Thứ năm 25/06/2026 16:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền của người chuyển đổi giới tính bằng mô hình đánh giá

Tóm tắt: Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã công nhận quyền được chuyển đổi giới tính của cá nhân. Thực tế có hai loại mô hình công nhận giới tính mới cho người chuyển giới là mô hình điều trị và mô hình đánh giá.

Tóm tắt: Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã công nhận quyền được chuyển đổi giới tính của cá nhân. Thực tế có hai loại mô hình công nhận giới tính mới cho người chuyển giới là mô hình điều trị và mô hình đánh giá. Bài viết phân tích khả năng bảo vệ quyền của người chuyển đổi giới tính bằng mô hình đánh giá thông qua việc đưa ra các cơ sở lý luận và thực tiễn, hiện trạng áp dụng của cả hai mô hình trên thế giới và vận dụng ưu thế của mô hình đánh giá để xây dựng cơ chế bảo vệ quyền của người chuyển đổi giới tính tại Việt Nam.

Abstract: Many countries in the world have nowadays recognized the right of sex change of inpiduals. There are two models of recognizing new sex for transgender: treatment model and assessment model. The paper analyzes the possibility of protection of rights of transgender through assessment by giving theoretical and practical basis, application situation of these two models in the world and manipulation of advantage of the assessment model for setting up mechanisms of protecting rights of transgender in Vietnam.

1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền của người chuyển đổi giới tính

1.1. Cơ sở lý luận

Nền tảng đầu tiên làm cơ sở bảo vệ quyền của người chuyển đổi giới tính là quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm cũng như đời tư. Tại Điều 12 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (Tuyên ngôn năm 1948) và khoản 1 Điều 17 Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Công ước năm 1966) đã quy định: Không ai bị can thiệp một cách tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín. Trong đó, đời tư của một người là bao gồm cả thông tin về bản dạng giới của họ, do đó những thông tin này cần phải được tôn trọng và đảm bảo bí mật.

Tiếp theo là quyền không phân biệt đối xử quy định tại Điều 7 Tuyên ngôn năm 1948 và Điều 26 Công ước năm 1966. Theo đó, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo hộ bình đẳng, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử dựa trên bất kì lý do nào, kể cả giới tính. Như vậy, người chuyển giới vẫn là công dân bình thường, không bị phân biệt đối xử, được tôn trọng, được bình đẳng trước pháp luật. Họ có quyền được tự do thể hiện bản dạng giới, được sống đúng với bản dạng giới mà không bị kì thị và được đối xử công bằng như những con người khác.

Cuối cùng đó là quyền được mưu cầu hạnh phúc. Quyền này là một hình thức thể hiện sự tự do, khả năng tìm kiếm hạnh phúc, được kết hôn, sống với đúng con người mình và xây dựng hạnh phúc gia đình. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 cũng đã khẳng định: Quyền sống, quyền tự do là quyền của dân tộc, quyền của mỗi con người.

1.2. Cơ sở thực tiễn

Chuyển giới không phải là một trào lưu có tính chất tạm thời, nó là một sự tất yếu trong việc thể hiện bản dạng giới của con người, tồn tại ở mọi xã hội, mọi giai đoạn lịch sử. Nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ người chuyển giới ở trên thế giới là từ 0.1% đến 0.5%[1]. Tỉ lệ người chuyển giới ở Việt Nam cũng xấp xỉ con số này. Nhận thức được bản chất của quyền chuyển giới, nhiều quốc gia trên thế giới đã ghi nhận quyền của nhóm người này, trong đó có: Trung Quốc, Đức, Italia, Nhật Bản, Vương quốc Anh, Malaysia, Thái Lan, Ấn Độ, Hàn Quốc, Canada, Hoa Kỳ…[2].

Việc chưa có quy định cụ thể về vấn đề chuyển đổi giới tính và đảm bảo các quyền của người chuyển đổi giới tính khiến cho việc Bộ luật Dân sự năm 2015 thừa nhận người chuyển giới[3] trở nên hình thức, không thể áp dụng vào thực tiễn. Những người chuyển đổi giới tính bị phân biệt đối xử theo nhiều hình thức: Gặp khó khăn trong các thủ tục hành chính; trong pháp luật việc phân biệt đối xử thể hiện ở việc họ không được pháp luật bảo vệ trong một số trường hợp[4]. Việc biểu hiện bản dạng giới được coi là hành vi sai trái, bị can thiệp xử lý[5]. Vấn đề việc làm cũng là một yếu tố gây trở ngại cho người chuyển giới. Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE), tỷ lệ người chuyển giới bị từ chối khi xin việc (59.0%) cao gấp ba lần so với nhóm đồng tính và song tính (19.6%), họ bị sa thải hoặc đuổi việc dựa trên lý do xu hướng tình dục.

Nhằm bảo đảm quyền con người và đáp ứng các nhu cầu trên thực tiễn của nhóm người này, việc ghi nhận, bảo vệ quyền của người chuyển giới là cần thiết. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã làm được điều này, tuy nhiên quy định hiện mới chỉ dừng ở mức độ sơ khai. Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính đang được lấy ý kiến đóng góp. Nội dung dưới đây, tác giả xin đề cập một số giải pháp trong xây dựng mô hình công nhận quyền của người chuyển đổi giới tính.

2. Các mô hình pháp lý công nhận quyền của người chuyển đổi giới tính được áp dụng trên thế giới

2.1. Mô hình điều trị

(i) Nội dung mô hình

Mô hình điều trị yêu cầu người muốn được thay đổi giới tính phải điều trị bằng cách trải qua phẫu thuật chuyển đổi giới tính để được công nhận về mặt pháp lý. Mô hình này thường được áp dụng ở các nước như Nhật Bản, Trung Quốc…

Đối với người chuyển giới từ nam sang nữ thì quá trình phẫu thuật có thể bao gồm: Phẫu thuật ngực, bộ phận sinh dục và các can thiệp phẫu thuật khác như phẫu thuật nữ tính hóa khuôn mặt, hút mỡ, phẫu thuật giọng nói, giảm sụn tuyến giáp, tăng cường nếp nhăn, cấy ghép tóc và các quy trình thẩm mỹ khác nhau. Đối với người chuyển giới từ nữ sang nam thì quá trình này có thể bao gồm: Phẫu thuật ngực, bộ phận sinh dục và các can thiệp phẫu thuật khác. Ở các quốc gia chỉ áp dụng đơn lẻ một mô hình điều trị như Nhật Bản thì quá trình phẫu thuật chuyển đổi giới tính thường dẫn tới tình trạng vô sinh ở người chuyển giới[6]. Bên cạnh đó, người chuyển giới vẫn phải tiếp nhận điều trị nội tiết tố cả trước và sau quá trình phẫu thuật để giữ các đặc điểm ngoại hình nhất định của giới tính mới[7].

Mô hình này đi kèm với các điều kiện khắt khe về độ tuổi, tình trạng hôn nhân, tình trạng sức khoẻ và sự xác nhận từ chuyên gia hoặc bác sĩ. Điều kiện chủ đạo ở mô hình này là các yếu tố cần thiết để một người có đủ khả năng tham gia phẫu thuật chuyển đổi giới tính.

(ii) Ưu điểm và hạn chế của mô hình

Phẫu thuật chuyển đổi giới tính hiện là biện pháp phổ biến nhất hiện nay, đặc biệt là ở các nước châu Á, theo đó, người nộp đơn yêu cầu sẽ không chỉ được công nhận với giới tính mới trên giấy tờ mà sẽ mang ngoại hình mới, phù hợp với giới tính mà họ chọn lựa. Việc này sẽ giúp ngăn ngừa tình trạng xáo trộn xã hội, giúp công tác quản lý thuận tiện hơn. Sau khi thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính, người nộp đơn yêu cầu sẽ có ngoại hình của giới tính mới nên sẽ dễ dàng hoà nhập trở lại cuộc sống hơn và ít gặp phải các trường hợp bị kì thị hơn so với các biện pháp điều trị khác khi mà họ vẫn giữ lại hình dáng của giới tính sinh học.

Bên cạnh ưu điểm nói trên, mô hình này cũng còn một số hạn chế. Về mặt lý luận, việc bắt người chuyển giới phải trải qua phẫu thuật để trở nên vô sinh dù họ không muốn là một hành vi xâm phạm quyền con người, nó xâm phạm quyền toàn vẹn thân thể, sức khỏe, quyền tự quyết và quyền được giải phóng khỏi sự tra tấn và ngược đãi theo tuyên ngôn của WHO[8]. Yêu cầu này còn được coi là vi phạm quyền không bị phân biệt đối xử dựa trên giới tính đã được quy định trong Công ước năm 1966 mà Việt Nam là thành viên và quy định trong Điều 13 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam.

Về mặt thực tiễn, quá trình phẫu thuật chuyển đổi giới tính có những rủi ro nhất định về sức khỏe. Khi trải qua phẫu thuật họ có thể chịu nhiều biến chứng và vấn đề về sức khoẻ sau khi phẫu thuật. Bên cạnh đó, người chuyển giới phải chấp nhận mất đi khả năng sinh sản của mình. Chi phí phẫu thuật chuyển đổi giới tính nhìn chung khá đắt đỏ. Ngoài ra, có một bộ phận người chuyển giới không muốn hoặc không thể thực hiện phẫu thuật do tình trạng sức khỏe không cho phép. Những người không muốn phẫu thuật nghĩa là họ cảm thấy thoải mái với việc ăn vận, cư xử và có đời sống xã hội của giới tính mình mong muốn. Việc ép buộc họ phải phẫu thuật mới được thừa nhận trước pháp luật có thể bị coi là hành vi phân biệt đối xử về giới tính[9]. Bên cạnh đó, có những người không thể phẫu thuật do sức khỏe yếu hoặc dễ xảy ra biến chứng nếu trải qua phẫu thuật. Việc pháp luật bắt họ phải phẫu thuật để được công nhận giới tính là đã tước đoạt đi quyền được sống với đúng giới tính của mình.

2.2. Mô hình đánh giá

(i) Nội dung mô hình

Mô hình đánh giá yêu cầu người chuyển giới phải trải qua quá trình đánh giá của bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý để được công nhận với giới tính mới về mặt pháp lý mà không cần phải trải qua bất kỳ can thiệp y tế nào như ở mô hình điều trị. Mô hình này cũng đi kèm với các điều kiện về đồ tuổi, tình trạng hôn nhân, lời tuyên thệ trước pháp luật về việc chuyển đổi giới tính và sự xác nhận của bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý. Các điều kiện về độ tuổi và tình trạng sức khoẻ ở mô hình này không khắt khe như ở mô hình điều trị bởi không có sự can thiệp y tế. Điều kiện về sự xác nhận của bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý đóng vai trò chủ đạo của mô hình này. Mô hình này thường được áp dụng ở các nước như Anh, Canada…

(ii) Ưu điểm và hạn chế của mô hình

Nhìn chung, mô hình đánh giá sẽ giải quyết được hầu hết các vấn đề gặp phải ở mô hình điều trị như các rủi ro về sức khoẻ hậu phẫu, điều kiện tài chính để thực hiện phẫu thuật, tình trạng sức khoẻ không đủ khả năng thực hiện phẫu thuật…

Về mặt pháp lý, trong quan hệ quốc tế, nhân quyền là một trong những vấn đề được những nước phát triển cực kỳ chú trọng, hành vi xâm phạm hoặc hạn chế quyền con người của một quốc gia sẽ ảnh hưởng tới cách nhìn nhận cũng như mối quan hệ quốc tế. Cụ thể đó là, việc cưỡng ép phẫu thuật và triệt sản của nhiều quốc gia, trong đó có Nhật Bản và Trung Quốc là một hành vi đang bị lên án mạnh mẽ bởi các tổ chức nhân quyền quốc tế bởi nó xâm phạm quyền được toàn vẹn thân thể của con người. Trong khi đó, nhiều quốc gia phát triển như: Nga, Mỹ, Canada, Úc, Đức, Anh, Đan Mạch... lại đang theo hướng không bắt buộc người chuyển giới phải phẫu thuật.

Về mặt đạo đức, cách quy định này nhân văn hơn khi không ép buộc lên người chuyển giới phải trải qua việc điều trị không mong muốn và cũng không buộc một người phải triệt sản, bởi vì khả năng sinh sản là một thiên chức thiêng liêng của con người. Và tất nhiên, đối với những người chuyển giới mà có nguyện vọng và có đủ điều kiện để phẫu thuật thay đổi giới tính hay dùng hoóc-môn thì họ hoàn toàn có thể áp dụng những quy định tương ứng để được công nhận với giới tính mới của mình.

Bên cạnh những ưu điểm trên, mô hình này có một số nhược điểm, cụ thể: Một người được thay đổi giới tính mà không cần trải qua bất cứ loại điều trị nào sẽ phát sinh một số vấn đề nhất định trong pháp luật và các quan hệ xã hội như trốn việc, bị truy nã, gian lận trong thể thao, trốn tránh việc cấp dưỡng, nuôi con…

Ngoài những vấn đề pháp lý liên quan, các nước thừa nhận mô hình này còn phải tìm cách giải quyết tình trạng hỗn loạn xã hội có thể xảy ra. Điển hình là việc người chuyển giới nên sử dụng những khu vực phân chia theo giới tính như nhà vệ sinh, nhà tắm hay phòng thay đồ, hoặc phòng giam như thế nào để đảm bảo quyền lợi của họ và cân bằng lợi ích của những người xung quanh…

3. Vận dụng ưu thế của mô hình đánh giá trong việc bảo vệ quyền của người chuyển đổi giới tính

3.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền chuyển đổi giới tính

Trước đây, pháp luật Việt Nam không cho phép hành vi phẫu thuật chuyển giới bởi đây là hành vi xâm phạm đến sự toàn vẹn cơ thể của một người không có khuyết tật về sinh học. Điều này được thể hiện trong Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2005 khi quy định này cho phép cá nhân có quyền được xác định lại giới tính song chỉ trong trường hợp giới tính bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác. Ngoài ra, trong Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05/8/2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính có quy định cấm hành vi “thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính”. Sau này đã có những thay đổi nhất định trong tư duy của các nhà lập pháp thể hiện ở Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật”. Như vậy, từ 01/01/2017, Việt Nam đã cho phép thực hiện chuyển đổi giới tính, tuy nhiên điều kiện về độ tuổi, quy trình, thủ tục công nhận người chuyển đổi giới tính để thay đổi giấy tờ hộ tịch, tiêu chuẩn về cơ sở được thực hiện chuyển đổi giới tính… chưa được quy định cụ thể. Do vậy, việc công nhận đối với người chuyển đổi giới tình hiện nay mới chỉ là trên lý thuyết mà chưa được triển khai thực hiện trong thực tiễn.

Để cải thiện tình trạng này Quyết định số 243/QĐ-TTg ngày 05/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Dân sự giao Bộ Y tế nghiên cứu, đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về chuyển đổi giới tính. Theo đó, dự án Luật Chuyển đổi giới tính được Bộ Y tế xây dựng từ năm 2016 (sau đây gọi là Dự luật) và hiện đang chờ Quốc hội xem xét quyết định đưa vào chương trình xây dựng luật.

3.2. Xây dựng quy định pháp luật về điều kiện chuyển đổi giới tính theo mô hình đánh giá

Tiếp thu cách quy định mô hình đánh giá của luật pháp nước ngoài, Dự luật đặt ra các điều kiện cụ thể dành cho mô hình này, như sau:

(i) Về độ tuổi

Để được nộp đơn yêu cầu chuyển đổi giới tính thì người này phải đủ 18 tuổi trở lên hoặc người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu có sự đồng ý từ cha mẹ hoặc người giám hộ. Dự luật được Bộ Y tế đề xuất độ tuổi phải từ 18 trở lên vì đây là độ tuổi mà công dân bắt đầu có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo Bộ luật Dân sự và có thể tự ra quyết định và chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Tuy nhiên, thực tế nghiên cứu cho thấy, hiện nay có nhiều người đã nhận định được bản dạng giới của mình từ sớm nên cũng cần thiết để họ có thể sớm sống đúng với giới tính của mình để tránh các tình trạng mắc bệnh về tâm lý mà điển hình là trầm cảm. Dự luật đặt ra quy định độ tuổi là 18 một phần là để đảm bảo sức khoẻ cũng như quá trình phát triển sinh lý của trẻ vị thành niên không bị ảnh hưởng do tác động của quá trình phẫu thuật và điều trị nội tiết tố, tuy nhiên cần phải hiểu rằng khi áp dụng mô hình đánh giá thì yếu tố sức khoẻ không còn quan trọng vì mô hình này không có bất kỳ một tác động y khoa nào lên người chuyển giới, vì vậy, độ tuổi yêu cầu nên được giảm xuống để đáp ứng nhu cầu thực tế của người chuyển giới.

(ii) Về tình trạng hôn nhân

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa công nhận hôn nhân đồng giới, vì kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng[10]. Vậy nên nếu một người đang trong quan hệ hôn nhân mà chuyển đổi giới tính thì quan hệ hôn nhân dị giới đã trở thành quan hệ hôn nhân đồng giới và không được luật pháp bảo hộ. Do đó, quy định “phải trong tình trạng độc thân” của Dự luật là hợp lý và phù hợp với tình hình của Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó, quy định này cũng giúp hạn chế làm tổn thương hoặc cảm giác bị lừa dối đối với người bạn đời đang trong quan hệ hôn nhân hợp pháp của người chuyển đổi giới tính. Như vậy, để không vi phạm pháp luật và tránh xảy ra các thiệt thòi về phía người vợ/chồng của người nộp đơn yêu cầu, điều kiện về tình trạng hôn nhân đặt ra cho người này phải là độc thân.

(iii) Về lời tuyên thệ trước pháp luật

Yêu cầu cam kết là một biến thể của điều kiện về sự tuyên thệ về mặt pháp lý (trong pháp luật Anh và Canada) cho phù hợp với pháp luật Việt Nam. Điều kiện này có thể hiểu là thay cho quy định cấm việc quay trở lại giới tính sinh học trên giấy tờ và quy định này mang tính chất tự nguyện hơn. Bởi vì, nếu trải qua phẫu thuật chuyển đổi giới tính thì người nộp đơn phải sống với giới tính mới và không thể trở lại giới tính cũ, còn trường hợp chuyển giới mà không cần qua phẫu thuật chuyển đổi giới tính thì họ vẫn có khả năng quay lại giới tính cũ. Do đó, việc tuyên thệ này là một quy định nhằm mang tính chất xác nhận rằng người nộp đơn sẽ không quay trở lại giới tính cũ và tránh sự xáo trộn trong xã hội và trên giấy tờ.

(iv) Về sự xác nhận của bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý

Điều kiện này là điểm nhấn và cũng là nền tảng của mô hình mà Anh và Canada áp dụng. Sự khác biệt so với mô hình điều trị đó là trong mô hình này, sau khi được bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý xác nhận giới tính thì người chuyển đổi giới tính không cần phải trải qua quá trình sống thử với giới tính mới.

Người nộp đơn cần được xác nhận bởi bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý rằng giới tính thật sự của mình không đồng nhất với giới tính sinh học. Sự xác nhận này phải được xác lập dưới hình thức một báo cáo y học và phải bao gồm các chi tiết cụ thể về quá trình tư vấn cũng như chẩn đoán. Đối với người từ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, ngoài các chi tiết nêu trên thì báo cáo còn cần có sự xác nhận của cả cha mẹ và người nộp đơn rằng người này tự nguyện đề ra quyết định về việc nộp đơn yêu cầu được thay đổi giới tính và có khả năng chịu trách nhiệm với quyết định của mình.

Đây là cách quy định học tập từ Canada và không khác biệt so với Dự luật hiện nay. Ở đây, sự xác nhận của bác sĩ không được hiểu là phải có chứng nhận rối loạn định dạng giới bởi vì như ở Nhật Bản và Anh thì cách quy định này thể hiện quan điểm “bệnh lý hóa” người chuyển giới và quá trình tư vấn tâm lý sẽ trở nên phức tạp hơn nhiều. Hơn nữa trên thực tế, nhiều người chuyển giới hoàn toàn không trải qua tình trạng này nên việc bắt buộc phải có giấy chẩn đoán sẽ là một sự khiên cưỡng đối với họ.

Đơn yêu cầu chuyển đổi giới tình cùng các bằng chứng về sự không đồng nhất giữa giới tính sinh học và bản dạng giới của người đệ đơn và báo cáo y khoa của bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý sẽ được xem xét bởi một cơ quan hành chính. Nếu các giấy tờ là hợp lệ thì cơ quan này có nghĩa vụ thực hiện thủ tục thay đổi giới tính trên các giấy tờ nhân thân cho người chuyển giới.

Tóm lại, bảo vệ quyền của người chuyển đổi giới tính là vấn đề cần thiết và cấp bách. Tuy nhiên, đây là một vấn đề có ảnh hưởng rất lớn đến mỗi cá nhân, về cả phương diện sức khoẻ, tâm lý, các quan hệ xã hội... Do đó, xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính cần có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực y tế bởi đây còn là vấn đề tương đối mới ở Việt Nam.

Nguyễn Phương Thảo

Nguyễn Thúy Lan Anh

Đại học Luật TP. Hà Nội





[1]. Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE), Giới thiệu về cộng đồng người chuyển giới ở Việt Nam.

[2]. Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE), Có bao nhiêu nước hợp pháp hóa chuyển đổi giới tính.

[3]. Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”.

[4]. Hoàng Yến, “Hiếp dâm người chuyển đổi giới tính có bị tội?”, http://plo.vn/thoi-su/hiep-dam-nguoi-chuyen-doi-gioi-tinh-co-bi-toi-358276.html, truy cập ngày 15/02/2019.

[5]. Viện iSEE: Báo cáo về tình hình quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam - Hướng đến phiên thứ 18 kiểm điểm định kỳ toàn cầu tại Liên Hợp Quốc của Việt Nam (tháng 1, 2/2014).

[6]. Khoản 5 Điều 3 Luật số 111 về các trường hợp đặc biệt khi điều trị cho đối tượng mắc bệnh rối loạn định dạng giới.

[7]. APA, “Answer to Your Question about Transgender People, Gender Identity and Gender Expression, American Psychological Association”, https://www.apa.org/topics/lgbt/transgender.aspx, truy cập ngày 03/02/2019.

[8]. OHCHR, UN Women, UNAIDS, UNDP, UNFPA, UNICEF and WHO (2014), Eliminating forced, coercive and otherwise involuntary sterilization - An interagency statement, p. 7 - 8.

[9]. Khoản 2 Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”.

[10]. Khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: