Thứ tư 14/01/2026 14:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, nên việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa rất quan trọng đối với mỗi một quốc gia. Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa không những bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nó, mà còn bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, chính vì vậy, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu.

1. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Hiện nay, bảo hộ sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói riêng đóng vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển nền kinh tế - xã hội không chỉ cho những nước phát triển mà còn cả các nước đang phát triển như Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào). Nhãn hiệu hàng hóa đã có từ thời cổ đại và việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật của một số nước phát triển như Pháp, Anh, Đức, Mỹ... đã có từ hơn 2 thế kỷ, thuật ngữ về nhãn hiệu hàng hóa xuất hiện lần đầu tiên trong các văn bản pháp luật CHDCND Lào mới hơn 15 năm.

Nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, nên việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa rất quan trọng đối với mỗi một quốc gia. Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa không những bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nó, mà còn bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, chính vì vậy, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu.

Nhãn hiệu hàng hóa là một trong những quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ đầu tiên tại CHDCND Lào. Từ năm 1995, CHDCND Lào đã ban hành Nghị định số 06/TTg ngày 18/1/1995 về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa tại CHDCND Lào, với mục đích nhằm thống nhất việc quản lý bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong phạm vi toàn quốc, khuyến khích, thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào CHDCND Lào, kích thích hoạt động kinh tế thương mại trong và ngoài nước, bảo đảm chất lượng sản xuất hàng hoá, bảo vệ người tiêu dùng, ngăn chặn hành vi gian lận hàng hoá và hoạt động thương mại bất hợp pháp.

Để đáp ứng được mục đích nói trên và tạo sự thuận lợi cho việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, ủy ban Quốc gia về Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Lào(1) đã thông qua Quy định số 466/UQKCM ngày 7/3/2002 về đăng ký nhãn hiệu hàng hóa. Có nghĩa là trước năm 2002 việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại CHDCND Lào không có các quy định hướng dẫn chi tiết.

Với quyết tâm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cuối năm 2007, Quốc hội CHDCND Lào đã ban hành Luật Sở hữu trí tuệ số 08/QH ngày 24/12/2007 - đây là văn bản luật đầu tiên của Lào quy định bảo hộ tất cả các quyền liên quan đến sở hữu trí tuệ. Lào đã trở thành thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới từ ngày 17/1/1995, thành viên của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp từ ngày 08/10/1998, thành viên của Hiệp ước về hợp tác sáng chế từ ngày 14/6/2006 đang đệ đơn xin trở thành thành viên của Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật(2) và đang dự định tham gia vào các công ước quốc tế khác liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong tương lai.

2. Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật CHDCND Lào

Theo quy định tại Điều 2 Nghị định về nhãn hiệu hàng hóa năm 1995 thì: “Nhãn hiệu là một dấu hiệu có thể nhìn thấy được có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ giữa các doanh nghiệp. Nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. Nhãn hiệu hàng hóa là dấu hiệu được sử dụng để làm nhãn hiệu của hàng hoá hoặc nhằm sử dụng để làm nhãn hiệu của một dịch vụ nào đó để xác nhận rằng, hàng hóa hoặc dịch vụ đó thuộc về chủ sở hữu của chủ nhãn hiệu hàng hóa đó tạo ra”. Như vậy khái niệm nhãn hiệu theo Nghị định này rất hạn hẹp đối với dấu hiệu có khả năng để được đăng ký nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật của Lào. Bởi vì, theo như quy định trên thì chỉ có dấu hiệu dưới dạng từ ngữ, hình ảnh và sự kết hợp giữa các yếu tố đó tạo ra được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.

Trong khi đó, nếu so với định nghĩa nhãn hiệu hàng hóa được quy định tại khoản 1 Điều 17 của Hiệp định Thương mại song phương giữa CHDCND Lào và Hoa Kỳ năm 1997: Nhãn hiệu hàng hoá được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hóa hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa. Nhãn hiệu hàng hoá bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Theo Hiệp định này, khái niệm khả năng của dấu hiệu được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa được mở rộng thêm rất nhiều và quy định các loại nhãn hiệu được bảo hộ thành 4 loại nhãn hiệu đó là nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Trong khi đó Nghị định về nhãn hiệu hàng hóa năm 1995 chỉ có 3 loại nhãn hiệu được bảo hộ đó là nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ và nhãn hiệu tập thể.

Từ năm2007 đến nay, cùng với sự ra đời của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007 đã đánh dấu một bước tiến mới trong quy định về nhãn hiệu. Theo khoản 9 và khoản 10 Điều 3 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007 định nghĩa nhãn hiệu như sau: Nhãn hiệu là một dấu hiệu nào đó có thể là hình ảnh, từ ngữ, chữ cái, chữ số, ký hiệu, tên người, màu sắc, hình thể hoặc hình dạng của vật hoặc với sự kết hợp giữa một hay nhiều các yếu tố đó với nhau và dấu hiệu khác để sử dụng hoặc nhằm sử dụng để làm nhãn hiệu hàng hoá; Nhãn hiệu hàng hóa là một dấu hiệu nào đó mà có thể là hình ảnh, từ ngữ, chữ cái, chữ số, chữ ký, tên người, màu sắc, hình thể hoặc hình dạng của vật hoặc với sự kết hợp giữa một hay nhiều các yếu tố đó và dấu hiệu khác để sử dụng với hàng hoá hoặc dịch vụ để phân biệt giữa hàng hoá hoặc dịch vụ này với hàng hóa hoặc dịch vụ khác. Định nghĩa nhãn hiệu trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007 mở rộng, rất nhiều dấu hiệu có khả năng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa được quy định so với Nghị định năm 1995. Tuy nhiên, các nhà làm luật của Lào dùng từ “dấu hiệu khác” trong đoạn cuối định nghĩa nhãn hiệu là rất khó hiểu, nếu hiểu theo một cách khác thì có thể dấu là hiệu bất kỳ mà có khả năng phân biệt giữa hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể khác đều có khả năng dùng làm nhãn hiệu hàng hóa hoặc nhãn hiệu dịch vụ của cá nhân hoặc tổ chức nào đó.

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007, thì những loại nhãn hiệu được bảo hộ là gồm nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu nổi tiếng.

3. Điều kiện nhãn hiệu được bảo hộ và dấu hiệu không có khả năng được đăng ký bảo hộ về nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật Lào

3.1. Điều kiện đối với nhãn hiệu được bảo hộ

Theo Nghị định về nhãn hiệu hàng hóa năm 1995 thì không có điều khoản nào quy định chi tiết về những dấu hiệu nào có thể được đăng ký mà chỉ quy định về các dấu hiệu không có khả năng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa. Nhưng Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007 đã có điều khoản về điều kiện dấu hiệu có khả năng được bảo hộ. Điều 16 của Luật Sở hữu trí tuệ quy định dấu hiệu có khả năng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu như sau:

(i) Là dấu hiệu nhìn thấy được rõ ràng dưới dạng chữ cái, từ ngữ, chữ số, hình ảnh, hình vẽ, bức ảnh, tên người, chữ ký, kể cả hình ba chiều, tổ hợp màu sắc hoặc sự kết hợp giữa một hay nhiều các yếu tố đó;

(ii) Là dấu hiệu không thuộc điều cấm theo quy định của pháp luật;

(iii) Là dấu hiệu không trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký trước đó.

Đây à những quy định chung về điều kiện được đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật của Lào.

3.2. Dấu hiệu không có khả năng được đăng ký bảo hộ

Theo quy định tại Điều 23 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007, thì những dấu hiệu không thể được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa bao gồm:

(i) Dấu hiệu không nhìn thấy được rõ ràng, không thể phân biệt được giữa các sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ của cá nhân hoặc tổ chức này với cá nhân hoặc tổ chức khác;

(ii) Dấu hiệu gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối công chúng hoặc giới kinh doanh về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, chất lượng bao gồm giá trị hoặc các đặc tính khác của sản phẩm, hàng hoá hoặc dịch vụ;

(iii) Dấu hiệu trùng lặp hoặc sao chép mà làm cho người tiêu dùng hoặc người sử dụng hiểu sai lệch;

(iv) Dấu hiệu có chứa đựng quốc huy, cờ quốc, biểu tượng văn hóa hoặc di tích lịch sử, hình ảnh của anh hùng dân tộc, hình ảnh của nhà lãnh tụ, tên viết tắt hoặc tên đầy đủ của huyện, tỉnh của CHDCND Lào hoặc của nước ngoài;

(v) Dấu hiệu của các tổ chức quốc tế hoặc biểu tượng được thiết lập ra bởi các công ước quốc tế, con dấu chính thức của cơ quan nhà nước hoặc biểu tượng của các tổ chức nhà nước hoặc quốc tế, ngoại trừ trường hợp được sự cho phép của cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế liên quan;

(vi) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký đối với hàng hóa hoặc dịch vụ trước đó;

(vii) Dấu hiệu trái với an ninh quốc gia, trật tự công cộng, trái với các quy định pháp luật, văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

4. Xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa

4.1. Quyền đăng ký nhãn hiệu

Các chủ thể sản xuất, kinh doanh sử dụng nhãn hiệu như một công cụ để giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của họ với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ của Lào quy định rằng, những chủ thể sau có quyền đăng ký đối với nhãn hiệu hàng hóa là:

- Cá nhân hoặc tổ chức trong nước và nước ngoài có thể xin đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của mình với cơ quan quản lý về sở hữu trí tuệ(3) hoặc với tổ chức đăng ký quốc tế về quyền sở hữu công nghiệp mà CHDCND Lào là thành viên.

- Cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài có mục đích đăng ký quyền sở hữu công nghiệp của mình tại CHDCND Lào phải có đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật Lào.

Hiện tại Lào vẫn chưa phải là thành viên của Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid, vì vậy, nếu cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài muốn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa hoặc dịch vụ của mình tại Lào thì phải nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa đó tại Lào theo con đường nộp đơn đăng ký quốc gia, tức là nộp đơn trực tiếp tại Cục Sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và đo lường, Bộ Khoa học và Công nghệ của Lào hoặc có thể nộp đơn đăng ký thông qua đại diện đăng ký nhãn hiệu hàng hóa có giấy phép hoạt động hợp pháp theo pháp luật của Lào.

Theo như quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Sở hữu trí tuệ, thì quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa được xác lập thông qua việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và chỉ có ngoại trừ đối với nhãn hiệu nổi tiếng.

4.2. Nguyên tắc nộp đơn đăng ký

CHDCND Lào cũng không khác nhiều so với các quốc gia thành viên khác của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ Lào là có hai nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên(4) (The First to File Principle): Trong trường hợp có nhiều người cùng nộp đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhau cho cùng một nhóm sản phẩm và đơn hợp lệ theo quy tắc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, thì người nào nộp đơn đầu tiên hoặc người nào nộp đơn theo nguyên tắc ưu tiên nộp đơn sớm nhất thì sẽ được cơ quan đăng ký xem xét trước. Trong trường hợp hai hoặc nhiều đơn nói trên cùng hợp lệ và nộp đơn cùng một ngày thì luật pháp của Lào chưa đề cập đến vấn đề này.

- Nguyên tắc ưu tiên (Priciple of Priority)(5): Người có ngày ưu tiên là cá nhân hoặc tổ chức đã nộp đơn đăng ký ở nước ngoài trước người nộp đơn đăng ký tại Lào.

Ngày ưu tiên là không quá 6 tháng kể từ ngày nộp đơn đăng ký ở nước ngoài đến ngày nộp đơn đăng ký tại Lào đối với đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, nếu hết thời gian ưu tiên đó thì sẽ lấy ngày nộp đơn đầu tiên tại Lào. Quy định này cũng được áp dụng như nhau đối với người nộp đơn đăng ký tại Lào trước khi nộp đơn đăng ký của mình tại nước ngoài.

4.3. Đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa

Theo quy định trong pháp luật hiện hành của Lào, thì mỗi đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa chỉ được nộp cho một nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ theo việc phân nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ quốc tế. Theo đó, cá nhân hay tổ chức nào muốn đăng ký nhãn hiệu cho nhiều nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ thì phải nộp thành nhiều đơn độc lập cho mỗi nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ của mình. Trong trường hợp người nộp đơn là người nước ngoài, thì đơn có thể bằng tiếng Anh hoặc tiếng Lào.

Đơn đăng ký nhãn hiệu bao gồm những giấy tờ sau: Tờ khai đăng ký theo mẫu có sẵn tại Cục Sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và đo lường; giấy ủy quyền của người nộp đơn; mẫu nhãn hiệu hàng hóa hoặc dịch vụ; quy chế sử dụng nhãn hiệu; giấy chứng nhận ngày ưu tiên và chứng từ nộp phí, lệ phí.

4.4. Thủ tục thẩm định đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ

Sau khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa thì đơn đăng ký sẽ được tiến hành thẩm định theo hai bước sau:

- Thẩm định hình thức của đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa: Mục đích của việc thẩm định hình thức này là kiểm tra tính hợp lệ của đơn đăng ký. Nội dung thẩm định hình thức bao gồm các thông tin liên quan đến việc đăng ký như: Tính hợp lệ và đầy đủ của đơn; điều kiện về dấu hiệu được bảo hộ; quyền của người nộp đơn; việc nộp phí và lệ phí. Sau khi đã thẩm định hình thức mà gặp trường hợp đơn chưa hợp lệ thì cơ quan đăng ký sẽ thông báo cho người nộp đơn để sửa chữa lại những thiếu sót đó trong thời gian 60 ngày kể từ ngày thông báo.

Khác với luật của các nước khác, ở Lào không có quy định về công bố đơn đăng ký cho công chúng sau khi đã thẩm định hình thức của đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, mà theo luật của Lào thì sẽ công bố cho công chúng sau khi nhãn hiệu đã được đăng ký. Đây là điều rất quan trọng nhưng thiếu trong Luật Sở hữu trí tuệ của Lào, vì luật không có quy định cho phép bất kỳ ai có quyền liên quan có thể khiếu nại tới cơ quan đăng ký nhãn hiệu trước khi nhãn hiệu đó được đăng ký.

- Nếu đơn đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tài liệu và thông tin nêu trên, đơn sẽ được thẩm định về mặt nội dung. Mục đích của việc thẩm định nội dung là đánh giá khả năng được bảo hộ của đối tượng theo điều kiện mà pháp luật quy định, đó là tính phân biệt của nhãn hiệu, nhãn hiệu thuộc điều cấm của pháp luật hay không, nhãn hiệu có trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký trước đó không? Nếu nhãn hiệu đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ, cơ quan đăng ký sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, ghi vào sổ sách đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và công bố kết quả của việc đăng ký nhãn hiệu đó vào sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp. Pháp luật về sở hữu trí tuệ của Lào không có quy định về thời gian thẩm định hình thức và thẩm định nội dung đối với nhãn hiệu hàng hóa. Trong khi đó, Điều 11 Quy định số 466/UQKCM về việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa năm 2002 quy định rằng, thời hạn đăng ký nhãn hiệu là 6 tháng kể từ ngày nộp đơn, nếu không có tranh chấp phát sinh.

4.5. Thời hạn bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Sau khi được cấp giấy chứng nhận theo Luật Sở hữu trí tuệ Lào, thì nhãn hiệu hàng hóa sẽ được bảo hộ trong thời gian 10 năm kể từ ngày nộp đơn và thời gian hiệu lực của nhãn hiệu được gia hạn nhiều lần liên tục, mỗi lần 10 năm. Nhưng nhãn hiệu đã đăng ký có thể bị hủy bỏ nếu có căn cứ cho rằng, nhãn hiệu đã được đăng ký đó không sử dụng trong vòng thời gian 5 năm liên tục tại CHDCND Lào tính từ ngày nhãn hiệu đã được đăng ký. Trong trường hợp này cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ sẽ thông báo cho chủ sở hữu nhãn hiệu để chủ sở hữu nhãn hiệu đó trả lời lý do không sử dụng nhãn hiệu trong thời gian 90 ngày, nếu không nhận được sự trả lời hoặc sự trả lời đó không có lý do chính đáng, thì Nhà nước sẽ cho phép người yêu cầu khác sử dụng nhãn hiệu đó.

4.6. Quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa

Sau khi nhãn hiệu đã được đăng ký tại Lào, theo Điều 13 của Nghị định về nhãn hiệu hàng hóa, thì chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa có quyền độc quyền sử dụng nhãn hiệu hoặc cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu; chủ sở hữu nhãn hiệu cũng có quyền khởi kiện cá nhân hoặc tổ chức đã vi phạm và sử dụng nhãn hiệu mà không có sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu. Trong khi đó, Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ quy định chung đối với quyền của chủ sở hữu công nghiệp như sau: Chủ sở hữu công nghiệp có quyền sản xuất; cho người khác thuê để sản xuất; chuyển giao cho người khác bằng cách bán hoặc chuyển nhượng; thừa kế; được hưởng lợi ích xuất phát từ sản phẩm sở hữu công nghiệp hoặc sản phẩm nào đó do phương pháp sản xuất từ sở hữu công nghiệp mang lại; bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp của mình do hành vi vi phạm của nghười khác bằng cách khởi kiện ra Tòa án; lưu trữ, quảng cáo, lưu hành, chào bán, xuất khẩu và nhập khẩu các sản phẩm do sở hữu công nghiệp mang lại. Đây là các quyền cơ bản của chủ sở hữu công nghiệp nói chung và quyền của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu hàng hóa nói riêng theo pháp luật sở hữu trí tuệ của Lào.

5. Thực thi bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

5.1. Hành vi vi phạm quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa

Thông thường thì mọi hành vi sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký mà không được chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa đồng ý thì sẽ bị coi là hành vi vi phạm, bởi vì chủ sở hữu nhãn hiệu sau khi nhận được giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ có độc quyền đối với nhãn hiệu đó. Theo khoản 2 Điều 108 Luật Sở hữu trí tuệ thì, hành vi vi phạm đối với quyền về nhãn hiệu như sau: Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu đã đăng ký trước đó cho hàng hóa hoặc dịch vụ; sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đã đăng ký trước đó cho hàng hóa hoặc dịch vụ mà làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa hoặc dịch vụ; sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa hoặc dịch vụ; sử dụng dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa hoặc phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa hoặc dịch vụ.

5.2. Các biện pháp thực thi bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Hiện nay, ở CHDCND Lào vẫn chưa có cơ quan giải quyết hoặc cơ quan thực thi chuyên trách đối với việc giải quyết vụ tranh chấp và xử lý vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ. Về việc giải quyết tranh chấp liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa thì đã được thông qua con đường hành chính và thủ tục tố tụng tại Tòa án. Riêng đối với việc xử lý những vụ vi phạm về nhãn hiệu hàng hóa theo như Luật Sở hữu trí tuệ quy định thông qua các hình thức sau:

- Tự thương lượng: Theo quy định tại Điều 114 Luật Sở hữu trí tuệ, thì nếu chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa phát hiện người khác đã vi phạm quyền đối với nhãn hiệu của mình, chủ sở hữu nhãn hiệu đó có thể tự thương lượng trực tiếp hoặc yêu cầu người vi phạm đó chấm dứt các hành vi vi phạm đối với nhãn hiệu của mình trước khi khởi kiện ra cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác. Hình thức này là hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu bị người khác xâm phạm mà thôi.

- Giải quyết bởi cơ quan hành chính: Khi phát hiện ra người khác đã vi phạm quyền đối với nhãn hiệu của mình chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa có quyền khiếu nại đối với cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ để xử lý vụ vi phạm nhãn hiệu hàng hóa. Nếu việc vi phạm đó xảy ra ở các tỉnh, thành thì Sở Khoa học và Công nghệ của các tỉnh sẽ phối hợp với cơ quan chức năng khác xử lý những vụ vi phạm đó. Tuy Luật Sở hữu trí tuệ đã có hiệu lực được hơn 4 năm nay, nhưng vẫn chưa có quy định nào về thủ tục giải quyết và quá trình xử lý vụ vi phạm sở hữu trí tuệ tại Lào. Vì vậy, việc xử lý các vụ vi phạm của cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ là chưa đạt kết quả cao. Mức xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ còn rất thấp vì luật quy định mức xử phạt chỉ cao gấp hai lần đối với thiệt hại mà người vi phạm gây ra cho chủ sở hữu trí tuệ nhưng mà mức này là áp dụng cho những người cố tình vi phạm hoặc không cố tình nhưng vi phạm lần thứ hai mới cho phép áp dụng mức xử phạt này. Hơn nữa, luật cũng không quy định hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ thì bị xử lý hành chính và cơ quan hành chính liên quan khác có phạm vi xử lý vụ vi phạm đến mức nào thì vẫn còn thiếu trong Luật.

- Giải quyết bởi Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế(6): Luật Sở hữu trí tuệ quy định rằng, nếu không giải quyết được bởi cơ quan hành chính thì chủ sở hữu trí tuệ có thể yêu cầu Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế giải quyết. Hình thức giải quyết của trung tâm này là hòa giải và trọng tài mà các bên có thể thỏa thuận chọn một trong hai hình thức trên để giải quyết vụ việc.

- Giải quyết bởi Tòa án: ở Lào không có Tòa án riêng để giải quyết những vụ tranh chấp và vi phạm về sở hữu trí tuệ. Nếu vụ tranh chấp hoặc vi phạm đó không thể giải quyết được bởi cơ quan hành chính và trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế, thì chủ sở hữu quyền đối với sở hữu trí tuệ có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết vụ việc cho mình. Những vi phạm chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể áp dụng biện pháp dân sự để yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm đó gây ra. ở Lào, theo quy định của Luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết về vụ liên quan đến sở hữu trí tuệ là Tòa án nhân dân cấp tỉnh trở lên cụ thể là mà sẽ do Tòa thương mại trực thuộc Tòa án nhân dân tỉnh giải quyết.

Luật Sở hữu trí tuệ cũng chưa có quy định về các biện pháp dân sự mà Tòa án sẽ áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Riêng đối với cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng cách giả mạo, lừa dối, thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với sở hữu trí tuệ gây thiệt hại với người khác sẽ bị kết án giam giữ có thời hạn từ ba tháng đến hai năm và bị phạt từ 500.000 kíp – 5.000.000 kíp (tương đương 1.300.000 vnđ – 13.000.000 vnđ)(7). Trong Luật Hình sự sửa đổi năm 2005 của Lào cũng không có quy định nào liên quan trực tiếp đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và tội phạm về sở hữu trí tuệ.

Tóm lại, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007 của CHDCND Lào còn thiếu rất nhiều điều khoản quan trọng so với Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam và của các nước khác trong khu vực. Đến cuối năm 2011 vừa qua, Quốc hội Lào đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2011 để cho Luật này có nội dung phù hợp với các điều ước quốc tế liên quan.

Tài liệu tham khảo:

(1). Bây giờ là Bộ Khoa học và Công nghệ của CHDCND Lào.

(2).Http://www.wipo.int/treaties/en/ShowResults.jspsearch_what=C&country_id=98C; xem: Ngày 27/2/2012.

(3). Cơ quan quản lý về sở hữu trí tuệ ở CHDCND Lào là Cục Sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và đo lường, Bộ Khoa học và Công nghệ Lào.

(4). Điều 28, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007.

(5). Điều 29, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007.

(6). Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế là thuộc Bộ Tư pháp của Lào có chức năng tương đương với các Cục trực thuộc Bộ Tư pháp.

(7). Điều 134, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2007.

NCS. Somdeth Keovongsack

Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.

Theo dõi chúng tôi trên: