Thứ bảy 27/06/2026 23:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo hộ quyền tác giả trong xu thế hội nhập quốc tế

Thời gian qua, Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, thể hiện ở việc chúng ta đã tham gia ký kết nhiều điều ước song phương và đa phương. Điều này mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức, đòi hỏi chúng ta không ngừng hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật, trong đó có lĩnh vực sở hữu trí tuệ.


Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của chủ thể đầu tư sáng tạo ra hoặc sở hữu, bao gồm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng. Trong đó, việc bảo hộ quyền tác giả là một trong những động lực chính thúc đẩy sáng tạo ra những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người, đồng thời thu hút sự đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Để phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập và ký kết, cũng như phù hợp với tình hình thực tế khi khoa học, công nghệ phát triển thì việc bảo hộ quyền tác giả và pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải thay đổi để đáp ứng với những thách thức mới. Nội dung bài viết này bàn về vấn đề bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, từ đó chỉ ra những vấn đề cần hoàn thiện trong chế định bảo hộ quyền tác giả.

1. Pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả

1.1. Loại hình tác phẩm được bảo hộ

Quyền tác giả là quyền của cá nhân tổ chức đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Theo Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 - sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Luật Sở hữu trí tuệ), thì đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, cụ thể: Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu; tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự; tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm kiến trúc; bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học; tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu (Điều 14).

Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

Tác phẩm được bảo hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác. Tuy nhiên, không phải bất cứ tác phẩm nào cũng được coi là đối tượng bảo hộ của quyền tác giả. Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ quy định các đối tượng không được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả bao gồm: Tin tức thời sự thuần túy đưa tin[1]; văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó[2]; quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu...

Ngoài ra, các tác phẩm có nội dung đồi trụy, trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc phòng hay những tác phẩm có nội dung chống phá Nhà nước đều không được bảo hộ. Như vậy, tác phẩm chỉ được bảo hộ khi đảm bảo đầy đủ hai yếu tố là tính sáng tạo và được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định.

1.2. Nội dung quyền tác giả

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân chia thành quyền nhân thân không thể chuyển giao và quyền có thể chuyển giao, quyền nhân thân không thể chuyển giao được bảo hộ vô thời hạn và tồn tại vĩnh viễn cùng với tác phẩm (Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ). Trong các quyền nhân thân không thể chuyển giao, thì quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả được coi là quan trọng nhất và trong thực tiễn nó cũng hay bị xâm phạm nhất.

Cụm từ “gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả” có thể làm cho khoản 4 Điều 19 được hiểu là nếu một người thực hiện hành vi sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm của người khác nhưng lại chứng minh được là hành vi đó không gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả hoặc chứng minh là hành vi đó đã làm cho tác phẩm “hay” lên thì không vi phạm. Tuy nhiên, Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ liệt kê các hành vi được xem là xâm phạm quyền tác giả mà không đề cập đến yếu tố hệ quả. Do đó, chỉ cần thực hiện một hành vi quy định tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ thì hành vi đó được xem là xâm phạm quyền tác giả mà không cần xét đến liệu nó có làm phương hại đến chủ thể có quyền hay không?

1.3. Các hành vi xâm phạm quyền tác giả và chế tài xử lý

Hành vi trái pháp luật là hành vi thực hiện không đúng quy định của pháp luật như không làm việc mà pháp luật yêu cầu, làm việc mà pháp luật cấm hoặc tiến hành hoạt động vượt quá giới hạn, phạm vi cho phép của pháp luật[3]. Chủ sở hữu được độc quyền sử dụng và khai thác tài sản trí tuệ cũng như chuyển giao tài sản này cho chủ thể khác để thu lợi hợp pháp trong thời hạn bảo hộ tác phẩm đó (Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ). Lý luận về hành vi xâm phạm dựa trên sự khai thác bất hợp pháp, tức là sử dụng tài sản của người khác (ở đây là những quyền thuộc độc quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả[4]) mà không được phép, không tôn trọng quyền của chủ sở hữu. Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ quy định các hành vi xâm phạm quyền tác giả bao gồm: Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; mạo danh tác giả; công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả; công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó; sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả… Việc liệt kê này nhằm tạo điều kiện để các nhà thực thi pháp luật thuận tiện hơn trong việc xác định hành vi vi phạm, nhưng nếu xuất hiện các hành vi khác không nằm trong sự liệt kê này thì sẽ giải quyết như thế nào?

Pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng trao cho chủ sở hữu một độc quyền có giới hạn trong việc khai thác thành quả sáng tạo của họ nhằm khuyến khích các hoạt động sáng tạo, đồng thời để công chúng tiếp cận những sản phẩm trí tuệ sau khi thời hạn nắm giữ độc quyền chấm dứt[5]. Xâm phạm các độc quyền này là xâm phạm quyền tác giả, mà chủ yếu là các quyền tài sản liên quan đến khai thác, sử dụng, chuyển giao tác phẩm[6]. Mặc dù, Luật Sở hữu trí tuệ đã được ban hành hơn 10 năm, trước đó những vấn đề về bảo hộ quyền tác giả cũng được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự và một số pháp lệnh, nghị định nhưng có thể nói, hành vi xâm phạm quyền tác giả hiện nay vẫn còn phổ biến. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó phải kể đến việc người dân chưa thực sự có ý thức tôn trọng quyền tác giả. Trên thực tế, hành vi sao chép tác phẩm bất hợp pháp, sử dụng tác phẩm mà không xin phép, không trả tiền cho tác giả, chủ sở hữu diễn ra rất thường xuyên và phổ biến. Bên cạnh đó, chính chủ thể quyền là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả cũng chưa thực sự ý thức tốt trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong một số trường hợp, chủ thể quyền không nắm rõ các quy định pháp luật nên có xu hướng e ngại trong việc khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Chế tài xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam

- Trách nhiệm dân sự: Về nguyên tắc, quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng là một quyền dân sự về tài sản, vì vậy khi quyền này bị xâm phạm chủ sở hữu quyền có thể áp dụng những quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để khởi kiện. Theo quy định Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015, người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác. Tuy nhiên, quyền sở hữu trí tuệ có những đặc thù riêng đó là tài sản vô hình vì vậy cơ chế bảo vệ cũng có những đặc thù riêng được quy định trong luật chuyên ngành. Khoản 6 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Trong trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và nêu căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 205 của Luật này”. Như vậy, pháp luật dân sự và sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định căn cứ để yêu cầu bồi thường thiệt hại bao gồm: Có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, có thiệt hại xảy ra và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm và thiệt hại thực tế.

Đối với chế định quyền tác giả, hành vi xâm phạm có thể kể đến bao gồm các hành vi được liệt kê tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ. Khi một chủ thể thực hiện một, một số hành vi được quy định tại điều này, chủ thể đó được xem là người có hành vi xâm phạm quyền tác giả. Khi đó, căn cứ tiếp theo sẽ được xem xét để xác định có hay không trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ thể vi phạm.

Theo Điều 205 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì thiệt hại bao gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại về tinh thần. Luật Sở hữu trí tuệ cũng xác định hai loại thiệt hại như trên, theo đó: (i) Thiệt hại vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại. (ii) Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng (Điều 204). Nghĩa vụ chứng minh các thiệt hại thực tế xảy ra thuộc về nguyên đơn - chủ thể cho rằng quyền tác giả của mình bị chủ thể khác xâm phạm.

Sau khi xác định được có vấn đề bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả, chủ thể cho rằng quyền tác giả của mình bị xâm phạm phải có nghĩa vụ chứng minh mức bồi thường thiệt hại hợp lý để yêu cầu Tòa án xem xét. Mức bồi thường thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra (khoản 2 Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ). Mức bồi thường thiệt hại có thể là thu nhập bị giảm sút của chủ thể bị xâm phạm, lợi nhuận mà chủ thể xâm phạm thu được, giá chuyển giao quyền tác giả hoặc mức bồi thường có thể được Tòa án ấn định tùy vào thiệt hại nhưng không quá 500 triệu đồng, đối với thiệt hại về tinh thần, mức bồi thường sẽ tùy thuộc vào việc chứng minh thiệt hại nhưng sẽ dao động từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

Với nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, pháp luật Việt Nam ghi nhận quyền chứng minh mức thiệt hại của chủ thể có quyền. Khi phát hiện có hành vi xâm phạm quyền tác giả của mình, chủ thể có quyền có quyền chứng minh những thiệt hại thực tế mà mình gánh chịu và yêu cầu Tòa án xem xét quyết định. Tuy nhiên, nếu chủ thể có quyền không xác định được mức thiệt hại hoặc không thể xác định được thì Tòa án sẽ tự đưa ra mức bồi thường thiệt hại dựa vào căn cứ chứng minh thiệt hại của chủ thể có quyền. Tuy nhiên, đối với thiệt hại vật chất, giới hạn để Tòa án đưa ra mức bồi thường thiệt hại là 500 triệu đồng. Còn đối với thiệt hại về tinh thần, mức thiệt hại cụ thể sẽ từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Ngoài ra, bên có quyền có thể chứng minh và yêu cầu bên xâm phạm thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư.

Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ còn quy định các hình thức trách nhiệm pháp lý khác đối với chủ thể có hành vi xâm phạm quyền tác giả, bao gồm: Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự, buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ. Các biện pháp này góp phần bảo vệ quyền tác giả, khôi phục những thiệt hại, tổn thất mà chủ thể có quyền phải gánh chịu bởi hành vi xâm phạm.

- Trách nhiệm hình sự: Cá nhân và pháp nhân thương mại khi không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi như: (i) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình; (ii) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam thì bị xử lý theo quy định tại Điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2. Bảo hộ quyền tác giả theo một số điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

2.1. Công ước Berne[7]

Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (Công ước Berne) được ký tại Bern (Thụy Sĩ) năm 1886. Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước Berne ngày 26/10/2004.

Theo khoản 1 Điều 2 Công ước Berne, các đối tượng được bảo hộ bởi Công ước bao gồm tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các tác phẩm cùng loại; các tác phẩm kịch, hay nhạc kịch, các tác phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay không lời...

Điều 5 Công ước Berne quy định nguyên tắc đối xử giữa các quốc gia về việc bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, theo đó những tác phẩm được Công ước này bảo hộ, các tác giả được hưởng quyền tác giả ở các nước Liên hiệp không phải là quốc gia gốc của tác phẩm, những quyền do luật của nước đó dành cho công dân của mình trong hiện tại và trong tương lai cũng như những quyền mà Công ước này đặc biệt quy định. Việc hưởng và thực hiện các quyền này không lệ thuộc vào một thể thức, thủ tục nào; việc hưởng và thực hiện này hoàn toàn độc lập không tùy thuộc vào việc tác phẩm có được đăng ký hay không ở quốc gia gốc của tác phẩm. Do đó, ngoài những quy định của Công ước này, mức độ bảo hộ cũng như các biện pháp khiếu nại dành cho tác giả trong việc bảo hộ quyền của mình sẽ hoàn toàn do quy định của luật pháp của nước công bố bảo hộ tác phẩm đó.

Điều 9 Công ước Berne quy định: “Luật pháp quốc gia thành viên Liên hiệp, trong vài trường hợp đặc biệt, có quyền cho phép sao in những tác phẩm nói trên, miễn là sự sao in đó không phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm hoặc không gây thiệt thòi bất hợp lý đến những quyền lợi hợp pháp của tác giả” và Điều 10 quy định: “Được coi là hợp pháp những trích dẫn rút từ một tác phẩm đã được phổ cập tới công chúng một cách hợp pháp, miễn là sự trích dẫn đó phù hợp với những thông lệ đúng đắn và không vượt quá mục đích trích dẫn, kể cả những trích dẫn các bài báo và tập san định kỳ dưới hình thức điểm báo”.

2.2. Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)[8]

(i) Xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả theo CPTPP

CPTPP không liệt kê cụ thể hành vi nào được xem là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, tuy nhiên, các điều khoản của Hiệp định thể hiện bản chất của hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mà các bên tham gia hiệp định đã thống nhất. Điều 18.76 CPTPP quy định: “Mỗi bên phải quy định về đơn yêu cầu đình chỉ thông quan, hoặc giữ, bất kỳ hàng hóa nào bị nghi ngờ là giả mạo nhãn hiệu hoặc mang nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn hoặc sao lậu quyền tác giả, được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên đó”, theo đó, hàng hóa sao lậu quyền tác giả là hàng hóa được sao chép không được sự đồng ý của chủ thể quyền hoặc người được chủ thể quyền ủy quyền tại nước sản xuất và được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp từ sản phẩm mà việc tạo ra bản sao của sản phẩm đó sẽ cấu thành hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan theo luật của bên quy định thủ tục theo mục này. Như vậy, với quy định này có thể thấy, CPTPP quy định hành vi giả mạo quyền tác giả để tạo ra bản sao là hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan bất kể mục đích của hành vi sao lậu này phi thương mại hay không.

Ngoài ra, Hiệp định cũng quy định quyền cấm hoặc cho phép chủ thể khác sao chép, truyền đạt tới công chúng, phân phối đối với quyền tác giả của chủ thể có quyền, cụ thể, Điều 18.59 CPTPP quy định mỗi bên phải quy định cho tác giả độc quyền cho phép hoặc cấm truyền đạt tới công chúng tác phẩm của mình, bằng phương tiện vô tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả việc phổ biến đến công chúng tác phẩm của mình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận các tác phẩm này từ địa điểm và tại thời điểm do chính họ lựa chọn.

Như vậy, có thể hiểu, hành vi sử dụng quyền tác giả mà không được sự cho phép của chủ thể có quyền thì được xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả theo tinh thần của CPTPP. Trong trường hợp tác giả của tác phẩm là bản ghi âm và có cả người biểu diễn hoặc nhà sản xuất thì việc sao chép chỉ được phép khi có cả sự chấp thuận từ tất cả những người có quyền, việc không nhận được cho phép của một bên cũng được xem là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (Điều 18.61).

(ii) Áp dụng chế tài để xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả theo CPTPP

- Trách nhiệm dân sự

Khoản 3 Điều 18.74 CPTPP quy định: “Mỗi bên phải quy định rằng trong các thủ tục tố tụng dân sự, cơ quan tư pháp của mình phải có thẩm quyền ít nhất là buộc cho người xâm phạm trả cho chủ thể quyền khoản bồi thường thiệt hại thỏa đáng để đền bù cho tổn thất mà chủ thể quyền phải gánh chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người đó đối với người xâm phạm nào đã thực hiện hành vi xâm phạm khi biết hoặc có cơ sở hợp lý để biết điều đó”. Như vậy, về cơ bản, các quy định về căn cứ bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Việt Nam phù hợp với CPTPP, bao gồm phải có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, thiệt hại mà chủ thể quyền phải gánh chịu vì hành vi xâm phạm đó, tức phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm và thiệt hại xảy ra. Ở đây, yếu tố lỗi không được CPTPP cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam đề cập là một cơ sở để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Với tinh thần bảo vệ một cách tối ưu tài sản trí tuệ, các quy định như trên là phù hợp, bởi việc chứng minh yếu tố lỗi trong hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ - loại tài sản vô hình là không dễ. Hơn nữa, quyền sở hữu trí tuệ cần phải được bảo vệ tuyệt đối, dù chủ thể thực hiện hành vi với sự cố ý hay vô ý thì đều đã xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể sáng tạo đầu tiên và được pháp luật bảo vệ.

CPTPP không liệt kê thiệt hại bao gồm loại nào mà chỉ quy định những thiệt hại phải được bồi thường thỏa đáng tại khoản 3 Điều 18.74. Đây là quy định mang tính bao quát, tất cả các thiệt hại phải được bồi thường một cách hợp lý, đầy đủ, bảo vệ cho chủ thể có quyền một cách tuyệt đối, nếu có cơ sở chứng minh điều đó. Thiết nghĩ, để phù hợp với tinh thần của CPTPP, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cần bổ sung trường hợp về bồi thường thiệt hại, theo đó, thiệt hại vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại và các thiệt hại về vật chất khác mà chủ thể bị xâm phạm phải gánh chịu.

Như vậy, để yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả của chủ thể khác gây ra, chủ thể có quyền phải chứng minh mình là chủ thể được bảo hộ quyền tác giả và quyền này đang bị một chủ thể xác định khác xâm phạm và chứng minh thiệt hại mình gánh chịu do hành vi xâm phạm đó gây ra.

Khoản 6 Điều 18.74 CPTPP quy định: “Trong thủ tục tố tụng dân sự, đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan đối với tác phẩm, bản ghi âm hoặc buổi biểu diễn, mỗi bên phải thiết lập hoặc duy trì một hệ thống có một hoặc nhiều quy định dưới đây:

a. Các khoản bồi thường thiệt hại định trước để chủ thể quyền có thể lựa chọn;

b. Các khoản bồi thường thiệt hại bổ sung”.

Theo đó, các khoản bồi thường bổ sung có thể bao gồm khoản tiền phạt để cảnh cáo hoặc trừng phạt. Nhìn chung, các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng tạo hành lang pháp lý mở đường cho quy định về quyền lựa chọn khoản bồi thường thiệt hại của chủ thể có quyền khi cho phép chủ thể có quyền có quyền chứng minh mức thiệt hại yêu cầu bồi thường, trong đó có cả “thiệt hại vật chất theo các cách tính khác”. Tuy nhiên, việc giới hạn mức bồi thường thiệt hại về tinh thần (từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng) và mức bồi thường thiệt hại tối đa về vật chất do Tòa án ấn định (500 triệu đồng) là chưa thể hiện được tinh thần “thiệt hại phải được bồi thường thỏa đáng” của CPTPP. Do đó, theo tác giả, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam không nên quy định các giới hạn này, các thiệt hại sẽ được bồi thường khi nó được chứng minh một cách cụ thể, hợp lý.

Mặt khác, các khoản bồi thường thiệt hại bổ sung mà CPTPP quy định cũng cần thiết được cụ thể hóa vào pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, đây được xem là một giải pháp răn đe những chủ thể có ý định thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao mức bảo vệ tài sản trí tuệ của chủ thể có quyền.

- Trách nhiệm hình sự

Khoản 1 Điều 18.77 CPTPP quy định: Mỗi bên phải quy định các thủ tục và hình phạt hình sự để áp dụng ít nhất trong các trường hợp cố ý làm giả nhãn hiệu hoặc sao lậu quyền tác giả và quyền liên quan ở quy mô thương mại. Đối với việc cố ý sao lậu quyền tác giả hoặc quyền liên quan, “quy mô thương mại” ít nhất bao gồm: (a) Các hành vi thực hiện để đạt được lợi thế thương mại hoặc thu lợi tài chính; (b) Các hành vi không phải thực hiện để đạt được lợi thế thương mại hoặc thu lợi tài chính, nhưng có gây hại một cách đáng kể tới lợi ích của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan liên quan đến thị trường. Theo tinh thần của CPTPP, để bảo vệ quyền tác giả một cách tối ưu, việc hình sự hóa đối với các hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền tác giả là vấn đề cần thiết. Pháp luật hình sự Việt Nam cũng quy định hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan có thể bị xem là tội phạm (tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi). Như vậy, nhìn chung, pháp luật hình sự Việt Nam đã có những quy định phù hợp với xu thế chung của quốc tế, quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng phải được tôn trọng và bảo vệ một cách tối đa.

Các quy định về trách nhiệm pháp lý là công cụ hữu hiệu để thực thi việc bảo vệ tài sản trí tuệ của chủ thể có quyền, thúc đẩy việc sáng tạo của các chủ thể. Do đó, trong việc hợp tác, thực hiện các cam kết quốc tế, trong đó có CPTPP, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cần có những sửa đổi để phù hợp và thích nghi với xu hướng chung trong sự phát triển của thế giới.

3. Kiến nghị

Để phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập và ký kết và cũng để phù hợp với tình hình thực tế khi khoa học, công nghệ phát triển lại đặt ra những thách thức mới đối với vấn đề bảo hộ quyền tác giả và luật bảo hộ quyền tác giả phải thay đổi để đáp ứng các thách thức mới[9]. Theo đó, tác giả đề xuất sửa đổi một số vấn đề cụ thể như sau:

Thứ nhất, sửa tên Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ thành “Một số loại hình tác phẩm cụ thể được bảo hộ” để tương thích với Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ và Công ước Berne.

Thứ hai, vì Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định sự độc quyền của chủ thể quyền tác giả tại Điều 19 và Điều 20 và một số sử dụng ngoại lệ tại Điều 25, nên bất kỳ chủ thể nào khác sử dụng tác phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền tác giả hoặc trường hợp pháp luật quy định thì sẽ là xâm phạm quyền tác giả. Do đó, nên sửa tên của Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ thành “Một số hành vi phổ biến xâm phạm quyền tác giả”.

Thứ ba, các hành vi xâm phạm quyền tác giả được quy định tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ chỉ mang tính chất liệt kê mà chưa có sự giải thích cụ thể. Do đó, việc áp dụng các quy định này để xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trên thực tế trở nên khó khăn, chủ yếu định nghĩa các hành vi theo nghĩa thông thường. Vì vậy, cần có những quy định cụ thể giải thích về hành vi xâm phạm quyền tác giả. Một trong những cơ chế rất hiệu quả hiện nay mà chúng ta đang xây dựng là hệ thống án lệ. Có thể từng hành vi xâm phạm quyền tác giả nếu được quy định quá chi tiết trong luật hay các văn bản hướng dẫn thì việc áp dụng chưa thực sự tốt, nhưng nếu có hệ thống án lệ về quyền tác giả thì có thể giải quyết hữu hiệu vấn đề này. Đây cũng chính là cơ chế bảo hộ được xây dựng bởi nhiều quốc gia phát triển hiện nay.

TS. Nguyễn Xuân Quang

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh



[1]. Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan thì: “Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin quy định tại khoản 1 Điều 15 của Luật Sở hữu trí tuệ là các thông tin báo chí ngắn hàng ngày, chỉ mang tính chất đưa tin không có tính sáng tạo”.

[2]. Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP quy định: “Văn bản hành chính quy định tại khoản 2 Điều 15 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật”.

[3]. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Chủ biên: Lê Minh Tâm và Nguyễn Minh Đoan, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2013, tr. 206.

[4]. Nguyễn Bình và Nguyễn Thị Chính, Bình luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam, Nxb. Tư pháp, 2005, tr. 104.

[5]. Nguyễn Ngọc Xuân Thảo (2013), Luật Sở hữu trí tuệ - Án lệ, lý thuyết và bài tập vận dụng, Nxb. Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 360.

[6]. Nguyễn Hồ Bích Hằng (chủ biên) (2019), Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, tr. 137.

[7]. Trích dẫn theo bản dịch Công ước Berne tại https://thuvienphapluat.vn/van-ban/so-huu-tri-tue/Cong-uoc-Berne-bao-ho-tac-pham-van-hoc-nghe-thuat-60106.aspx (cập nhật ngày 18/02/2020).

[8]. Trích dẫn theo bản dịch tại https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/hiep-dinh-CPTPP/19184/toan-van-hiep-dinh-cptpp-ban-tieng-viet (cập nhật ngày 18/02/2020).

[9]. Vũ Thị Phương Lan, (2018), Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số theo điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 33.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: