Thứ hai 20/07/2026 16:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, nên việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa rất quan trọng đối với mỗi một quốc gia. Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa không những bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nó, mà còn bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, chính vì vậy, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu.

1. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Hiện nay, bảo hộ sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói riêng đóng vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển nền kinh tế - xã hội không chỉ cho những nước phát triển mà còn cả các nước đang phát triển như Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào). Nhãn hiệu hàng hóa đã có từ thời cổ đại và việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật của một số nước phát triển như Pháp, Anh, Đức, Mỹ... đã có từ hơn 2 thế kỷ, thuật ngữ về nhãn hiệu hàng hóa xuất hiện lần đầu tiên trong các văn bản pháp luật CHDCND Lào mới hơn 15 năm.

Nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, nên việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa rất quan trọng đối với mỗi một quốc gia. Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa không những bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nó, mà còn bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, chính vì vậy, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu.

Nhãn hiệu hàng hóa là một trong những quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ đầu tiên tại CHDCND Lào. Từ năm 1995, CHDCND Lào đã ban hành Nghị định số 06/TTg ngày 18/1/1995 về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa tại CHDCND Lào, với mục đích nhằm thống nhất việc quản lý bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong phạm vi toàn quốc, khuyến khích, thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào CHDCND Lào, kích thích hoạt động kinh tế thương mại trong và ngoài nước, bảo đảm chất lượng sản xuất hàng hoá, bảo vệ người tiêu dùng, ngăn chặn hành vi gian lận hàng hoá và hoạt động thương mại bất hợp pháp.

Để đáp ứng được mục đích nói trên và tạo sự thuận lợi cho việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, ủy ban Quốc gia về Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Lào(1) đã thông qua Quy định số 466/UQKCM ngày 7/3/2002 về đăng ký nhãn hiệu hàng hóa. Có nghĩa là trước năm 2002 việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại CHDCND Lào không có các quy định hướng dẫn chi tiết.

Với quyết tâm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cuối năm 2007, Quốc hội CHDCND Lào đã ban hành Luật Sở hữu trí tuệ số 08/QH ngày 24/12/2007 - đây là văn bản luật đầu tiên của Lào quy định bảo hộ tất cả các quyền liên quan đến sở hữu trí tuệ. Lào đã trở thành thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới từ ngày 17/1/1995, thành viên của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp từ ngày 08/10/1998, thành viên của Hiệp ước về hợp tác sáng chế từ ngày 14/6/2006 đang đệ đơn xin trở thành thành viên của Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật(2) và đang dự định tham gia vào các công ước quốc tế khác liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong tương lai.

2. Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật CHDCND Lào

Theo quy định tại Điều 2 Nghị định về nhãn hiệu hàng hóa năm 1995 thì: “Nhãn hiệu là một dấu hiệu có thể nhìn thấy được có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ giữa các doanh nghiệp. Nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. Nhãn hiệu hàng hóa là dấu hiệu được sử dụng để làm nhãn hiệu của hàng hoá hoặc nhằm sử dụng để làm nhãn hiệu của một dịch vụ nào đó để xác nhận rằng, hàng hóa hoặc dịch vụ đó thuộc về chủ sở hữu của chủ nhãn hiệu hàng hóa đó tạo ra”. Như vậy khái niệm nhãn hiệu theo Nghị định này rất hạn hẹp đối với dấu hiệu có khả năng để được đăng ký nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật của Lào. Bởi vì, theo như quy định trên thì chỉ có dấu hiệu dưới dạng từ ngữ, hình ảnh và sự kết hợp giữa các yếu tố đó tạo ra được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.

Trong khi đó, nếu so với định nghĩa nhãn hiệu hàng hóa được quy định tại khoản 1 Điều 17 của Hiệp định Thương mại song phương giữa CHDCND Lào và Hoa Kỳ năm 1997: Nhãn hiệu hàng hoá được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hóa hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa. Nhãn hiệu hàng hoá bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Theo Hiệp định này, khái niệm khả năng của dấu hiệu được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa được mở rộng thêm rất nhiều và quy định các loại nhãn hiệu được bảo hộ thành 4 loại nhãn hiệu đó là nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Trong khi đó Nghị định về nhãn hiệu hàng hóa năm 1995 chỉ có 3 loại nhãn hiệu được bảo hộ đó là nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ và nhãn hiệu tập thể.

Từ năm2007 đến nay, cùng với sự ra đời của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007 đã đánh dấu một bước tiến mới trong quy định về nhãn hiệu. Theo khoản 9 và khoản 10 Điều 3 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007 định nghĩa nhãn hiệu như sau: Nhãn hiệu là một dấu hiệu nào đó có thể là hình ảnh, từ ngữ, chữ cái, chữ số, ký hiệu, tên người, màu sắc, hình thể hoặc hình dạng của vật hoặc với sự kết hợp giữa một hay nhiều các yếu tố đó với nhau và dấu hiệu khác để sử dụng hoặc nhằm sử dụng để làm nhãn hiệu hàng hoá; Nhãn hiệu hàng hóa là một dấu hiệu nào đó mà có thể là hình ảnh, từ ngữ, chữ cái, chữ số, chữ ký, tên người, màu sắc, hình thể hoặc hình dạng của vật hoặc với sự kết hợp giữa một hay nhiều các yếu tố đó và dấu hiệu khác để sử dụng với hàng hoá hoặc dịch vụ để phân biệt giữa hàng hoá hoặc dịch vụ này với hàng hóa hoặc dịch vụ khác. Định nghĩa nhãn hiệu trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007 mở rộng, rất nhiều dấu hiệu có khả năng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa được quy định so với Nghị định năm 1995. Tuy nhiên, các nhà làm luật của Lào dùng từ “dấu hiệu khác” trong đoạn cuối định nghĩa nhãn hiệu là rất khó hiểu, nếu hiểu theo một cách khác thì có thể dấu là hiệu bất kỳ mà có khả năng phân biệt giữa hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể khác đều có khả năng dùng làm nhãn hiệu hàng hóa hoặc nhãn hiệu dịch vụ của cá nhân hoặc tổ chức nào đó.

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007, thì những loại nhãn hiệu được bảo hộ là gồm nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu nổi tiếng.

3. Điều kiện nhãn hiệu được bảo hộ và dấu hiệu không có khả năng được đăng ký bảo hộ về nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật Lào

3.1. Điều kiện đối với nhãn hiệu được bảo hộ

Theo Nghị định về nhãn hiệu hàng hóa năm 1995 thì không có điều khoản nào quy định chi tiết về những dấu hiệu nào có thể được đăng ký mà chỉ quy định về các dấu hiệu không có khả năng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa. Nhưng Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007 đã có điều khoản về điều kiện dấu hiệu có khả năng được bảo hộ. Điều 16 của Luật Sở hữu trí tuệ quy định dấu hiệu có khả năng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu như sau:

(i) Là dấu hiệu nhìn thấy được rõ ràng dưới dạng chữ cái, từ ngữ, chữ số, hình ảnh, hình vẽ, bức ảnh, tên người, chữ ký, kể cả hình ba chiều, tổ hợp màu sắc hoặc sự kết hợp giữa một hay nhiều các yếu tố đó;

(ii) Là dấu hiệu không thuộc điều cấm theo quy định của pháp luật;

(iii) Là dấu hiệu không trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký trước đó.

Đây à những quy định chung về điều kiện được đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật của Lào.

3.2. Dấu hiệu không có khả năng được đăng ký bảo hộ

Theo quy định tại Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007, thì những dấu hiệu không thể được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa bao gồm:

(i) Dấu hiệu không nhìn thấy được rõ ràng, không thể phân biệt được giữa các sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ của cá nhân hoặc tổ chức này với cá nhân hoặc tổ chức khác;

(ii) Dấu hiệu gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối công chúng hoặc giới kinh doanh về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, chất lượng bao gồm giá trị hoặc các đặc tính khác của sản phẩm, hàng hoá hoặc dịch vụ;

(iii) Dấu hiệu trùng lặp hoặc sao chép mà làm cho người tiêu dùng hoặc người sử dụng hiểu sai lệch;

(iv) Dấu hiệu có chứa đựng quốc huy, cờ quốc, biểu tượng văn hóa hoặc di tích lịch sử, hình ảnh của anh hùng dân tộc, hình ảnh của nhà lãnh tụ, tên viết tắt hoặc tên đầy đủ của huyện, tỉnh của CHDCND Lào hoặc của nước ngoài;

(v) Dấu hiệu của các tổ chức quốc tế hoặc biểu tượng được thiết lập ra bởi các công ước quốc tế, con dấu chính thức của cơ quan nhà nước hoặc biểu tượng của các tổ chức nhà nước hoặc quốc tế, ngoại trừ trường hợp được sự cho phép của cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế liên quan;

(vi) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký đối với hàng hóa hoặc dịch vụ trước đó;

(vii) Dấu hiệu trái với an ninh quốc gia, trật tự công cộng, trái với các quy định pháp luật, văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

4. Xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa

4.1. Quyền đăng ký nhãn hiệu

Các chủ thể sản xuất, kinh doanh sử dụng nhãn hiệu như một công cụ để giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của họ với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ của Lào quy định rằng, những chủ thể sau có quyền đăng ký đối với nhãn hiệu hàng hóa là:

- Cá nhân hoặc tổ chức trong nước và nước ngoài có thể xin đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của mình với cơ quan quản lý về sở hữu trí tuệ(3) hoặc với tổ chức đăng ký quốc tế về quyền sở hữu công nghiệp mà CHDCND Lào là thành viên.

- Cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài có mục đích đăng ký quyền sở hữu công nghiệp của mình tại CHDCND Lào phải có đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật Lào.

Hiện tại Lào vẫn chưa phải là thành viên của Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid, vì vậy, nếu cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài muốn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa hoặc dịch vụ của mình tại Lào thì phải nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa đó tại Lào theo con đường nộp đơn đăng ký quốc gia, tức là nộp đơn trực tiếp tại Cục Sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và đo lường, Bộ Khoa học và Công nghệ của Lào hoặc có thể nộp đơn đăng ký thông qua đại diện đăng ký nhãn hiệu hàng hóa có giấy phép hoạt động hợp pháp theo pháp luật của Lào.

Theo như quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Sở hữu trí tuệ, thì quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa được xác lập thông qua việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và chỉ có ngoại trừ đối với nhãn hiệu nổi tiếng.

4.2. Nguyên tắc nộp đơn đăng ký

CHDCND Lào cũng không khác nhiều so với các quốc gia thành viên khác của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ Lào là có hai nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên(4) (The First to File Principle): Trong trường hợp có nhiều người cùng nộp đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhau cho cùng một nhóm sản phẩm và đơn hợp lệ theo quy tắc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, thì người nào nộp đơn đầu tiên hoặc người nào nộp đơn theo nguyên tắc ưu tiên nộp đơn sớm nhất thì sẽ được cơ quan đăng ký xem xét trước. Trong trường hợp hai hoặc nhiều đơn nói trên cùng hợp lệ và nộp đơn cùng một ngày thì luật pháp của Lào chưa đề cập đến vấn đề này.

- Nguyên tắc ưu tiên (Priciple of Priority)(5): Người có ngày ưu tiên là cá nhân hoặc tổ chức đã nộp đơn đăng ký ở nước ngoài trước người nộp đơn đăng ký tại Lào.

Ngày ưu tiên là không quá 6 tháng kể từ ngày nộp đơn đăng ký ở nước ngoài đến ngày nộp đơn đăng ký tại Lào đối với đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, nếu hết thời gian ưu tiên đó thì sẽ lấy ngày nộp đơn đầu tiên tại Lào. Quy định này cũng được áp dụng như nhau đối với người nộp đơn đăng ký tại Lào trước khi nộp đơn đăng ký của mình tại nước ngoài.

4.3. Đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa

Theo quy định trong pháp luật hiện hành của Lào, thì mỗi đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa chỉ được nộp cho một nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ theo việc phân nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ quốc tế. Theo đó, cá nhân hay tổ chức nào muốn đăng ký nhãn hiệu cho nhiều nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ thì phải nộp thành nhiều đơn độc lập cho mỗi nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ của mình. Trong trường hợp người nộp đơn là người nước ngoài, thì đơn có thể bằng tiếng Anh hoặc tiếng Lào.

Đơn đăng ký nhãn hiệu bao gồm những giấy tờ sau: Tờ khai đăng ký theo mẫu có sẵn tại Cục Sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và đo lường; giấy ủy quyền của người nộp đơn; mẫu nhãn hiệu hàng hóa hoặc dịch vụ; quy chế sử dụng nhãn hiệu; giấy chứng nhận ngày ưu tiên và chứng từ nộp phí, lệ phí.

4.4. Thủ tục thẩm định đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ

Sau khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa thì đơn đăng ký sẽ được tiến hành thẩm định theo hai bước sau:

- Thẩm định hình thức của đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa: Mục đích của việc thẩm định hình thức này là kiểm tra tính hợp lệ của đơn đăng ký. Nội dung thẩm định hình thức bao gồm các thông tin liên quan đến việc đăng ký như: Tính hợp lệ và đầy đủ của đơn; điều kiện về dấu hiệu được bảo hộ; quyền của người nộp đơn; việc nộp phí và lệ phí. Sau khi đã thẩm định hình thức mà gặp trường hợp đơn chưa hợp lệ thì cơ quan đăng ký sẽ thông báo cho người nộp đơn để sửa chữa lại những thiếu sót đó trong thời gian 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Khác với luật của các nước khác, ở Lào không có quy định về công bố đơn đăng ký cho công chúng sau khi đã thẩm định hình thức của đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, mà theo luật của Lào thì sẽ công bố cho công chúng sau khi nhãn hiệu đã được đăng ký. Đây là điều rất quan trọng nhưng thiếu trong Luật Sở hữu trí tuệ của Lào, vì luật không có quy định cho phép bất kỳ ai có quyền liên quan có thể khiếu nại tới cơ quan đăng ký nhãn hiệu trước khi nhãn hiệu đó được đăng ký.

- Nếu đơn đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tài liệu và thông tin nêu trên, đơn sẽ được thẩm định về mặt nội dung. Mục đích của việc thẩm định nội dung là đánh giá khả năng được bảo hộ của đối tượng theo điều kiện mà pháp luật quy định, đó là tính phân biệt của nhãn hiệu, nhãn hiệu thuộc điều cấm của pháp luật hay không, nhãn hiệu có trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký trước đó không? Nếu nhãn hiệu đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ, cơ quan đăng ký sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, ghi vào sổ sách đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và công bố kết quả của việc đăng ký nhãn hiệu đó vào sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp. Pháp luật về sở hữu trí tuệ của Lào không có quy định về thời gian thẩm định hình thức và thẩm định nội dung đối với nhãn hiệu hàng hóa. Trong khi đó, Điều 11 Quy định số 466/UQKCM về việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa năm 2002 quy định rằng, thời hạn đăng ký nhãn hiệu là 6 tháng kể từ ngày nộp đơn, nếu không có tranh chấp phát sinh.

4.5. Thời hạn bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Sau khi được cấp giấy chứng nhận theo Luật Sở hữu trí tuệ Lào, thì nhãn hiệu hàng hóa sẽ được bảo hộ trong thời gian 10 năm kể từ ngày nộp đơn và thời gian hiệu lực của nhãn hiệu được gia hạn nhiều lần liên tục, mỗi lần 10 năm. Nhưng nhãn hiệu đã đăng ký có thể bị hủy bỏ nếu có căn cứ cho rằng, nhãn hiệu đã được đăng ký đó không sử dụng trong vòng thời gian 5 năm liên tục tại CHDCND Lào tính từ ngày nhãn hiệu đã được đăng ký. Trong trường hợp này cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ sẽ thông báo cho chủ sở hữu nhãn hiệu để chủ sở hữu nhãn hiệu đó trả lời lý do không sử dụng nhãn hiệu trong thời gian 90 ngày, nếu không nhận được sự trả lời hoặc sự trả lời đó không có lý do chính đáng, thì Nhà nước sẽ cho phép người yêu cầu khác sử dụng nhãn hiệu đó.

4.6. Quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa

Sau khi nhãn hiệu đã được đăng ký tại Lào, theo Điều 13 của Nghị định về nhãn hiệu hàng hóa, thì chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa có quyền độc quyền sử dụng nhãn hiệu hoặc cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu; chủ sở hữu nhãn hiệu cũng có quyền khởi kiện cá nhân hoặc tổ chức đã vi phạm và sử dụng nhãn hiệu mà không có sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu. Trong khi đó, Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ quy định chung đối với quyền của chủ sở hữu công nghiệp như sau: Chủ sở hữu công nghiệp có quyền sản xuất; cho người khác thuê để sản xuất; chuyển giao cho người khác bằng cách bán hoặc chuyển nhượng; thừa kế; được hưởng lợi ích xuất phát từ sản phẩm sở hữu công nghiệp hoặc sản phẩm nào đó do phương pháp sản xuất từ sở hữu công nghiệp mang lại; bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp của mình do hành vi vi phạm của nghười khác bằng cách khởi kiện ra Tòa án; lưu trữ, quảng cáo, lưu hành, chào bán, xuất khẩu và nhập khẩu các sản phẩm do sở hữu công nghiệp mang lại. Đây là các quyền cơ bản của chủ sở hữu công nghiệp nói chung và quyền của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu hàng hóa nói riêng theo pháp luật sở hữu trí tuệ của Lào.

5. Thực thi bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

5.1. Hành vi vi phạm quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa

Thông thường thì mọi hành vi sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký mà không được chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa đồng ý thì sẽ bị coi là hành vi vi phạm, bởi vì chủ sở hữu nhãn hiệu sau khi nhận được giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ có độc quyền đối với nhãn hiệu đó. Theo khoản 2 Điều 108 Luật Sở hữu trí tuệ thì, hành vi vi phạm đối với quyền về nhãn hiệu như sau: Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu đã đăng ký trước đó cho hàng hóa hoặc dịch vụ; sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đã đăng ký trước đó cho hàng hóa hoặc dịch vụ mà làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa hoặc dịch vụ; sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa hoặc dịch vụ; sử dụng dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa hoặc phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa hoặc dịch vụ.

5.2. Các biện pháp thực thi bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Hiện nay, ở CHDCND Lào vẫn chưa có cơ quan giải quyết hoặc cơ quan thực thi chuyên trách đối với việc giải quyết vụ tranh chấp và xử lý vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ. Về việc giải quyết tranh chấp liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa thì đã được thông qua con đường hành chính và thủ tục tố tụng tại Tòa án. Riêng đối với việc xử lý những vụ vi phạm về nhãn hiệu hàng hóa theo như Luật Sở hữu trí tuệ quy định thông qua các hình thức sau:

- Tự thương lượng: Theo quy định tại Điều 114 Luật Sở hữu trí tuệ, thì nếu chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa phát hiện người khác đã vi phạm quyền đối với nhãn hiệu của mình, chủ sở hữu nhãn hiệu đó có thể tự thương lượng trực tiếp hoặc yêu cầu người vi phạm đó chấm dứt các hành vi vi phạm đối với nhãn hiệu của mình trước khi khởi kiện ra cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác. Hình thức này là hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu bị người khác xâm phạm mà thôi.

- Giải quyết bởi cơ quan hành chính: Khi phát hiện ra người khác đã vi phạm quyền đối với nhãn hiệu của mình chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa có quyền khiếu nại đối với cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ để xử lý vụ vi phạm nhãn hiệu hàng hóa. Nếu việc vi phạm đó xảy ra ở các tỉnh, thành thì Sở Khoa học và Công nghệ của các tỉnh sẽ phối hợp với cơ quan chức năng khác xử lý những vụ vi phạm đó. Tuy Luật Sở hữu trí tuệ đã có hiệu lực được hơn 4 năm nay, nhưng vẫn chưa có quy định nào về thủ tục giải quyết và quá trình xử lý vụ vi phạm sở hữu trí tuệ tại Lào. Vì vậy, việc xử lý các vụ vi phạm của cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ là chưa đạt kết quả cao. Mức xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ còn rất thấp vì luật quy định mức xử phạt chỉ cao gấp hai lần đối với thiệt hại mà người vi phạm gây ra cho chủ sở hữu trí tuệ nhưng mà mức này là áp dụng cho những người cố tình vi phạm hoặc không cố tình nhưng vi phạm lần thứ hai mới cho phép áp dụng mức xử phạt này. Hơn nữa, luật cũng không quy định hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ thì bị xử lý hành chính và cơ quan hành chính liên quan khác có phạm vi xử lý vụ vi phạm đến mức nào thì vẫn còn thiếu trong Luật.

- Giải quyết bởi Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế(6): Luật Sở hữu trí tuệ quy định rằng, nếu không giải quyết được bởi cơ quan hành chính thì chủ sở hữu trí tuệ có thể yêu cầu Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế giải quyết. Hình thức giải quyết của trung tâm này là hòa giải và trọng tài mà các bên có thể thỏa thuận chọn một trong hai hình thức trên để giải quyết vụ việc.

- Giải quyết bởi Tòa án: ở Lào không có Tòa án riêng để giải quyết những vụ tranh chấp và vi phạm về sở hữu trí tuệ. Nếu vụ tranh chấp hoặc vi phạm đó không thể giải quyết được bởi cơ quan hành chính và trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế, thì chủ sở hữu quyền đối với sở hữu trí tuệ có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết vụ việc cho mình. Những vi phạm chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể áp dụng biện pháp dân sự để yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm đó gây ra. ở Lào, theo quy định của Luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết về vụ liên quan đến sở hữu trí tuệ là Tòa án nhân dân cấp tỉnh trở lên cụ thể là mà sẽ do Tòa thương mại trực thuộc Tòa án nhân dân tỉnh giải quyết.

Luật Sở hữu trí tuệ cũng chưa có quy định về các biện pháp dân sự mà Tòa án sẽ áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Riêng đối với cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng cách giả mạo, lừa dối, thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với sở hữu trí tuệ gây thiệt hại với người khác sẽ bị kết án giam giữ có thời hạn từ ba tháng đến hai năm và bị phạt từ 500.000 kíp – 5.000.000 kíp (tương đương 1.300.000 vnđ – 13.000.000 vnđ)(7). Trong Luật Hình sự sửa đổi năm 2005 của Lào cũng không có quy định nào liên quan trực tiếp đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và tội phạm về sở hữu trí tuệ.

Tóm lại, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007 của CHDCND Lào còn thiếu rất nhiều điều khoản quan trọng so với Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam và của các nước khác trong khu vực. Đến cuối năm 2011 vừa qua, Quốc hội Lào đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2011 để cho Luật này có nội dung phù hợp với các điều ước quốc tế liên quan.

Tài liệu tham khảo:

(1). Bây giờ là Bộ Khoa học và Công nghệ của CHDCND Lào.

(2).Http://www.wipo.int/treaties/en/ShowResults.jspsearch_what=C&country_id=98C; xem: Ngày 27/2/2012.

(3). Cơ quan quản lý về sở hữu trí tuệ ở CHDCND Lào là Cục Sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và đo lường, Bộ Khoa học và Công nghệ Lào.

(4). Điều 28, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007.

(5). Điều 29, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007.

(6). Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế là thuộc Bộ Tư pháp của Lào có chức năng tương đương với các Cục trực thuộc Bộ Tư pháp.

(7). Điều 134, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007.

NCS. Somdeth Keovongsack

Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).

Theo dõi chúng tôi trên: