Thứ tư 18/03/2026 08:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ

Quyền sở hữu trí tuệ từ thế kỷ trước đã được ghi nhận và bảo hộ bởi pháp luật quốc tế cũng như hệ thống pháp luật của hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế nói chung và trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại nói riêng.

Điều 11 - mục H - Nguyên tắc chung điều chỉnh việc sử dụng vệ tinh nhân tạo của các quốc gia để truyền hình trực tiếp quốc tế được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua tại Nghị quyết số 37/92 ngày 10/12/1982 quy định: “Quyền tác giả và quyền kề cận: Không ảnh hưởng đến quy định liên quan của pháp luật quốc tế, các Quốc gia hợp tác song phương và đa phương để bảo vệ quyền tác giả và quyền kề cận bằng những hiệp định phù hợp cho quyền lợi của các quốc gia hoặc các tổ chức trong phạm vi thẩm quyền của mình. Trong sự hợp tác đó họ phải quan tâm đặc biệt đến lợi ích của nước đang phát triển trong việc sử dụng phát sóng truyền hình trực tiếp nhằm thúc đẩy sự phát triển quốc gia đó.”

1. Tầm quan trọng của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ

Trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại, có rất nhiều đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (sản phẩm trí tuệ) được tạo ra như: Các chương trình mang phát sóng mang tín hiệu vệ tinh, các bí mật thương mại, các sáng chế (tên lửa, tàu vũ trụ, vệ tinh và vật thể vũ trụ khác), các hình ảnh chụp được của vệ tinh… Tất cả các sản phẩm trí tuệ đó đều cần được bảo vệ vì đó là những lợi ích thương mại của các chủ sở hữu và các quốc gia, các tổ chức kinh tế khi tham gia khai thác khoảng không vũ trụ.

Việc thiết lập một chế độ pháp lý hiệu quả để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ là vấn đề thực sự quan trọng. Nếu thiếu cơ sở pháp lý sẽ ảnh hưởng đến sự tiến bộ của việc nghiên cứu khoảng không vũ trụ và sự hợp tác quốc tế về vũ trụ. Việc hạn chế độc quyền nhờ vào bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ mang đến một lợi ích cạnh tranh cho những chủ sở hữu quyền bằng việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng hoặc ngăn chặn đối phương sử dụng công nghệ[1]. Việc xây dựng những quy định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng góp phần khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ xuyên biên giới trong lĩnh vực vũ trụ, giúp các nước đang phát triển, đã phát triển đều thấy an toàn khi lợi ích quốc gia của mình đều được đảm bảo trong quá trình tham gia vào hoạt động chuyển quyền sở hữu trong khoảng không vũ trụ.

2. Một số vấn đề pháp lý và thưc tiễn đặt ra liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình sử dụng khoảng không vũ trụ

Về mặt lý thuyết, đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan đến việc khai thác khoảng không vũ trụ có thể được chia thành: (1) Các đối tượng sở hữu trí tuệ thực hiện trên trái đất để ứng dụng trong vũ trụ; (2) Các đối tượng sở hữu trí tuệ thực hiện trên trái đất để ứng dụng trên trái đất với tư cách là kết quả của hoạt động vũ trụ (bao gồm cả viễn thông); (3) Các đối tượng sở hữu trí tuệ được thực hiện trong khoảng không vũ trụ để ứng dụng trên trái đất; (4) Các đối tượng sở hữu trí tuệ được thực hiện trong khoảng không vũ trụ để ứng dụng trong vũ trụ; (5) Các đối tượng sở hữu trí tuệ được cấp bằng trên trái đất để ứng dụng trong khoảng không vũ trụ và sử dụng trong khoảng không vũ trụ.

Có một số vấn đề đặt ra liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ cụ thể:

Thứ nhất, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo quan niệm truyền thống là mang tính chất lãnh thổ quốc gia. Tuy nhiên, có một nguyên tắc khác cần lưu ý là không một quốc gia nào có quyền tuyên bố chủ quyền trong khoảng không vũ trụ. Vậy cần có các quy định pháp luật quốc tế trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại để dung hòa hai nguyên tắc này.

Thứ hai, các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ quốc tế và quốc gia có được áp dụng để điều chỉnh vấn đề quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ?

Thứ ba, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho sáng chế thực hiện trong khoảng không vũ trụ sẽ tuân theo hệ thống pháp luật nào? Liệu rằng tuân theo pháp luật của quốc gia mà chủ sở hữu mang quốc tịch hay quốc gia nơi mà sáng chế đó được sử dụng hay quốc gia khai thác giá trị thương mại của sáng chế đó?. Theo dự đoán của một số chuyên gia vũ trụ thì các sáng chế được thực hiện trong khoảng không vũ trụ sẽ diễn ra mạnh mẽ trong thế kỷ 21. Hơn nữa, nếu chúng ta phân tích các loại sáng chế liên quan đến khoảng không vũ trụ được đề cập trong các nhóm (3) nhóm và nhóm (5) nêu trên, sẽ nhận ra rằng điểm chính của các loại này sẽ liên quan đến khía cạnh thẩm quyền tài phán. Do vấn đề quyền tài phán đối với các tranh chấp liên quan đến khoảng không vũ trụ, trong đó có cả tranh chấp sở hữu trí tuệ, chưa được quy định rõ ràng, nên sẽ gây ra khá nhiều vấn đề pháp lý cho cộng đồng quốc tế trong việc áp dụng pháp luật quốc gia và/hoặc lựa chọn hệ thống pháp luật áp dụng.

Trên thực tế, bằng sáng chế được cấp ở một quốc gia không có hiệu lực tại lãnh thổ quốc gia khác trừ trường hợp có điều ước quốc tế giữa các quốc gia quy định khác. Trong khi đó, theo quy định của Hiệp định vũ trụ năm 1967, khoảng không vũ trụ có thể được tự do sử dụng vì mục đích hòa bình mà không bị chiếm hữu bởi bất kỳ quốc gia nào.

Theo nguyên tắc chung của pháp luật vũ trụ quốc tế, một nước thành viên của Hiệp ước vũ trụ, có đăng ký của một vật thể vũ trụ phóng vào khoảng không vũ trụ thì được duy trì thẩm quyền và kiểm soát vật thể vũ trụ đó. Áp dụng pháp luật sáng chế quốc gia cho hoạt động trong khoảng không vũ trụ sẽ đặt ra câu hỏi pháp lý về vấn đề giới hạn lãnh thổ của quốc gia, ví dụ: Làm thế nào có thể đối phó với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ, hoặc điều kiện để trở thành một đối tượng có tính sáng tạo để được cấp bằng sáng chế trên một trạm vũ trụ?

Hoạt động thương mại trong khoảng không vũ trụ đang ngày càng gia tăng và Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế khai thác và hợp tác khai thác khoảng không vũ trụ. Gần đây, các tổ chức kinh tế của Việt Nam đã và đang tham gia vào “thị trường” viễn thông, thông tin liên lạc khai thác khoảng không vũ trụ - một “thị trường” nóng bỏng và đang phải chịu sự cạnh tranh vô hình từ các đối tác nước ngoài. Nếu Việt Nam chưa chuẩn bị các quy định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm công nghệ vũ trụ một cách rõ ràng thì sự bất lợi trước tiên sẽ dành cho các tổ chức kinh tế của Việt Nam được Nhà nước ủy quyền tham gia trong hoạt động hợp tác với các quốc gia trên thế giới cùng khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình. Hơn nữa, những quy phạm pháp luật sở hữu trí tuệ đó của Việt Nam còn cần phải được xây dựng phù hợp, tương thích với pháp luật quốc tế để đảm bảo sự hội nhập đối với nền công nghệ vũ trụ trên thế giới.

3. Một số đề xuất về việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật quốc tế và quốc gia nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình sử dụng khoảng không vũ trụ

3.1. Đối với pháp luật quốc tế

(i) Cần quy định rõ những đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ trong khoảng không vũ trụ

Như đã trình bày ở trên, quan niệm truyền thống về các đối tượng sở hữu trí tuệ bao gồm: Sáng chế, giải pháp hữu ích, tác phẩm khoa học, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp… Trong quá trình hoạt động trong khoảng không vũ trụ thì các đối tượng này cũng sẽ có thể phát sinh và là thành quả có thể được tạo ra của hoạt động vũ trụ. Vì vậy, trước hết khái niệm và phạm vi các đối tượng sở hữu trí tuệ truyền thống cũng nên được áp dụng trong lĩnh vực hoạt động vũ trụ. Tuy nhiên, nếu dừng lại ở những khái niệm đó thì các đối tượng sở hữu trí tuệ trong hoạt động vũ trụ vẫn chưa được xác định rõ bởi lẽ hoạt động vũ trụ vừa gắn với khoảng không vũ trụ vừa gắn với trái đất và các hành tinh khác. Vì vậy, cần phải bổ sung khái niệm các đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan đến hoạt động vũ trụ được bảo hộ, bao gồm: (1) Quyền sở hữu công nghiệp đối với: Sáng chế, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lí, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh; (2) Quyền tác giả và quyền liên quan: Tác phẩm khoa học, tác phẩm văn học, tác phẩm nghệ thuật, cuộc biễu diễn, bản ghi âm, bản ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa; (3) Quyền đối với giống cây trồng. Và đồng thời: (1) Được thực hiện trên trái đất để ứng dụng trong vũ trụ; (2) Được thực hiện trên trái đất để ứng dụng trên trái đất với tư cách là kết quả của hoạt động vũ trụ (bao gồm cả viễn thông); (3) Được thực hiện trong khoảng không vũ trụ để ứng dụng trên trái đất; (4) Được thực hiện trong khoảng không vũ trụ để ứng dụng trong vũ trụ; (5) Được cấp bằng trên trái đất để ứng dụng trong khoảng không vũ trụ và sử dụng trong khoảng không vũ trụ.

(ii) Luật điều chỉnh quyền sở hữu trong khoảng không vũ trụ là hệ thống luật nào?

Câu hỏi đặt ra là liệu nguyên tắc chủ quyền lãnh thổ trong luật sở hữu trí tuệ có cho phép mở rộng phạm vi áp dụng của luật quốc gia và khu vực đối với vật thể vũ trụ mà quốc gia đã đăng ký và phóng vào khoảng không vũ trụ. Sự khác nhau ở đây là giữa những hoạt động được tiến hành trong khoảng không vũ trụ và những hoạt động liên quan đến khoảng không vũ trụ được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia hoặc trên lãnh thổ của một vài quốc gia. Theo nguyên tắc chung về tính chất lãnh thổ của quyền sở hữu trí tuệ, việc thực hiện và thực thi quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến những sáng tạo trí tuệ được làm ra trên khoảng không vũ trụ nhưng được sử dụng tại một hoặc các lãnh thổ trên trái đất nói chung sẽ được điều chỉnh bởi luật sở hữu trí tuệ quốc gia (hoặc khu vực) tại quốc gia hoặc những quốc gia có liên quan. Vì vậy, cần phải áp dụng các quy định chung về sở hữu trí tuệ đối với các hoạt động được tiến hành trong khoảng không vũ trụ, không cần xem xét đến nơi sáng chế được tạo ra.

(iii) Giải thích điều 5 - Công ước Paris

Điều 5 - Công ước Paris quy định những giới hạn nhất định của quyền độc quyền sáng chế vì lợi ích công cộng trong việc đảm bảo quyền tự do vận chuyển. Về nguyên tắc, nếu tàu, tàu bay hoặc phương tiện đường bộ quá cảnh nước ngoài và có sáng chế trên tàu, thì bản quyền sáng chế sẽ không bắt buộc phải đăng ký tại quốc gia đó để tránh xâm phạm các sáng chế (học thuyết hiện diện nhất thời). Câu hỏi nảy sinh là liệu học thuyết hiện diện nhất thời này có được áp dụng cho tàu vũ trụ hay không? Điều 5 – Công ước Paris chỉ đề cập đến tàu biển, tàu bay hoặc phương tiện đường bộ nên tàu vũ trụ không phải là đối tượng điều chỉnh của quy định này. Do vậy những yếu tố hiện diện tạm thời của một trạm vũ trụ vì mục đích phóng hoặc trả về ở quốc gia nước ngoài sẽ không được tự động loại trừ khỏi việc xâm phạm sáng chế. Theo quan điểm này, khi có sự hợp tác quốc tế, nếu một chuyến bay hoặc tên lửa đẩy của quốc gia X được đăng ký ở quốc gia Y, tổ chức phóng của quốc gia X có thể xâm phạm đến sáng chế có hiệu lực tại quốc gia Y vì thực tế là quốc tịch của người phóng là quốc gia Y[2]. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn cần phải được khẳng định bằng các quy định pháp luật cụ thể trong quá trình hoàn thiện luật hàng không và luật vũ trụ quốc tế.

(iv) Các quốc gia trên thế giới cần hợp tác để ban hành một hoặc nhiều điều ước quốc tế riêng biệt về quyền sở hữu trí tuệ

Nhứng điều ước quốc tế này sẽ bao gồm các nội dung chính: (1) Những nguyên tắc cơ bản của việc sử dụng các sáng chế, giải pháp hữu ích, công trình khoa học… trong lĩnh vực sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình; (2) Điều kiện và quy trình đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp và bản quyền tác giả trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ phạm vi quốc tế; (3) Trách nhiệm của quốc gia đối với những vi phạm quyền sở hữu công nghiệp, bản quyền tác giả trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ.

(v) Cần bổ sung thêm những quy định riêng biệt về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, bản quyền tác giả trong hoạt động vũ trụ vào các điều ước quốc tế hiện hành

- Công ước Paris về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp năm 1883: Các quy định về bảo hộ quyền sở hữu độc quyền đối với kiểu dáng thiết kế tàu vũ trụ thương mại, vệ tinh, trạm vũ trụ…

- Hiệp định về khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) năm 1994: Các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động thương mại gắn liền với sử dụng khoảng không vũ trụ.

- Hiệp ước về hợp tác sáng chế (PCT) năm 1970: Các quy định về bảo hộ quyền độc quyền đối với các sáng chế trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ như: thang vũ trụ, tên lửa đẩy, hệ thống định vị toàn cầu…

4.3. Đối với pháp luật quốc gia

(i) Cần ban hành một tập hợp quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Mỗi quốc gia cần ban hành một tập hợp quy phạm pháp luật nằm trong ngành luật vũ trụ và ngành luật dân sự để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động vũ trụ (intellectual property rights in space activities). Tập hợp quy phạm pháp luật về quyền sở hữu trong hoạt động vũ trụ đó có thể dưới một trong các hình thức: (1) Một đạo luật riêng về quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ; (2) Một chương (chế định) trong luật sở hữu trí tuệ; (3) Một chương (chế định) trong bộ luật dân sự; (4) Một chương (chế định) trong luật vũ trụ; (5) Một chương (chế định) trong luật thương mại vũ trụ.

Tuy nhiên, cũng có thể kết hợp nhiều hình thức nêu trên để quy định về quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động vũ trụ, bao gồm: (1) Quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ được áp dụng theo các quy định pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu trí tuệ trên trái đất; (2) Những quy định riêng về quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ

(ii) Vấn đề thực thi luật sở hữu trí tuệ trong hoạt động khoảng không vũ trụ

Việc thực thi các quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến sáng tạo trí tuệ được thực hiện trong vũ trụ nhưng sử dụng tại một hoặc nhiều vùng lãnh thổ trên trái đất nhìn chung là được điều chỉnh bởi pháp luật quốc gia và khu vực có liên quan. Thừa nhận nguyên tắc lãnh thổ đối với một vật thể vũ trụ có nghĩa là vấn đề thẩm quyền cũng như vấn đề áp dụng luật đối với vật thể vũ trụ theo luật quốc gia về đăng ký vật thể vũ trụ. Với điều kiện quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm trong khoảng không vũ trụ được giải quyết giống như trường hợp việc xâm phạm xảy ra trong lãnh thổ của một quốc gia cụ thể. Trong tương lai có thể dự đoán, các hoạt động của nhân loại trong khoảng không vũ trụ sẽ bị hạn chế trong hoạt động của trạm không gian hoặc có liên quan đến trạm không gian. Vì vậy, mối quan tâm đầu tiên về việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong khoảng không vũ trụ sẽ liên quan đến việc sản xuất và sử dụng của các sáng chế đã được cấp bằng cũng như sử dụng sản phẩm có bản quyền, như là phần mềm, trong khoảng không vũ trụ.

Để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia, cần quy định trong luật pháp của quốc gia về thẩm quyền của tòa án giải quyết tranh chấp có liên quan đến sở hữu trí tuệ, bao gồm các vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và hiệu lực của việc đăng ký quyền sở hữu trí tuệ. Nhìn chung, các vấn đề thẩm quyền, luật áp dụng và việc thực thi các phán quyết của cơ quan xét xử nước ngoài cần được tuân theo các quy định của pháp luật quốc gia về tư pháp quốc tế. Bởi vấn đề điều chỉnh sao cho hài hòa trong lĩnh vực này còn hạn chế nên nên vẫn còn sự kết hợp giữa tư pháp quốc tế và luật pháp quốc gia tồn tại song song, và việc giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ liên quan đến khoảng không vũ trụ có yếu tố nước ngoài vẫn đang cần phải thảo luận thêm.

(iii) Các quốc gia cần thể hiện sự hợp tác trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động vũ trụ bằng cách gia nhập các điều ước quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ cũng như về sử dụng khoảng không vũ trụ

Các điều ước cụ thể đó là: Công ước Paris về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp năm 1883; Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1886; Hiệp định về khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) năm 1994; Hiệp ước về hợp tác sáng chế (PCT) năm 1970; Hiệp ước về các quy tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong việc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm mặt trăng và các thiên thể khác năm 1967; Công ước về đăng ký các vật thể được phóng vào khoảng không vũ trụ năm 1975.

ThS.LS. Đỗ Minh Ánh

Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: