Thứ sáu 12/06/2026 20:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự trong tiến trình nội luật hóa Công ước chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá đạo đức

Tóm tắt: Bài viết này phân tích nội hàm khái niệm tra tấn và những hạn chế trong quy định khung pháp lý hình sự về chống tra tấn trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và đặc biệt là Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm đề xuất hoàn thiện khung pháp lý này để bảo đảm tính khả thi và phù hợp với bối cảnh, điều kiện của nước ta khi tham gia Công ước của Liên hợp quốc riêng về chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.

Abstract: This article analyses the term “torture” and the shortcomings of regulations on anti-torture in the Penal Code of 1999, especially the Penal Code of 2015, thereby proposes recommendations to ensure the feasibility of criminal legislation, as well as its conformity with the context of Vietnam joining the Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment.

Tra tấn là một trong những hình thức xâm phạm quyền con người ở mức độ nghiêm trọng nhất, tra tấn có thể tước đoạt tất cả tính mạng, sức khỏe, danh dự, phẩm giá, niềm tin, giá trị và hạnh phúc của những nạn nhân trực tiếp và gián tiếp của hành vi này. Trong thời đại ngày nay, nhân loại tiến bộ không chấp nhận mọi sự biện minh cho hành vi tra tấn, dù có thể nhân danh số đông hay nhân danh những điều tốt đẹp. Những chủ thể thực hiện hành vi tra tấn - một nhà nước không thể bào chữa cho hành động tồi tệ này được thực hiện đối với công dân của mình, hay một con người cũng không thể bào chữa cho hành động tồi tệ này được thực hiện đối với đồng loại của mình.

Điều 5 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 đã khẳng định: “Không ai có thể bị tra tấn hoặc dùng nhục hình, bị đối xử hoặc chịu hình phạt tàn nhẫn, vô nhân đạo”. Điều 7 Công ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 cũng nhắc lại một cách mạnh mẽ: “Không một người nào có thể bị tra tấn, đối xử hoặc áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc dùng nhục hình”. Đặc biệt, đến năm 1984, một Công ước của Liên hợp quốc riêng về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người[1](gọi tắt là CAT) đã được thông qua. Ngày 28/11/2014, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn CAT với việc bảo lưu quy định tại Điều 20 và khoản 1 Điều 30 CAT và không coi quy định tại khoản 2 Điều 8 CAT là cơ sở pháp lý trực tiếp để dẫn độ (việc dẫn độ sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc nguyên tắc có đi có lại).

Theo Điều 1 CAT: “Thuật ngữ “tra tấn” có nghĩa là bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc khổ đau nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện, hoặc để đe dọa hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau đớn và khổ đau đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức. Khái niệm tra tấn không bao gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ, gắn liền với, hoặc có liên quan đến, các biện pháp trừng phạt hợp pháp”. CAT cũng đòi hỏi mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp hoặc các biện pháp hiệu quả khác để ngăn chặn các hành vi tra tấn trên bất cứ khu vực lãnh thổ nào thuộc quyền tài phán của mình. Ở phương diện lập pháp hình sự, Điều 4 CAT yêu cầu tội phạm hóa hành vi tra tấn, quy định những hình phạt thích đáng với người thực hiện hành vi tra tấn.

Như vậy, từ Điều 1 và Điều 4 của CAT, có thể phân tích khái niệm “tra tấn” với các yếu tố cấu thành sau:

- Hành vi khách quan: Gây đau đớn hoặc khổ đau nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người (không gắn liền hoặc có liên quan đến các biện pháp trừng phạt hợp pháp).

- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý, mục đích của tội phạm: (i) Lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba; (ii) Để trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện; (iii) Để đe dọa hay ép buộc người đó hay người thứ ba; (iv) Vì bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức.

- Chủ thể thực hiện: Chủ thể đặc biệt - do một công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức gây ra hoặc với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức.

Để đấu tranh trực diện với hành vi tra tấn, phải thừa nhận Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa có quy định tội phạm hóa hành vi tra tấn như mô tả tại Điều 1 CAT. Tuy nhiên, không phải đợi đến khi Việt Nam phê chuẩn CAT thì chúng ta mới có các công cụ pháp lý hình sự để phòng chống và trừng trị hành vi tra tấn. Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng đã thể hiện tinh thần của CAT, đó là không chấp nhận, không dung túng cho hành vi tra tấn, trong đó quy định 04 tội danh liên quan trực tiếp đến hành vi tra tấn: Tội dùng nhục hình (Điều 298), tội bức cung (Điều 299), tội làm nhục, hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới (Điều 321), tội ngược đãi tù binh, hàng binh (Điều 340)[2].

Quá trình nội luật hóa CAT được đẩy mạnh ngay tại thời điểm Việt Nam chuẩn bị cho việc ký kết, phê chuẩn Công ước này. Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định mọi người không bị tra tấn, bạo lực với việc bổ sung nội dung này trong quy định tại khoản 1 Điều 20. Ngày 27/11/2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 được thông qua đã tiếp tục quy định về hành vi dùng nhục hình, bức cung trong hoạt động tư pháp[3], đồng thời đã có sự sửa đổi, bổ sung đáng kể sau để phù hợp với tinh thần của CAT:

- Mở rộng hơn phạm vi hoạt động tư pháp: Không chỉ trong số các hoạt động được liệt kê tại Bộ luật Hình sự năm 1999 bao gồm hoạt động của cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử, thi hành án, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã khái quát thành “hoạt động tố tụng và thi hành án” (Điều 367);

- Mở rộng phạm vi chủ thể một số tội phạm: Chủ thể của tội dùng nhục hình (Điều 373) là “người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án và thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, chủ thể của tội bức cung là “người nào trong hoạt động tố tụng” (Điều 374);

- Mô tả rõ hành vi khách quan của tội dùng nhục hình (dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào) gần hơn với cách quy định của CAT;

- Nâng hình phạt: Loại hình phạt cao nhất đối với tội dùng nhục hình và tội bức cung là tù chung thân (trước đây chỉ là tù có thời hạn với mức cao nhất 10 năm và 12 năm);

- Bổ sung khung tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với tội dùng nhục hình, tội bức cung;

- Quy định cụ thể về các tình tiết định tội, tình tiết định khung tăng nặng hình phạt, đặc biệt, với tội bức cung, điểm d khoản 2 Điều 374 quy định rõ “dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, hỏi cung” là tình tiết định khung tăng nặng.

Ngoài ra, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục phẩm giá nạn nhân” vào tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điểm b khoản 3 Điều 157) với những nạn nhân của hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định tình tiết này để xử lý hành vi “tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục phẩm giá nạn nhân” đối với người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật trong các lĩnh vực khác ngoài lĩnh vực tư pháp. Đây là một sự mở rộng đáng kể, đáng ghi nhận của Bộ luật Hình sự. Điều 157 cũng được áp dụng để xử lý đối với “công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức”. Cách xử lý của Bộ luật Hình sự năm 2015 là không đưa nguyên hành vi tra tấn theo CAT thành một tội danh độc lập mà thể hiện trong nhiều tội phạm, nhiều tình tiết định khung tăng nặng. Hành vi tra tấn chủ yếu xảy ra trong hoạt động tư pháp, vì vậy, việc bổ sung tội dùng nhục hình đã giải quyết được căn bản nhu cầu xử lý hình sự hành vi tra tấn xảy ra trên thực tế.

Tuy nhiên, hành vi tra tấn theo quy định tại Điều 1 CAT không chỉ trong lĩnh vực tư pháp. Hành vi tra tấn chưa được quy định nếu nạn nhân bị tra tấn trong quá trình bị giữ hợp pháp nhưng việc giữ người này không phải trong lĩnh vực tư pháp. Ví dụ: Nạn nhân bị tra tấn trong khi bị tạm giữ hành chính tại các cơ quan nhà nước. Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, phạm vi công chức có thẩm quyền tạm giữ hành chính rất rộng[4], việc tạm giữ hành chính này là hợp pháp nhưng xử lý hành vi tra tấn người bị tạm giữ hợp pháp trong thời gian bị tạm giữ hành chính tại các buồng tạm giữ hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính bằng việc áp dụng Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì quá khiên cưỡng do Điều 157 giới hạn trong phạm vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật.

Điều 292 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định khái niệm các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp theo hướng hẹp, chỉ trong phạm vi hoạt động của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử, thi hành án và do đó, chưa bao quát hết phạm vi các chủ thể tham gia hoạt động tư pháp. Đến năm 2015, hoạt động tư pháp được mở rộng hơn, bao gồm “những hành vi xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng và thi hành án” (Điều 367 Bộ luật Hình sự năm 2015), nhưng không bao gồm hoạt động thi hành tạm giữ, tạm giam vì hoạt động thi hành tạm giữ, tạm giam không phải là hoạt động tố tụng. Bởi lẽ, hoạt động tố tụng là hoạt động giải quyết vụ án hình sự mà trọng tâm là giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội, truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội. Thi hành tạm giữ, tạm giam với các hoạt động như quản lý giam giữ người bị tạm giữ, người bị tạm giam và chế độ cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam về ăn, ở, mặc, tư trang, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, gặp thân nhân… rõ ràng mang tính chất hành chính tư pháp nhiều hơn là mang tính chất tố tụng. Hoạt động thi hành tạm giữ, tạm giam cũng không phải là hoạt động thi hành án hình sự do người bị tạm giữ, tạm giam chưa bị kết án, chưa chuyển sang chế độ thi hành án. Sẽ là gần hơn, hợp lý hơn nếu coi hoạt động thi hành tạm giữ, tạm giam là một trong số các hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, dù hoạt động thi hành tạm giữ, tạm giam thuộc lĩnh vực hoạt động nào thì nguy cơ tra tấn trong quá trình tạm giữ, tạm giam không do người tiến hành tố tụng gây ra mà do các công chức trong các cơ sở giam giữ gây ra là rất cao, rất nghiêm trọng. Đặc biệt là khi khó có một cơ chế giám sát chặt chẽ, thường xuyên các cơ sở giam giữ, khi cán bộ quản giáo có thể sử dụng chính những đối tượng cùng buồng giam giữ như những công cụ tra tấn, những đối tượng này thực hiện hành vi tra tấn theo sự chỉ đạo hoặc ngầm cho phép của cán bộ quản giáo, hay nói theo ngôn ngữ của CAT là “với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức”. Chính vì vậy, về mặt luật thực định, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đã phải đặt ra nguyên tắc bảo đảm nhân đạo, không tra tấn, truy bức, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam tại khoản 3 Điều 4 Luật này.

Mặt khác, mặc dù về phạm vi chủ thể theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bao gồm những “người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án và thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, chúng tôi cho rằng vẫn cần thiết phải bổ sung cả “người nào trong thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh”. Tại nhiều nước trên thế giới, người ta e ngại việc dùng nhục hình như đánh, nhốt, trói đối với người trong cơ sở bắt buộc chữa bệnh, nếu xảy ra dù là hãn hữu, hậu quả cũng sẽ rất nghiêm trọng do tội ác khó có thể được biết đến, nhất là trong một môi trường khép kín, cách ly với thế giới bên ngoài, nạn nhân là những người đã bị hạn chế cả về mặt pháp lý và mặt thực tế để tố giác hành vi ngược đãi xảy ra đối với họ. Mặt khác, cũng cần nhận thức rằng, bản thân biện pháp bắt buộc chữa bệnh nếu không được áp dụng đúng người, đúng thời điểm cũng đã là sự tra tấn về tinh thần và thể xác đối với họ. Trong quá trình áp dụng, người bị áp dụng nếu đã có dấu hiệu khỏi bệnh hoặc chuyển sang một dạng, mức tâm thần khác tích cực hơn, nhưng sự cố ý giữ nguyên tình trạng của họ, đối xử với họ như với những bệnh nhân khác, không thừa nhận họ là người bình thường cũng là một thái độ đối xử đặc biệt vô nhân đạo.

Dùng nhục hình là sự trừng phạt về thể xác, là sự trừng phạt bằng vũ lực, do đó, không nên quan niệm chỉ có dùng nhục hình trong hoạt động tư pháp mà cả các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, trong đó có hoạt động quản lý hành chính quân sự. Vì vậy, Điều 320 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã quy định tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới trong Chương các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (Chương 32). Tuy nhiên, do nhiều quan điểm lập pháp khác nhau, hành vi dùng nhục hình đối với cấp dưới đã được đưa vào tội hành hung đồng đội quy định tại Điều 397 Bộ luật Hình sự năm 2015. Từ quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng việc đưa hành vi này vào trong tội hành hung đồng đội là chưa thật sự hợp lý vì dùng nhục hình là sự trừng phạt của người có chức vụ, cấp bậc của quyền lực nhà nước đối với cấp dưới hay đối tượng bị quản lý. Trong mối quan hệ giữa chủ thể của hành vi dùng nhục hình và nạn nhân của hành vi dùng nhục hình thường không có sự bình đẳng. Hành vi dùng nhục hình thể hiện thái độ của cấp trên coi thường tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cấp dưới, vì cấp dưới là thuộc cấp của mình, lệ thuộc mình nên tự cho mình quyền dùng nhục hình để bắt cấp dưới phải phục tùng, tự cho mình quyền trừng phạt “gây đau đớn hoặc khổ đau nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần” cho cấp dưới. Do đó, tính nguy hiểm của hành vi này là rất lớn, nhất là trong một môi trường khép kín và thượng tôn kỷ luật quân đội, thượng tôn vai trò của người thủ trưởng, người đứng đầu như môi trường quân đội, cần tội phạm hóa với một cấu thành riêng, qua đó trừng trị, răn đe những ai có ý định tự biến mình thành một người chỉ huy có quyền sinh, quyền sát với cấp dưới. Hành vi dùng nhục hình và hành vi hành hung người khác đều gây ra những đau đớn về thể xác nhưng bản chất của hai hành vi là khác nhau. Dùng nhục hình là sử dụng những biện pháp trừng phạt về thể chất (theo nguyên nghĩa Hán Việt, “nhục” có nghĩa là xác thịt, “hình” có nghĩa là hình phạt) của người trên với kẻ dưới, của người có quyền với kẻ bị lệ thuộc theo ý chí của người trên, trong khi đó hành hung chỉ thuần túy là đánh người, làm việc ác (“hành” có nghĩa là làm, “hung” có nghĩa là ác) bằng đánh, bằng dùng ngoại lực, hung khí tác động lên thân thể nạn nhân. Do vậy, có thể là hành vi hành hung với cấp trên, cấp dưới hoặc đồng cấp nhưng dùng nhục hình chỉ có thể là hành vi của cấp trên với cấp dưới. Hai khái niệm hành hung và dùng nhục hình liên quan với nhau nhưng nội hàm của dùng nhục hình không nằm trong nội hàm của hành hung và tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi dùng nhục hình đối với cấp dưới lớn hơn so với hành vi hành hung đồng đội và nên xem xét tách thành hai cấu thành tội phạm khác nhau như trở lại với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999.

TS. Lê Lan Chi

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1].Nguồn trích dẫn: http://btnn.moj.gov.vn/qt/tintuc/Lists/TinHoatDong/Attachments/769/CAT%20-%201984%20-%20ban%20tieng%20Viet.pdf.

[2]. Tội phạm này thường được nhìn nhận là để hiện thực hóa Công ước Genevơ về đối xử nhân đạo với tù binh, hàng binh chiến tranh nếu là quốc gia thành viên của Công ước.

[3]. Xem các điều 373, 374 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội dùng nhục hình, tội bức cung.

[4]. Theo Điều 123 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì những người sau đây có thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính: a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng Công an phường; b) Trưởng Công an cấp huyện; c) Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát trật tự, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, Trưởng phòng Cảnh sát đường thủy, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh của Công an cấp tỉnh; Trưởng phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường; d) Thủ trưởng đơn vị cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên, Trạm trưởng Trạm công an cửa khẩu; đ) Hạt trưởng Hạt kiểm lâm, Đội trưởng Đội kiểm lâm cơ động; e) Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Đội trưởng Đội kiểm soát thuộc Cục Hải quan, Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu và Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển thuộc Cục điều tra chống buôn lậu Tổng cục hải quan; g) Đội trưởng Đội quản lý thị trường; h) Chỉ huy trưởng Tiểu khu biên phòng, Chỉ huy trưởng biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng, Chỉ huy trưởng Hải đội biên phòng, Trưởng đồn biên phòng và Thủ trưởng đơn vị bộ đội biên phòng đóng ở biên giới, hải đảo; i) Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển, Hải đoàn trưởng Hải đoàn Cảnh sát biển, Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển; k) Người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu khi tàu bay, tàu biển, tàu hỏa đã rời sân bay, bến cảng, nhà ga; l) Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: