Thứ hai 15/06/2026 20:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ

Quyền sở hữu trí tuệ từ thế kỷ trước đã được ghi nhận và bảo hộ bởi pháp luật quốc tế cũng như hệ thống pháp luật của hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế nói chung và trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại nói riêng.

Điều 11 - mục H - Nguyên tắc chung điều chỉnh việc sử dụng vệ tinh nhân tạo của các quốc gia để truyền hình trực tiếp quốc tế được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua tại Nghị quyết số 37/92 ngày 10/12/1982 quy định: “Quyền tác giả và quyền kề cận: Không ảnh hưởng đến quy định liên quan của pháp luật quốc tế, các Quốc gia hợp tác song phương và đa phương để bảo vệ quyền tác giả và quyền kề cận bằng những hiệp định phù hợp cho quyền lợi của các quốc gia hoặc các tổ chức trong phạm vi thẩm quyền của mình. Trong sự hợp tác đó họ phải quan tâm đặc biệt đến lợi ích của nước đang phát triển trong việc sử dụng phát sóng truyền hình trực tiếp nhằm thúc đẩy sự phát triển quốc gia đó.”

1. Tầm quan trọng của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ

Trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại, có rất nhiều đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (sản phẩm trí tuệ) được tạo ra như: Các chương trình mang phát sóng mang tín hiệu vệ tinh, các bí mật thương mại, các sáng chế (tên lửa, tàu vũ trụ, vệ tinh và vật thể vũ trụ khác), các hình ảnh chụp được của vệ tinh… Tất cả các sản phẩm trí tuệ đó đều cần được bảo vệ vì đó là những lợi ích thương mại của các chủ sở hữu và các quốc gia, các tổ chức kinh tế khi tham gia khai thác khoảng không vũ trụ.

Việc thiết lập một chế độ pháp lý hiệu quả để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ là vấn đề thực sự quan trọng. Nếu thiếu cơ sở pháp lý sẽ ảnh hưởng đến sự tiến bộ của việc nghiên cứu khoảng không vũ trụ và sự hợp tác quốc tế về vũ trụ. Việc hạn chế độc quyền nhờ vào bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ mang đến một lợi ích cạnh tranh cho những chủ sở hữu quyền bằng việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng hoặc ngăn chặn đối phương sử dụng công nghệ[1]. Việc xây dựng những quy định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng góp phần khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ xuyên biên giới trong lĩnh vực vũ trụ, giúp các nước đang phát triển, đã phát triển đều thấy an toàn khi lợi ích quốc gia của mình đều được đảm bảo trong quá trình tham gia vào hoạt động chuyển quyền sở hữu trong khoảng không vũ trụ.

2. Một số vấn đề pháp lý và thưc tiễn đặt ra liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình sử dụng khoảng không vũ trụ

Về mặt lý thuyết, đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan đến việc khai thác khoảng không vũ trụ có thể được chia thành: (1) Các đối tượng sở hữu trí tuệ thực hiện trên trái đất để ứng dụng trong vũ trụ; (2) Các đối tượng sở hữu trí tuệ thực hiện trên trái đất để ứng dụng trên trái đất với tư cách là kết quả của hoạt động vũ trụ (bao gồm cả viễn thông); (3) Các đối tượng sở hữu trí tuệ được thực hiện trong khoảng không vũ trụ để ứng dụng trên trái đất; (4) Các đối tượng sở hữu trí tuệ được thực hiện trong khoảng không vũ trụ để ứng dụng trong vũ trụ; (5) Các đối tượng sở hữu trí tuệ được cấp bằng trên trái đất để ứng dụng trong khoảng không vũ trụ và sử dụng trong khoảng không vũ trụ.

Có một số vấn đề đặt ra liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ cụ thể:

Thứ nhất, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo quan niệm truyền thống là mang tính chất lãnh thổ quốc gia. Tuy nhiên, có một nguyên tắc khác cần lưu ý là không một quốc gia nào có quyền tuyên bố chủ quyền trong khoảng không vũ trụ. Vậy cần có các quy định pháp luật quốc tế trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại để dung hòa hai nguyên tắc này.

Thứ hai, các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ quốc tế và quốc gia có được áp dụng để điều chỉnh vấn đề quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ?

Thứ ba, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho sáng chế thực hiện trong khoảng không vũ trụ sẽ tuân theo hệ thống pháp luật nào? Liệu rằng tuân theo pháp luật của quốc gia mà chủ sở hữu mang quốc tịch hay quốc gia nơi mà sáng chế đó được sử dụng hay quốc gia khai thác giá trị thương mại của sáng chế đó?. Theo dự đoán của một số chuyên gia vũ trụ thì các sáng chế được thực hiện trong khoảng không vũ trụ sẽ diễn ra mạnh mẽ trong thế kỷ 21. Hơn nữa, nếu chúng ta phân tích các loại sáng chế liên quan đến khoảng không vũ trụ được đề cập trong các nhóm (3) nhóm và nhóm (5) nêu trên, sẽ nhận ra rằng điểm chính của các loại này sẽ liên quan đến khía cạnh thẩm quyền tài phán. Do vấn đề quyền tài phán đối với các tranh chấp liên quan đến khoảng không vũ trụ, trong đó có cả tranh chấp sở hữu trí tuệ, chưa được quy định rõ ràng, nên sẽ gây ra khá nhiều vấn đề pháp lý cho cộng đồng quốc tế trong việc áp dụng pháp luật quốc gia và/hoặc lựa chọn hệ thống pháp luật áp dụng.

Trên thực tế, bằng sáng chế được cấp ở một quốc gia không có hiệu lực tại lãnh thổ quốc gia khác trừ trường hợp có điều ước quốc tế giữa các quốc gia quy định khác. Trong khi đó, theo quy định của Hiệp định vũ trụ năm 1967, khoảng không vũ trụ có thể được tự do sử dụng vì mục đích hòa bình mà không bị chiếm hữu bởi bất kỳ quốc gia nào.

Theo nguyên tắc chung của pháp luật vũ trụ quốc tế, một nước thành viên của Hiệp ước vũ trụ, có đăng ký của một vật thể vũ trụ phóng vào khoảng không vũ trụ thì được duy trì thẩm quyền và kiểm soát vật thể vũ trụ đó. Áp dụng pháp luật sáng chế quốc gia cho hoạt động trong khoảng không vũ trụ sẽ đặt ra câu hỏi pháp lý về vấn đề giới hạn lãnh thổ của quốc gia, ví dụ: Làm thế nào có thể đối phó với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ, hoặc điều kiện để trở thành một đối tượng có tính sáng tạo để được cấp bằng sáng chế trên một trạm vũ trụ?

Hoạt động thương mại trong khoảng không vũ trụ đang ngày càng gia tăng và Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế khai thác và hợp tác khai thác khoảng không vũ trụ. Gần đây, các tổ chức kinh tế của Việt Nam đã và đang tham gia vào “thị trường” viễn thông, thông tin liên lạc khai thác khoảng không vũ trụ - một “thị trường” nóng bỏng và đang phải chịu sự cạnh tranh vô hình từ các đối tác nước ngoài. Nếu Việt Nam chưa chuẩn bị các quy định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm công nghệ vũ trụ một cách rõ ràng thì sự bất lợi trước tiên sẽ dành cho các tổ chức kinh tế của Việt Nam được Nhà nước ủy quyền tham gia trong hoạt động hợp tác với các quốc gia trên thế giới cùng khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình. Hơn nữa, những quy phạm pháp luật sở hữu trí tuệ đó của Việt Nam còn cần phải được xây dựng phù hợp, tương thích với pháp luật quốc tế để đảm bảo sự hội nhập đối với nền công nghệ vũ trụ trên thế giới.

3. Một số đề xuất về việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật quốc tế và quốc gia nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình sử dụng khoảng không vũ trụ

3.1. Đối với pháp luật quốc tế

(i) Cần quy định rõ những đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ trong khoảng không vũ trụ

Như đã trình bày ở trên, quan niệm truyền thống về các đối tượng sở hữu trí tuệ bao gồm: Sáng chế, giải pháp hữu ích, tác phẩm khoa học, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp… Trong quá trình hoạt động trong khoảng không vũ trụ thì các đối tượng này cũng sẽ có thể phát sinh và là thành quả có thể được tạo ra của hoạt động vũ trụ. Vì vậy, trước hết khái niệm và phạm vi các đối tượng sở hữu trí tuệ truyền thống cũng nên được áp dụng trong lĩnh vực hoạt động vũ trụ. Tuy nhiên, nếu dừng lại ở những khái niệm đó thì các đối tượng sở hữu trí tuệ trong hoạt động vũ trụ vẫn chưa được xác định rõ bởi lẽ hoạt động vũ trụ vừa gắn với khoảng không vũ trụ vừa gắn với trái đất và các hành tinh khác. Vì vậy, cần phải bổ sung khái niệm các đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan đến hoạt động vũ trụ được bảo hộ, bao gồm: (1) Quyền sở hữu công nghiệp đối với: Sáng chế, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh; (2) Quyền tác giả và quyền liên quan: Tác phẩm khoa học, tác phẩm văn học, tác phẩm nghệ thuật, cuộc biễu diễn, bản ghi âm, bản ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa; (3) Quyền đối với giống cây trồng. Và đồng thời: (1) Được thực hiện trên trái đất để ứng dụng trong vũ trụ; (2) Được thực hiện trên trái đất để ứng dụng trên trái đất với tư cách là kết quả của hoạt động vũ trụ (bao gồm cả viễn thông); (3) Được thực hiện trong khoảng không vũ trụ để ứng dụng trên trái đất; (4) Được thực hiện trong khoảng không vũ trụ để ứng dụng trong vũ trụ; (5) Được cấp bằng trên trái đất để ứng dụng trong khoảng không vũ trụ và sử dụng trong khoảng không vũ trụ.

(ii) Luật điều chỉnh quyền sở hữu trong khoảng không vũ trụ là hệ thống luật nào?

Câu hỏi đặt ra là liệu nguyên tắc chủ quyền lãnh thổ trong luật sở hữu trí tuệ có cho phép mở rộng phạm vi áp dụng của luật quốc gia và khu vực đối với vật thể vũ trụ mà quốc gia đã đăng ký và phóng vào khoảng không vũ trụ. Sự khác nhau ở đây là giữa những hoạt động được tiến hành trong khoảng không vũ trụ và những hoạt động liên quan đến khoảng không vũ trụ được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia hoặc trên lãnh thổ của một vài quốc gia. Theo nguyên tắc chung về tính chất lãnh thổ của quyền sở hữu trí tuệ, việc thực hiện và thực thi quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến những sáng tạo trí tuệ được làm ra trên khoảng không vũ trụ nhưng được sử dụng tại một hoặc các lãnh thổ trên trái đất nói chung sẽ được điều chỉnh bởi luật sở hữu trí tuệ quốc gia (hoặc khu vực) tại quốc gia hoặc những quốc gia có liên quan. Vì vậy, cần phải áp dụng các quy định chung về sở hữu trí tuệ đối với các hoạt động được tiến hành trong khoảng không vũ trụ, không cần xem xét đến nơi sáng chế được tạo ra.

(iii) Giải thích điều 5 - Công ước Paris

Điều 5 - Công ước Paris quy định những giới hạn nhất định của quyền độc quyền sáng chế vì lợi ích công cộng trong việc đảm bảo quyền tự do vận chuyển. Về nguyên tắc, nếu tàu, tàu bay hoặc phương tiện đường bộ quá cảnh nước ngoài và có sáng chế trên tàu, thì bản quyền sáng chế sẽ không bắt buộc phải đăng ký tại quốc gia đó để tránh xâm phạm các sáng chế (học thuyết hiện diện nhất thời). Câu hỏi nảy sinh là liệu học thuyết hiện diện nhất thời này có được áp dụng cho tàu vũ trụ hay không? Điều 5 – Công ước Paris chỉ đề cập đến tàu biển, tàu bay hoặc phương tiện đường bộ nên tàu vũ trụ không phải là đối tượng điều chỉnh của quy định này. Do vậy những yếu tố hiện diện tạm thời của một trạm vũ trụ vì mục đích phóng hoặc trả về ở quốc gia nước ngoài sẽ không được tự động loại trừ khỏi việc xâm phạm sáng chế. Theo quan điểm này, khi có sự hợp tác quốc tế, nếu một chuyến bay hoặc tên lửa đẩy của quốc gia X được đăng ký ở quốc gia Y, tổ chức phóng của quốc gia X có thể xâm phạm đến sáng chế có hiệu lực tại quốc gia Y vì thực tế là quốc tịch của người phóng là quốc gia Y[2]. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn cần phải được khẳng định bằng các quy định pháp luật cụ thể trong quá trình hoàn thiện luật hàng không và luật vũ trụ quốc tế.

(iv) Các quốc gia trên thế giới cần hợp tác để ban hành một hoặc nhiều điều ước quốc tế riêng biệt về quyền sở hữu trí tuệ

Nhứng điều ước quốc tế này sẽ bao gồm các nội dung chính: (1) Những nguyên tắc cơ bản của việc sử dụng các sáng chế, giải pháp hữu ích, công trình khoa học… trong lĩnh vực sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình; (2) Điều kiện và quy trình đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp và bản quyền tác giả trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ phạm vi quốc tế; (3) Trách nhiệm của quốc gia đối với những vi phạm quyền sở hữu công nghiệp, bản quyền tác giả trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ.

(v) Cần bổ sung thêm những quy định riêng biệt về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, bản quyền tác giả trong hoạt động vũ trụ vào các điều ước quốc tế hiện hành

- Công ước Paris về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp năm 1883: Các quy định về bảo hộ quyền sở hữu độc quyền đối với kiểu dáng thiết kế tàu vũ trụ thương mại, vệ tinh, trạm vũ trụ…

- Hiệp định về khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) năm 1994: Các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động thương mại gắn liền với sử dụng khoảng không vũ trụ.

- Hiệp ước về hợp tác sáng chế (PCT) năm 1970: Các quy định về bảo hộ quyền độc quyền đối với các sáng chế trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ như: thang vũ trụ, tên lửa đẩy, hệ thống định vị toàn cầu…

4.3. Đối với pháp luật quốc gia

(i) Cần ban hành một tập hợp quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Mỗi quốc gia cần ban hành một tập hợp quy phạm pháp luật nằm trong ngành luật vũ trụ và ngành luật dân sự để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động vũ trụ (intellectual property rights in space activities). Tập hợp quy phạm pháp luật về quyền sở hữu trong hoạt động vũ trụ đó có thể dưới một trong các hình thức: (1) Một đạo luật riêng về quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ; (2) Một chương (chế định) trong luật sở hữu trí tuệ; (3) Một chương (chế định) trong bộ luật dân sự; (4) Một chương (chế định) trong luật vũ trụ; (5) Một chương (chế định) trong luật thương mại vũ trụ.

Tuy nhiên, cũng có thể kết hợp nhiều hình thức nêu trên để quy định về quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động vũ trụ, bao gồm: (1) Quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ được áp dụng theo các quy định pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu trí tuệ trên trái đất; (2) Những quy định riêng về quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ

(ii) Vấn đề thực thi luật sở hữu trí tuệ trong hoạt động khoảng không vũ trụ

Việc thực thi các quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến sáng tạo trí tuệ được thực hiện trong vũ trụ nhưng sử dụng tại một hoặc nhiều vùng lãnh thổ trên trái đất nhìn chung là được điều chỉnh bởi pháp luật quốc gia và khu vực có liên quan. Thừa nhận nguyên tắc lãnh thổ đối với một vật thể vũ trụ có nghĩa là vấn đề thẩm quyền cũng như vấn đề áp dụng luật đối với vật thể vũ trụ theo luật quốc gia về đăng ký vật thể vũ trụ. Với điều kiện quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm trong khoảng không vũ trụ được giải quyết giống như trường hợp việc xâm phạm xảy ra trong lãnh thổ của một quốc gia cụ thể. Trong tương lai có thể dự đoán, các hoạt động của nhân loại trong khoảng không vũ trụ sẽ bị hạn chế trong hoạt động của trạm không gian hoặc có liên quan đến trạm không gian. Vì vậy, mối quan tâm đầu tiên về việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ sẽ liên quan đến việc sản xuất và sử dụng của các sáng chế đã được cấp bằng cũng như sử dụng sản phẩm có bản quyền, như là phần mềm, trong khoảng không vũ trụ.

Để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia, cần quy định trong luật pháp của quốc gia về thẩm quyền của tòa án giải quyết tranh chấp có liên quan đến sở hữu trí tuệ, bao gồm các vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và hiệu lực của việc đăng ký quyền sở hữu trí tuệ. Nhìn chung, các vấn đề thẩm quyền, luật áp dụng và việc thực thi các phán quyết của cơ quan xét xử nước ngoài cần được tuân theo các quy định của pháp luật quốc gia về tư pháp quốc tế. Bởi vấn đề điều chỉnh sao cho hài hòa trong lĩnh vực này còn hạn chế nên nên vẫn còn sự kết hợp giữa tư pháp quốc tế và luật pháp quốc gia tồn tại song song, và việc giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ liên quan đến khoảng không vũ trụ có yếu tố nước ngoài vẫn đang cần phải thảo luận thêm.

(iii) Các quốc gia cần thể hiện sự hợp tác trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động vũ trụ bằng cách gia nhập các điều ước quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ cũng như về sử dụng khoảng không vũ trụ

Các điều ước cụ thể đó là: Công ước Paris về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp năm 1883; Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1886; Hiệp định về khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) năm 1994; Hiệp ước về hợp tác sáng chế (PCT) năm 1970; Hiệp ước về các quy tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong việc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm mặt trăng và các thiên thể khác năm 1967; Công ước về đăng ký các vật thể được phóng vào khoảng không vũ trụ năm 1975.

ThS.LS. Đỗ Minh Ánh

Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: