Thứ năm 22/01/2026 18:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

Tóm tắt: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một trong những chủ đề quan trọng trong khuôn khổ đàm phán các hiệp định thương mại tự do trong thời gian gần đây, đặc biệt là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Là một trong những Hiệp định thương mại thế hệ mới được ký kết giữa 12 quốc gia, trong đó có những quốc gia phát triển ở trình độ cao, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương đã đưa ra những tiêu chuẩn bảo hộ khá cao, trong đó, đặc biệt liên quan đến bảo hộ và thực thi quyền tác giả trong môi trường số và internet. Bài viết này so sánh các quy định về bảo hộ quyền tác giả trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương và pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành, qua đó phân tích những thách thức đối với việc bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam.

Abstract: Protection of Intellectual Property Rights is one of the important topics in the framework of the recent negotiations of free trade agreements, especially the Trans-Pacific Partnership (TPP). As one of the new generation trade agreements signed by 12 countries, including highly developed countries, the Trans-Pacific Partnership provides high standards of protection, particularly regarding the protection and enforcement of copyright in the digital environment and the internet. The article makes comparisons with respect to provisions on copyright protection in the Trans-Pacific Partnership and intellectual property law in Vietnam, and through which the author analyzes challenges for copyright protection in Viet Nam.

1. Các hiệp ước về bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường internet của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới

Trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan, Điều 18.7 Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) yêu cầu các thành viên phải phê chuẩn hoặc gia nhập Hiệp ước của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) về quyền tác giả (The WIPO Copyright Treaty - WCT năm 1996) và Hiệp ước của WIPO về cuộc biểu diễn, bản ghi âm (The WIPO Performances and Phonograms Treaty - WPPT). Đây là hai điều ước quốc tế đa phương nhằm cập nhật sự phát triển của lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan do tác động của internet. Mặc dù, Việt Nam chưa tham gia hai điều ước này, nhưng trong thời gian qua, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng đã dự liệu và có những sửa đổi thích hợp. Cụ thể, để đáp ứng yêu cầu bảo hộ quyền tác giả trong thời đại kỹ thuật số, khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 đã giải thích hành vi sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả bản sao dưới hình thức điện tử. Với quy định này, hành vi sao chép tác phẩm được hiểu không chỉ là việc tạo ra bản sao dưới hình thức vật chất hữu hình, mà nó còn thể hiện dưới hình thức điện tử.

Điều 23 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan (Nghị định số 100/2006/NĐ-CP) cũng có những quy định sửa đổi liên quan đến việc biểu diễn, sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm để phù hợp với việc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường internet.

2. Mối quan hệ giữa quyền của tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm

Điều 18.58, Điều 18.59, Điều 18.60 TPP nhấn mạnh độc quyền của tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm đối với việc cho phép hoặc cấm sao chép, truyền đạt, phân phối tác phẩm, cuộc biểu diễn và bản ghi âm của mình. Theo Điều 18.61 TPP thì trường hợp sử dụng tác phẩm có trong bản ghi âm cần phải được sự cho phép của cả tác giả, người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm. Điều đó có nghĩa là quyền của các chủ thể này liên quan đến bản ghi âm là ngang nhau, không ai được ưu tiên hơn ai.

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 của Việt Nam chỉ ghi nhận các quyền độc lập của tác giả (Điều 20), người biểu diễn (Điều 29), nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình (Điều 30). Vì vậy, có thể dẫn đến cách hiểu là khi một chủ thể sử dụng bản ghi âm thì chỉ cần sự cho phép của nhà sản xuất bản ghi âm, không phải xin phép người biểu diễn hay tác giả. Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình để phát sóng; sử dụng bản ghi âm, ghi hình trong hoạt động kinh doanh, thương mại thì không phải xin phép nhưng phải trả nhuận bút, thù lao theo thỏa thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng đối với những chủ thể thường xuyên sử dụng bản ghi âm, ghi hình trong hoạt động kinh doanh của họ, không áp dụng đối với những trường hợp sử dụng khác.

Điều 26 và Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm, quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao. Đây là ngoại lệ dành riêng cho những trường hợp mà do đặc thù của lĩnh vực hoạt động, những chủ thể này thường xuyên sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình để phục vụ nhu cầu giải trí của công chúng như: Các tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm, bản ghi để phát sóng; các chủ thể sử dụng bản ghi âm trong hoạt động kinh doanh, thương mại như vũ trường, nhà hàng, khách sạn, quán karaoke, các trang web nhạc... Để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể này trong quá trình sử dụng tác phẩm, quyền liên quan, pháp luật quy định họ không phải xin phép tác giả, chủ thể của quyền liên quan nhưng vẫn phải trả nhuận bút, thù lao khi sử dụng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về những quy định của Điều 33. Cụ thể, theo Điều 33 thì tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong các trường hợp: (i) Nhằm mục đích thương mại để phát sóng; (ii) Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại thì không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thỏa thuận cho “tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng”. Vấn đề khúc mắc ở đây là người sử dụng sẽ phải trả tiền cho tất cả các chủ thể được liệt kê ở đây hay chỉ một hoặc một số chủ thể?

Theo pháp luật sở hữu trí tuệ, thì có hai loại tác giả: (i) Tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả sẽ có tất cả các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm; (ii) Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả chỉ được hưởng các quyền nhân thân tuyệt đối như quyền đặt tên, đứng tên, bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm. Tương tự như vậy, theo Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, có hai loại người biểu diễn: (i) Người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư sẽ là chủ sở hữu cuộc biểu diễn và có các quyền nhân thân và tài sản đối với cuộc biểu diễn; (ii) Người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư thì chỉ có các quyền nhân thân đối với cuộc biểu diễn, còn chủ đầu tư có các quyền tài sản. Nếu theo Điều 29 thì trong trường hợp người biểu diễn không phải là chủ đầu tư thực hiện cuộc biểu diễn thì họ chỉ có các quyền nhân thân đối với cuộc biểu diễn. Chủ đầu tư sẽ có các quyền tài sản, trong đó có quyền định hình, sao chép phát sóng bản ghi cuộc biểu diễn. Tuy nhiên, nếu theo quy định của Điều 33 thì cả người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi đều được trả thù lao khi bản ghi được phát sóng hoặc được sử dụng trong hoạt động kinh doanh, thương mại. Quy định chồng chéo và mâu thuẫn trong Điều 29 và Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ hiện nay gây ra nhiều tranh luận cũng như tranh chấp trên thực tế. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng cần bổ sung quy định làm rõ mối quan hệ giữa quyền của tác giả với người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm như quy định của Điều 18.61 TPP.

3. Các giới hạn và ngoại lệ trong bảo hộ quyền tác giả

Điều 18.66 TPP nhấn mạnh các bên phải nỗ lực để đạt được sự cân bằng thích hợp, “bao gồm cả những giới hạn và ngoại lệ trong môi trường số, xem xét cẩn trọng các mục đích hợp pháp như: Phê bình, bình luận, đưa tin, giảng dạy, học tập, nghiên cứu, và các mục đích tương tự khác”. So với các trường hợp giới hạn quyền tác giả (Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ) và các trường hợp giới hạn quyền liên quan (Điều 32 Luật Sở hữu trí tuệ), có thể nhận thấy pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện nay chỉ cho phép sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình dưới hình thức “tự sao chép một bản” nhằm mục đích “nghiên cứu khoa học của cá nhân”; “để giảng dạy” mà không đề cập tới trường hợp sao chép nhằm mục đích “học tập”.

Quy định này có thể hiểu là pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam không thừa nhận sao chép nhằm mục đích học tập thuộc trường hợp giới hạn quyền tác giả. Cách tiếp cận này có cơ sở với giả thiết nếu học sinh, sinh viên được tự do sao chép mỗi người một bản sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu… để phục vụ cho việc học tập thì sách in sẽ không bán được (vì giá thành photocopy tác phẩm chắc chắn sẽ rẻ hơn mua sách in) và điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ sở hữu tác phẩm trong việc khai thác tác phẩm.

Tuy nhiên, nếu cấm tuyệt đối việc sao chép tác phẩm với mục đích học tập sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu chính đáng của công chúng trong việc tiếp cận tri thức nhân loại, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam là nước đang phát triển với thu nhập bình quân của người dân còn thấp. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện nay cũng chưa đề cập tới vấn đề khối lượng sao chép được phép (sao chép toàn bộ hay chỉ một phần tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình).

Điều 18.66 TPP dành quyền chủ động cho các thành viên trong việc quy định những giới hạn và ngoại lệ cho trường hợp sử dụng tác phẩm với những mục đích hợp pháp, phi thương mại, bao gồm cả trường hợp sử dụng với mục đích học tập. Vì vậy, để phù hợp với quy định của TPP cũng như cân bằng trong bảo vệ quyền lợi của tác giả cũng như công chúng trong việc tiếp cận tác phẩm, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cần bổ sung trường hợp giới hạn quyền tác giả liên quan đến việc sử dụng tác phẩm với mục đích học tập, trong đó quy định cụ thể khối lượng cho phép của việc sao chép hay trích dẫn tác phẩm. Đồng thời, đối với việc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường số, pháp luật Việt Nam cũng cần có những quy định hướng dẫn cụ thể hơn về quyền sao chép, giới hạn của quyền sao chép trong môi trường số.

4. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan và mở rộng phạm vi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đến các biện pháp công nghệ bảo vệ quyền

So với pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành, Điều 18.63 TPP kéo dài thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm (trên cơ sở đời người) là suốt cuộc đời tác giả và 70 năm sau khi tác giả chết, trong khi Công ước Berne cũng như pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định thời hạn bảo hộ trong các trường hợp này là 50 năm sau khi tác giả chết[1].

Một điểm rất quan trọng trong Chương Sở hữu trí tuệ là TPP yêu cầu các quốc gia thành viên không chỉ bảo hộ các quyền liên quan đến tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi mà cả đối với những biện pháp công nghệ mà tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi sử dụng để bảo vệ quyền của mình.

Điều 18.68 TPP yêu cầu các thành viên có các biện pháp chế tài pháp lý hiệu quả (bao gồm cả các biện pháp xử lý hình sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại) đối với những chủ thể có hành vi: (i) Làm vô hiệu hóa các biện pháp công nghệ mà chủ thể quyền sử dụng để kiểm soát việc truy cập tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm của họ; (ii) Sản xuất, nhập khẩu, phân phối, chào bán, cho thuê, cung cấp thiết bị, sản phẩm, linh kiện… để vô hiệu hóa các biện pháp bảo vệ của chủ thể quyền. Điều 18.69 TPP quy định các chế tài pháp lý nhằm bảo hộ thông tin quản lý quyền, bao gồm những hành vi gỡ bỏ hoặc làm thay đổi thông tin quản lý quyền… Với những quy định này của TPP, hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đã được mở rộng, không chỉ giới hạn ở hành vi xâm phạm quyền mà thậm chí đối với những hành vi xâm phạm công nghệ bảo vệ tác phẩm, hoặc xâm phạm vào các thông tin quản lý quyền.

5. Yêu cầu trong thực thi quyền tác giả, quyền liên quan

Các nguyên tắc chung đối với thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong Điều 18.71 TPP kế thừa các quy định của Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPs), theo đó yêu cầu các thành viên phải bảo đảm các thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ được áp dụng theo cách thức tránh không tạo ra các rào cản cho hoạt động thương mại hợp pháp và bảo đảm chống lại việc lạm dụng; bảo đảm các thủ tục thực thi được tiến hành một cách công bằng, vô tư, không gây ra sự phức tạp hay tốn kém không cần thiết, không được đưa ra những giới hạn bất hợp lý về thời gian hay trì hoãn tùy tiện; không áp đặt nghĩa vụ cho các thành viên trong việc thiết lập hệ thống cơ quan xét xử, thực thi quyền sở hữu trí tuệ khác với hệ thống cơ quan xét xử, thực thi luật chung, theo đó dành cho các quốc gia thành viên quyền lựa chọn mô hình hay cơ quan thực thi phù hợp.

Điều 18.73 TPP nhấn mạnh nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng khi yêu cầu các quyết định tư pháp cuối cùng và các quyết định hành chính có hiệu lực phải “được thực hiện bằng văn bản và nêu rõ lý do được gửi tới các bên liên quan”. So với quy định của Điều 41.3 Hiệp định TRIPs, việc thực thi quyền tác giả, quyền liên quan trong TPP đã nâng cao hơn khi yêu cầu các văn bản này phải được công bố hoặc đăng tải dưới hình thức khác (trên internet) để công chúng có thể tiếp cận được quyết định đó. Đây là yêu cầu nhằm bảo đảm nguyên tắc “công khai, minh bạch” được trú trọng trong TPP, nhưng cũng chính là điểm yếu trong khâu thực thi tại Việt Nam.

Một điểm mới của TPP là dành một “quy tắc tố tụng” riêng đối với nhãn hiệu, quyền tác giả và quyền liên quan. Để tạo thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp và xử lý xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, Điều 18.72 TPP đưa ra nguyên tắc giả định để suy đoán về quyền, theo đó người có tên trên tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi được suy đoán là chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan.

6. Các chế tài xử lý hành vi vi phạm

6.1. Chế tài dân sự

- Về bồi thường thiệt hại, khoản 3 và khoản 4 TPP quy định về cách xác định thiệt hại về cơ bản là dựa trên quy định của Hiệp định TRIPs, nhằm bồi thường thỏa đáng cho chủ thể quyền. Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng đã đáp ứng yêu cầu này khi đưa ra cách xác định mức thiệt hại rất linh hoạt để bảo đảm tối ưu quyền được bồi thường của bên bị xâm phạm, cụ thể: Có thể căn cứ vào thu nhập bị giảm sút của nguyên đơn; hoặc lợi nhuận mà bị đơn thu được; hoặc giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ giả định; hoặc do Tòa án ấn định tùy thuộc vào mức độ thiệt hại. So với quy định của Hiệp định TRIPs và Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, thì TPP đưa ra một vấn đề mới trong xác định khoản bồi thường là “dựa trên giá thị trường” của hàng thật hoặc “theo giá bán lẻ được đề xuất” của chủ thể quyền. Đây là đề xuất nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của bên bị xâm phạm. TPP cũng nhấn mạnh yêu cầu liên quan đến bồi thường thiệt hại do các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, theo đó các thành viên “phải thiết lập hoặc duy trì một hệ thống quy định các khoản bồi thường để chủ thể quyền có thể lựa chọn” và “các khoản bồi thường thiệt hại bổ sung” đủ để bảo đảm “bù đắp cho chủ thể quyền những thiệt hại gây ra bởi hành vi xâm phạm và với mục tiêu răn đe những hành vi xâm phạm trong tương lai” (khoản 6, 7, 8 Điều 18.74);

- Về thực thi chế tài dân sự trong môi trường số, khoản 17 Điều 18.74 nhấn mạnh các chế tài dân sự như thu giữ, buộc bồi thường thiệt hại, buộc trả chi phí Tòa án và các chi phí khác, buộc tiêu hủy thiết bị và sản phẩm liên quan đến hành vi xâm phạm được áp dụng đối với những hành vi vô hiệu hóa các biện pháp công nghệ bảo vệ quyền (TPM) và xâm phạm thông tin quản lý quyền (RMI). So với các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trước đây, vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong TPP được tăng cường ở mức độ rất cao, đặc biệt đối với các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số.

6.2.Chế tài hình sự

- Về hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan bị truy cứu trách nhiệm hình sự, so với chuẩn mực của Hiệp định TRIPs và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) mà Việt Nam đã tham gia, yêu cầu xử lý hình sự trong TPP đã vượt xa khi quy định bổ sung một loạt các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, cụ thể: Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm đến bảo hộ tín hiệu cáp và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa; hành vi sao chép trái phép các tác phẩm điện ảnh từ buổi chiếu phim trong rạp…;

- Về yếu tố cấu thành tội phạm, theo Điều 61 Hiệp định TRIPs và Điều 170a Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi năm 2009), hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với lỗi cố ý và với quy mô thương mại. So với quy định của Hiệp định TRIPs hay Bộ luật Hình sự Việt Nam, quy định của TPP đã hạ thấp yếu tố cấu thành tội phạm đối với các tội danh xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, theo đó hành vi xâm phạm đủ yếu tố cấu thành tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự khi chỉ cần có một trong hai yếu tố: (i) Nhằm đạt lợi thế thương mại hoặc thu lợi bất chính; (ii) Hành vi dù không nhằm đạt lợi thế thương mại hoặc thu lợi tài chính nhưng gây hại một cách đáng kể tới lợi ích của chủ thể quyền trên thị trường (khoản 1 Điều 18.77).

Cho đến thời điểm hiện nay, các quốc gia tham gia TPP bao gồm cả Việt Nam đang trong quy trình xem xét để phê chuẩn thông qua các nội dung của TPP và TPP chỉ chính thức có hiệu lực với các nước phê chuẩn. Đối với Việt Nam - là nước chịu nhiều tác động do các yêu cầu rất cao trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của TPP, thì được dành cho một thời gian chuyển tiếp (tính từ thời điểm TPP có hiệu lực), cụ thể, những cam kết về việc gia nhập các Công ước về sở hữu trí tuệ (đối với Việt Nam là WCT và WPPT) và yêu cầu về sửa đổi hệ thống pháp luật liên quan đến bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan (bao gồm cả trong môi trường số), các yêu cầu liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ… thời hạn tối đa là 03 năm - một thời hạn quá ngắn và gấp rút cho việc sửa đổi pháp luật. Như vậy, Việt Nam đang đứng trước những thách thức không nhỏ trong việc hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung, pháp luật bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng, cũng như cơ chế vận hành, thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Ths. Nguyễn Huy Hoàng

Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Khoản 1 Điều 7 Công ước Berne, Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: