử quyền công đoàn. Trong khi trên thực tế hành vi phân biệt đối xử và kỳ thị về quyền công đoàn của người sử dụng lao động thể hiện ở nhiều mức độ, hành vi khác nhau nên rất khó nhận diện hoặc nếu có nhận diện thì cũng không có cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý trong trường hợp các hành vi vi phạm.

Theo nhận định của Ủy ban về tự do hiệp hội của ILO thì phân biệt đối xử, kỳ thị quyền công đoàn là một trong những vi phạm nghiêm trọng về tự do hiệp hội của người lao động, hành vi có thể gây nguy hiểm cho sự tồn tại của công đoàn - tổ chức do người lao động lựa chọn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị vi phạm[3]. Chính vì vậy, pháp luật cần phải định nghĩa cụ thể và rõ ràng hơn về phân biệt đối xử quyền công đoàn cho phù hợp với tinh thần của Công ước số 98.

3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể cho người lao động đáp ứng yêu cầu của Hiệp định CPTPP và EVFTA

Việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là cơ hội thuận lợi để các quốc gia có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, năng cao năng suất lao động, tăng khả năng của nền kinh tế, cải thiện đời sống cho người lao động. Đối với Việt Nam, việc tham gia các hiệp định như CPTPP, EVFTA cũng mang đến những cơ hội thuận lợi nhưng cũng có khó khăn và thách thức không nhỏ.

Về lĩnh vực lao động, các nội dung trong các hiệp định thương mại đều đề cập đến các nội dung trong các công ước quốc tế của ILO. Chính vì điều đó, đòi hỏi Việt Nam phải nội luật hóa các công ước quốc tế của ILO vào trong quy định của pháp luật quốc gia, đổi mới quan hệ lao động, cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo tốt hơn việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động nhằm hướng đến việc xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định. Để thực hiện được điều này cần phải thực hiện những giải pháp hoàn thiện pháp luật sau đây:

Thứ nhất, về quy định quyền tự do liên kết của người lao động

Nên bỏ quy định “tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp được thành lập và hoạt động hợp pháp sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký” tại khoản 1 Điều 172 Bộ luật Lao động năm 2019. Trong nội dung Điều 172 quy định: “Tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp tổ chức và hoạt động phải đảm bảo nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và điều lệ; tự nguyện, tự quản, dân chủ, minh bạch” là đã đầy đủ, rõ ràng. Việc quy định “tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp được thành lập và hoạt động sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký” là không cần thiết. Mặt khác, việc quy định như vậy sẽ đi ngược lại với tinh thần của Công ước số 87, đó là người lao động “có quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình chỉ với một điều kiện duy nhất là phải tuân theo điều lệ của chính tổ chức đó” mà thôi.

Thứ hai, cần sửa đổi các quy định của Luật Công đoàn năm 2012 và các văn bản hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của tổ chức công đoàn

Trong đó cần bãi bỏ quy định về các đối tượng không được kết nạp vào tổ chức Công đoàn Việt Nam trong Hướng dẫn số 238/2014/HD-TLD của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam ngày 04/3/2014. Bởi lẽ, chính quy định này một mặt sẽ cản trở và hạn chế đối với các đối tượng người lao động không thể tham gia các tổ chức công đoàn của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, chẳng hạn như người lao động nước ngoài khi họ muốn tham gia vào tổ chức này trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ. Việc mở rộng các đối tượng được tham gia vào các tổ chức công đoàn thuộc Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam sẽ góp phần vào việc xây dựng đội ngũ công đoàn viên đông đảo về số lượng, góp phần bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động. Mặt khác, việc mở rộng các đối tượng tham gia vào các tổ chức công đoàn của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cũng hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Công ước số 87 về quyền tự do công đoàn của người lao động.

Thứ ba, cần nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành đối với Bộ luật Lao động năm 2019

Việc Việt Nam ban hành Bộ luật Lao động năm 2019 là kịp thời nhằm hiện thực hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết, tham gia. Nhiều nội dung trong quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 chính là việc nội luật hóa các công ước về bảo vệ người lao động của ILO, thể hiện những nỗ lực của Việt Nam trong việc đáp ứng các yêu cầu trong các công ước quốc tế đó. Tuy vậy, có nhiều quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019 sẽ khó được thực thi trên thực tế nếu không có các văn bản hướng dẫn thi hành. Điển hình như quy định người lao động trong doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp (bên cạnh tổ chức công đoàn) nhưng thực tế thì chưa có một văn bản nào hướng dẫn thi hành cho hoạt động thành lập, gia nhập và tham gia của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Chính vì vậy, cần phải rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nhằm ban hành các quy phạm pháp luật một cách thống nhất và đồng bộ, để việc áp dụng và thực hiện pháp luật được áp dụng thống nhất và có hiệu quả.

Thứ tư, bổ sung quy định về hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị quyền công đoàn

Hành vi vi phạm quyền công đoàn của người sử dụng lao động sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc tăng nặng mức xử phạt vi phạm hành chính. Hiện nay, ở một số quốc gia trên thế giới đã quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi phân biệt, đối xử, kỳ thị quyền công đoàn của người sử dụng lao động. Mục đích của việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối hành vi phân biệt, đối xử và kỳ thị quyền công đoàn của người lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động nói chung và quyền tự do liên kết của người lao động nói riêng.

Như vậy, quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động là một nhóm quyền cơ bản và cốt lõi của người lao động trong quan hệ lao động đã được ILO ghi nhận và có giá trị ràng buộc đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, nhiều hiệp định thương mại tự do sẽ được ký kết thì vấn đề bảo vệ quyền của người lao động nói chung và quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động nói riêng càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật về lao động và công đoàn nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn của các hiệp định thương mại tự do là yêu cầu bắt buộc đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

ThS. Trần Tuấn Sơn

Khoa Luật, Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng


[1]. Các nguyên tắc và quyền của Tuyên bố năm 1998 của ILO được quy định trong 08 Công ước cơ bản của ILO dựa trên 04 nền tảng: Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể (được quy định trong Công ước ILO số 87 và 98); loại trừ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc (Công ước ILO số 29 và 105); xóa bỏ lao động trẻ em (Công ước ILO số 138 và 182); bình đẳng, xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp (Công ước ILO số 100 và 111).

[2]. Http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/ctc_quocte/un/nr040819155753/nr060928111253/ns060928104319, truy cập ngày 20/3/2020.

[3]. Freedom of Association INTERNATIONAL LABOUR OFFICE GENEVA Digest of decisions and principles of the Freedom of Association Committee of the Governing Body of the ILO, act 769.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: