Thứ bảy 10/10/2026 06:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với lao động giúp việc gia đình

Tóm tắt: Giúp việc gia đình hiện nay đã trở thành một nghề có vai trò quan trọng đối với xã hội. Để giúp việc gia đình trở thành một công việc có tính chất ổn định

Tóm tắt: Giúp việc gia đình hiện nay đã trở thành một nghề có vai trò quan trọng đối với xã hội. Để giúp việc gia đình trở thành một công việc có tính chất ổn định, lâu dài, thì quyền lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là rất cần thiết đối với lao động giúp việc gia đình. Pháp luật Việt Nam đã có quy định nhằm đảm bảo quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho đối tượng này, tuy nhiên, quy định pháp luật và thực tiễn thực thi vẫn còn nhiều hạn chế.

Abstract: Domestic help becomes an important job for the society. Social insurance, medical insurance are, therefore, very necessary for domestic worker to ensure a stable, long-term job. Current Vietnamese law ensures the right of social insurance, medical insurance entitlement for this subject. Legal provisions and the practice are, however, still very limited.

1. Quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với lao động giúp việc gia đình

Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là những quyền lợi mà người lao động luôn hướng tới khi tham gia quan hệ lao động. Bởi trong quá trình lao động, người lao động không thể tránh được những lúc gặp rủi ro như bị ốm đau, tai nạn, mất việc làm, sinh đẻ,… Khi gặp những khó khăn ấy, người lao động rất cần sự san sẻ, tương trợ từ quỹ bảo hiểm xã hội để giúp họ đảm bảo cuộc sống. Đối với lao động giúp việc gia đình, đây cũng là một trong những quyền quan trọng đã được ghi nhận tại khoản 2 Điều 181 Bộ luật Lao động về “Nghĩa vụ của người sử dụng lao động”. Theo đó, người sử dụng lao động có nghĩa vụ “trả cho người giúp việc gia đình khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật để người lao động tự lo bảo hiểm”. Mặc dù, Bộ luật Lao động không trực tiếp quy định về việc người giúp việc gia đình có quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tuy nhiên, thông qua quy định về nghĩa vụ của người sử dụng lao động cũng có thể khẳng định pháp luật Việt Nam đã chính thức ghi nhận quyền được hưởng bảo hiểm xã hội của lao động giúp việc gia đình. Tuy nhiên, quy định pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều vướng mắc cần phải trao đổi.

Thứ nhất, về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, Điều 19 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình quy định “người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để người lao động tự lo bảo hiểm”. Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH ngày 15/8/2014 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn một số điều của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 của Chính phủ hướng dẫn cụ thể hơn về số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo tháng thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động. Nếu để người lao động tự lo bảo hiểm xã hội thì người lao động chỉ có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Trong khi đó, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là người lao động là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng; người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ 01 tháng đến dưới 03 tháng (từ 01/01/2018)[1]. Vậy nếu người lao động giúp việc gia đình ký hợp đồng lao động bằng văn bản có thời hạn từ 03 tháng trở lên nhưng phải tự lo bảo hiểm xã hội có mâu thuẫn với quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 hay không?[2]. Khi giúp việc gia đình trở thành một công việc thường xuyên, được đào tạo bài bản, người làm công việc này cũng muốn gắn bó với nghề thì việc tự lo bảo hiểm xã hội sẽ không thể đảm bảo được hết các quyền lợi cho người lao động. Bởi khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện người lao động chỉ được hưởng quyền lợi từ chế độ hưu trí và tử tuất những quyền lợi khác như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sẽ không được hưởng. Ngoài ra, mặc dù pháp luật có quy định người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ trả thêm một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thuộc nghĩa vụ của người sử dụng lao động để người lao động tự lo bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nhưng lại không quy định chế tài cho trường hợp người sử dụng lao động không thực hiện. Đồng thời, hiện nay cũng chưa có quy định về việc ai là người kiểm tra, giám sát nên rất khó để kiểm soát và thực thi trên thực tế.

Thứ hai, đối với trường hợp người lao động khi bị ốm đau, Điều 20 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định “trường hợp người lao động sống cùng gia đình người sử dụng lao động bị ốm, bị bệnh, người sử dụng lao động tạo điều kiện để người lao động nghỉ ngơi, khám, chữa bệnh. Chi phí khám, chữa bệnh do người lao động chi trả, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác. Người sử dụng lao động không phải trả lương cho những ngày người lao động phải nghỉ việc do bị ốm, bị bệnh”. Thực tế khi người lao động bị ốm đau không thể tham gia quan hệ lao động, người lao động không có thu nhập nhưng những chi phí cho việc điều trị, bồi dưỡng sức khỏe lại thường rất tốn kém nên sẽ là khó khăn, gánh nặng cho lao động giúp việc gia đình. Hơn nữa, nếu người giúp việc gia đình có tham gia bảo hiểm y tế thì họ cũng chỉ được hỗ trợ chi phí khám, chữa bệnh, còn trợ cấp từ bảo hiểm xã hội trong những ngày họ bị ốm đau để duy trì cuộc sống thì họ lại không được hưởng. Bởi hiện nay, lao động giúp việc gia đình đang thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện (chỉ gồm hai chế độ là hưu trí và tử tuất). Như vậy, quy định như trên là chưa thể đảm bảo quyền lợi của người lao động giúp việc gia đình khỏi những rủi ro thường gặp phải trong cuộc sống.

Thứ ba, trong trường hợp người giúp việc gia đình bị tai nạn lao động, Điều 20 Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH quy định người sử dụng lao động phải có trách nhiệm: “1. Sơ cứu và tìm mọi biện pháp đưa người lao động đến cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu kịp thời; 2. Chăm sóc chu đáo và tạo mọi điều kiện cần thiết để người lao động điều trị ổn định thương tật; 3. Thông báo ngay và thường xuyên cho người thân của người lao động biết về tình trạng sức khỏe của người lao động bị tai nạn lao động; 4. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế hoặc một phần chi phí y tế tư khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định thương tật theo thỏa thuận với người với người lao động chưa tham gia bảo hiểm y tế. 5. Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động trong thời gian điều trị. 6. Bồi thường cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động…”. Các quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình khi bị tai nạn lao động về cơ bản là phù hợp với các quy định hiện hành trong Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015. Điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc đảm bảo điều kiện an toàn nghề nghiệp cho lao động giúp việc gia đình. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 20 Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTTXH quy định đối với trường hợp lao động giúp việc gia đình chưa tham gia bảo hiểm y tế thì người sử dụng lao động chỉ phải thanh toán một phần chi phí y tế theo thỏa thuận với người lao động. Quy định này là chưa hợp lý và đảm bảo công bằng giữa lao động giúp việc gia đình và những người lao động khác bởi lẽ đối với những người lao động khác nếu chưa tham gia bảo hiểm y tế thì Bộ luật Lao động năm 2012 cũng yêu cầu người sử dụng lao động phải thanh toán toàn bộ chi phí y tế[3]. Thực tế, đa số người giúp việc gia đình không tham gia bảo hiểm y tế và nếu họ là người bị tai nạn lao động thì sẽ gặp vô vàn khó khăn về tài chính để cứu chữa, phục hồi sức khỏe vì họ sẽ không được người sử dụng lao động chi trả toàn bộ chi phí y tế chữa trị, đồng thời, không nhận được quyền lợi từ bảo hiểm xã hội.

Thứ tư, hiện nay người lao động giúp việc gia đình thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện do đó, họ cũng không được hưởng chế độ thai sản. Pháp luật lao động chỉ có một quy định về việc cho phép người sử dụng lao động và người giúp việc gia đình tạm hoãn hợp đồng lao động trong trường hợp lao động nữ mang thai theo chỉ định của thầy thuốc phải nghỉ việc để điều trị. Như vậy, pháp luật hiện hành thiếu vắng các quy định liên quan đến sử dụng lao động giúp việc gia đình trong thời gian mang thai như nghỉ thai sản hay việc đảm bảo việc làm cho người giúp việc gia đình sau khi nghỉ thai sản. Trong khi đó, phần lớn lao động giúp việc là nữ và đa số đang trong độ tuổi sinh đẻ. Trên thế giới, cũng đã nhiều quốc gia quy định cho phép người giúp việc gia đình được nghỉ thai sản như Đức; Thụy Sĩ; Colombia; Uruguay; Peru; Bolivia; Philippines; Hồng Kông;… Ví dụ, đạo luật về quyền con người của Nam Phi cho phép người giúp việc gia đình nghỉ thai sản ít nhất là bốn tháng liên tục; các bên có thể thỏa thuận người lao động sẽ được nhận một phần hoặc toàn bộ tiền lương trong thời gian nghỉ thai sản[4]. Điều 14 Công ước 189 của ILO cũng quy định các quốc gia thành viên phải có các biện pháp thích hợp, phù hợp với luật pháp và quy định quốc gia và có quan tâm thích đáng tới những đặc tính cụ thể của công việc giúp việc gia đình, nhằm đảm bảo rằng những người lao động giúp việc gia đình được hưởng điều kiện mà không kém thuận lợi hơn so với những điều kiện được áp dụng đối với những người lao động nói chung về bảo đảm an sinh xã hội, bao gồm cả chế độ thai sản. Mặc dù, do tính chất đặc thù của công việc giúp việc gia đình nên quyền lợi về chế độ thai sản đối với người lao động sẽ rất khó để khả thi. Tuy nhiên, để đảm bảo sự bình đẳng giữa những người lao động, bảo vệ quyền lợi của lao động nữ và góp phần đưa lao động giúp việc gia đình trở nên chuyên nghiệp hơn thì cần tiếp tục nghiên cứu để bổ sung các quy định liên quan đến quyền lợi của lao động giúp việc gia đình trong thời gian mang thai và sinh con.

2. Thực tiễn áp dụng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với lao động giúp việc gia đình

Mặc dù, pháp luật đã có quy định ghi nhận quyền được hưởng bảo hiểm xã hội của người lao động giúp việc gia đình, nhưng trên thực tế, đa số người sử dụng lao động và người lao động đều chưa quan tâm đến vấn đề bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Theo kết quả điều tra của ILO và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, có 2,8% người giúp việc gia đình có bảo hiểm xã hội (tương ứng với 16 trường hợp trên tổng số 600 người). Trong đó, có 05 trường hợp mua bảo hiểm xã hội tự nguyện, 04 trường hợp người sử dụng lao động mua cho, một số trường hợp được trung tâm giới thiệu việc làm mua. Có 22,2% số lao động giúp việc gia đình có bảo hiểm y tế (trong tổng số 559 người được điều tra). Phần lớn những người có bảo hiểm y tế là do họ tự chi trả hoặc thuộc diện Nhà nước chi trả (hộ nghèo, gia đình chính sách). Chỉ có 8,3% trong số những người giúp việc gia đình có bảo hiểm y tế là do được người sử dụng mua cho (nếu tính trong tổng số 600 người chỉ có 2% người lao động giúp việc gia đình được chủ nhà mua bảo hiểm y tế)[5]. Thực tế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân có thể kể tới như:

Một là, nhận thức và tâm lý của đa số mọi người trong xã hội, kể cả người lao động giúp việc gia đình đều cho rằng giúp việc gia đình chỉ là một công việc tạm thời, không phải là công việc ổn định, thường xuyên, một nghề nghiệp “đàng hoàng” mà họ sẽ gắn bó. Do đó, cả phía người sử dụng lao động và người lao động đều chưa quan tâm thích đáng đến trách nhiệm cũng như quyền lợi của mỗi bên trong quan hệ lao động. Đồng thời, việc tìm kiếm người giúp việc gia đình phần lớn được thực hiện thông qua quan hệ cá nhân, quen biết. Nhiều người giúp việc lại là người đồng hương, họ hàng với gia đình người sử dụng lao động, cộng thêm tâm lý, thói quen giải quyết các vấn đề của quan hệ lao động bằng tình cảm nên các bên thường chỉ thỏa thuận hợp đồng lao động bằng lời nói với những nội dung rất sơ sài về công việc phải làm, thời giờ làm việc, tiền lương. Các trách nhiệm và quyền lợi khác của cả hai bên thường không được các bên thỏa thuận trong đó có cả quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Hơn nữa, lao động giúp việc gia đình đa phần có trình độ hạn chế nên còn thiếu hiểu biết pháp luật. Nhiều người lao động không biết đến quyền lợi bảo hiểm xã hội hoặc có biết nhưng cũng vì e ngại nên cũng không dám nói ra yêu cầu, mong muốn của mình.

Hai là, người lao động giúp việc gia đình phần lớn là những người có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp nên họ mới đi làm nghề giúp việc để tăng thu nhập cho bản thân và gia đình họ. Vì vậy, việc họ trích ra một khoản tiền từ tiền lương của người sử dụng lao động trả để tự đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện là không khả thi trên thực tế. Nếu để họ tự đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, họ sẽ chi dùng cho gia đình hoặc tích lũy chứ không nghĩ tới việc mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để được hưởng chế độ. Hơn nữa, thời gian đóng bảo hiểm xã hội lâu dài nên người giúp việc gia đình khó có đủ năng lực tài chính để đảm bảo. Trong khi đó, phần lớn lao động giúp việc gia đình là những người ở độ tuổi trung niên, thậm chí nhiều người ở độ tuổi trên 55 nên việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trong một khoảng thời gian dài (20 năm đóng bảo hiểm mới được hưởng trợ cấp hưu trí) là rất khó. Đồng thời, những quyền lợi ngắn hạn, sát sườn như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động… người lao động có nhu cầu được hưởng nhưng không được hưởng do lao động giúp việc gia đình hiện nay chỉ là đối tượng được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Ba là, việc quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động để người lao động tự lo bảo hiểm là không khả thi trong thực tiễn. Bởi lẽ, nếu thực hiện quy định này, ngoài khoản tiền lương trả cho người lao động cao hơn mức lương tối thiểu vùng thì người sử dụng lao động phải trả thêm một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động. Số tiền trả thêm với mức lương tối thiểu vùng hiện nay (3.980.000 đồng/tháng với địa bàn thuộc vùng I) là hơn 800.000 đồng/tháng. Như vậy, chi phí người sử dụng lao động phải trả thêm hàng tháng sẽ bị tăng lên rất nhiều. Trong khi đó, vấn đề ký kết hợp đồng lao động bằng hình thức văn bản chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Thực tế, hầu hết hợp đồng lao động đều được các bên thỏa thuận miệng nên không thể kiểm soát được việc người sử dụng lao động có trả thêm cho người giúp việc gia đình một khoản tiền thuộc nghĩa vụ của họ để người lao động tự lo bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật không.

3. Một số kiến nghị

Hiện nay, giúp việc gia đình đã trở thành một công việc không thể thiếu trong xã hội, góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Giúp việc gia đình đã được pháp luật thừa nhận là một nghề và người lao động đã được pháp luật bảo vệ thông qua các quy định tương đối đầy đủ và toàn diện, trong đó có quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện cho thấy người lao động giúp việc gia đình còn chưa được hưởng quyền này. Chính vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cũng như có các biện pháp phù hợp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của lao động giúp việc gia đình, sớm đưa giúp việc gia đình trở thành việc làm bền vững cho người lao động.

Thứ nhất, theo quy định pháp luật hiện nay, lao động giúp việc gia đình thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả một khoản tiền cùng với kỳ trả lương để người lao động tự lo bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, từ những phân tích ở trên cho thấy nếu chỉ dừng lại ở đó thì quy định này chỉ mang tính hình thức mà không thể khả thi trên thực tế, không đảm bảo sự bảo vệ một cách toàn diện về an sinh xã hội cho lao động giúp việc gia đình. Thiết nghĩ, cần quy định hình thức tham gia bảo hiểm xã hội cho lao động giúp việc gia đình là bảo hiểm xã hội bắt buộc. Có như vậy thì người lao động mới được bảo vệ trong các trường hợp rủi ro như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động thay vì chỉ được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Khi tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, hằng tháng người sử dụng lao động và người lao động đều có trách nhiệm trích đóng một khoản tiền theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội tính trên cơ sở tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động vào quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Như vậy, các quyền lợi của người lao động về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội đều được đảm bảo. Đồng thời, để thực hiện được vấn đề này cần có những quy định hướng dẫn cụ thể cách thức để người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, cũng như trách nhiệm của người sử dụng lao động và chế tài nếu họ không thực hiện nghĩa vụ của mình.

Thứ hai, ngoài việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với lao động giúp việc gia đình, cũng cần thực hiện đồng bộ với các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật. Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền kiến thức pháp luật về lao động giúp việc gia đình nói chung và pháp luật về bảo hiểm xã hội nói riêng đến người lao động và các hộ gia đình có thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cả người lao động và người sử dụng lao động. Đồng thời, qua đó cũng giúp lao động giúp việc gia đình có khả năng tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần thường xuyên kiểm tra tình hình thực hiện pháp luật lao động giúp việc gia đình, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoài ra, cũng cần tăng cường vai trò của Ủy ban nhân dân trong công tác quản lý về lao động giúp việc gia đình, khuyến khích, tạo điều kiện cho người giúp việc gia đình được tham gia vào tổ chức đại diện, qua đó người lao động có thể được chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm, hỗ trợ về pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

ThS. Nguyễn Thị Phương Thúy

Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh thuộc Đại học Thái Nguyên





[1]. Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

[2]. Đào Mộng Điệp (2014), “Pháp luật về lao động là người giúp việc gia đình và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Luật học số 12/2014, tr. 3-8.

[3]. Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Lao động năm 2012.

[4]. Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển Cộng đồng (2013), Báo cáo rà soát pháp luật, chính sách, nghiên cứu quốc tế và Việt Nam liên quan đến lao động giúp việc gia đình, Hà Nội, tr. 23-24.

[5]. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam (2012),“Việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam”, Nxb. Lao động - Xã Hội, Hà Nội, tr. 103-104.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: