Chủ nhật 08/02/2026 06:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền riêng tư của người chết trong thời đại công nghệ số

Hiện nay, trong thời đại công nghệ số hoá phát triển mạnh mẽ như vũ bão, việc chúng ta đưa các thông tin của mình lên mạng để sử dụng vào những mục đích khác nhau như facebook, zalo…

Hiện nay, trong thời đại công nghệ số hoá phát triển mạnh mẽ như vũ bão, việc chúng ta đưa các thông tin của mình lên mạng để sử dụng vào những mục đích khác nhau như facebook, zalo… đã trở nên khá quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày. Việc làm này nhằm giúp thuận tiện hơn trong việc sử dụng các dịch vụ xã hội, tuy nhiên mặt trái của nó là tồn tại những nguy cơ bị người khác lợi dụng, đánh cắp thông tin để sử dụng vào các hành vi vi phạm pháp luật như hack facebook, giả mạo bạn bè, người thân để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sự xâm phạm quyền riêng tư này có thể xảy ra với nhiều đối tượng bao gồm những người đã chết. Cũng như nhiều các quốc gia trên thế giới, quyền con người, quyền riêng tư của mỗi cá nhân trong xã hội được pháp luật Việt Nam tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Đối với mỗi một cá nhân, ngay cả khi họ đã chết thì họ cũng đã từng là con người và vì thế, những quyền riêng tư mà họ muốn được bảo vệ cũng cần được đối xử như khi họ tồn tại. Bởi, mặc dù họ đã chết nhưng đó là những quyền con người gắn kết với cá nhân họ mà không ai có thể xâm phạm được.

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay đối với vấn đề này chưa được chú trọng một cách đúng mức, rà soát các quy định của pháp luật hiện nay có thể thấy, chưa có quy định nào quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi xâm phạm quyền riêng tư của một người sau khi họ đã chết, trong đó bao gồm các vấn đề như chia sẻ thông tin cá nhân, hình ảnh cá nhân, các bình luận mang tính xúc phạm danh dự nhân phẩm của họ cũng như các biện pháp nhằm bảo vệ quyền riêng tư của một người được xác định là không còn sống. Trong bài viết này, tác giả đề cập đến quyền riêng tư và sự cần thiết phải bảo vệ quyền riêng tư của người đã chết, qua đó, đưa ra một số kiến nghị về bảo vệ quyền riêng tư của người đã chết ở Việt Nam hiện nay.

1. Khái niệm quyền riêng tư

Mỗi một cá nhân trong xã hội từ khi được sinh ra đều có các quyền tự nhiên của mình, những quyền đó không bị tước bỏ bởi ai và bởi bất cứ chính thể nào - đó là các quyền mà cá nhân hiển nhiên có do sự tồn tại của mình (Thomas Fefferson, Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ)[1]. Trên cơ sở các quyền tự nhiên của con người, các quốc gia trên thế giới đã thiết lập những quy tắc chung nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân của mỗi cá thể trong Hiến pháp, trong đó, bao gồm quyền riêng tư.

Điều 12 trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights) của Đại hội đồng Liên Hợp quốc quy định: “Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân”. Tại Điều 14 Công ước quốc tế về quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ năm 1990 của Đại hội đồng Liên Hợp quốc nêu rõ: “Không ai được phép can thiệp một cách bất hợp pháp hoặc tùy tiện vào cuộc sống gia đình, đời tư, nhà cửa, thư tín hoặc các phương thức giao tiếp khác”. Mặc dù, ở các văn bản trên không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là quyền riêng tư nhưng thông qua những lập luận có thể hiểu rõ, quyền riêng tư của một người bao gồm các quyền về cuộc sống riêng tư, về gia đình, những bí mật cá nhân và danh dự nhân phẩm người khác và đó là những quyền tự nhiên không ai có thể tước bỏ. Ở một số các quốc gia trên thế giới, quyền riêng tư được hiểu là quyền của một người được giữ gìn và kiểm soát những gì trở thành danh tiếng, nhân phẩm, tính toàn vẹn, bí mật hoặc ký ức của người đó. Pháp luật của Pháp và Hoa Kỳ xem khái niệm quyền riêng tư hợp nhất với khái niệm bảo vệ dữ liệu cá nhân, sự riêng tư chính là sự bảo vệ dữ liệu cá nhân[2].

Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, quyền con người, quyền riêng tư của mỗi cá nhân trong xã hội được pháp luật Việt Nam tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể về quyền con người tại Chương II, trên cơ sở đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực từ 01/01/2017 đã dành riêng một mục với 15 điều quy định chi tiết về những quyền nhân thân như: Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 38); quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 34); quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 32); quyền chuyển đổi giới tính (Điều 37); quyền xác định lại giới tính (Điều 36). Trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005, khoản 2 Điều 46 về bảo mật thông tin trong giao dịch điện tử quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng, cung cấp hoặc tiết lộ thông tin về bí mật đời tư hoặc thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà mình tiếp cận hoặc kiểm soát được trong giao dịch điện tử nếu không được sự đồng ý của họ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Điều 16 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 quy định nguyên tắc bảo vệ thông tin cá nhân trên mạng, theo đó: “1. Cá nhân tự bảo vệ thông tin cá nhân của mình và tuân thủ quy định của pháp luật về cung cấp thông tin cá nhân khi sử dụng dịch vụ trên mạng. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân có trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin mạng đối với thông tin do mình xử lý”.

Trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam, quyền riêng tư của mỗi cá thể trong cộng đồng đều được bảo vệ, mặc dù vậy, trong bối cảnh hiện nay, khi mỗi cá nhân trong xã hội đều có thể chia sẻ nhiều thông tin cá nhân, thông tin liên lạc và hình ảnh trực tuyến của mình một cách rộng rãi thì quyền riêng tư của mỗi cá nhân có nguy cơ bị xâm phạm vì những mục đích khác nhau. Việc chưa có định nghĩa thống nhất về quyền riêng tư đang làm vấn đề trở nên khó xác định, vì theo một nghĩa nào đó, tất cả các quyền con người đều có khía cạnh của quyền riêng tư, đặc biệt, khi sự xâm hại quyền riêng tư này được thực hiện đối với những người đã chết.

2. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền riêng tư của người đã chết

2.1. Quyền riêng tư là quyền cơ bản của mỗi cá nhân cần được tôn trọng và bảo vệ ngay cả khi họ đã chết

Hiện nay, mặc dù chưa có một định nghĩa cụ thể, thống nhất nào về quyền riêng tư, tuy nhiên, xét ở sự tương đồng quyền riêng tư mang nội hàm của đời sống riêng tư và bí mật gia đình. Trong đó, quyền về đời sống riêng và bí mật gia đình là quyền về những việc, những mối liên hệ, những mối quan hệ mang tính riêng của mỗi một cá nhân mà cá nhân giữ cho riêng mình; đó cũng là quyền nhân thân tuyệt đối của mỗi cá nhân. Trên cơ sở của tự do và chủ động, mỗi cá nhân có thể thiết lập sự riêng tư của mình hài hòa với quan niệm xã hội hoặc những mối liên hệ khác mà pháp luật không cấm, đó có thể là quyền không bị chia sẻ hình ảnh cá nhân, quyền không bị xâm phạm về thông tin gia đình, nơi ở, tài khoản liên hệ; đó cũng có thể là những bí mật, những quan hệ ở quá khứ và hiện tại mà cá nhân không muốn công khai… Đối với mỗi một cá nhân, ngay cả khi họ đã chết thì họ cũng đã từng là con người và vì thế, những quyền riêng tư mà họ muốn được bảo vệ cũng cần được đối xử như khi họ tồn tại. Bở vì, dù họ đã chết nhưng đó là những quyền con người gắn kết với cá nhân họ mà không ai có thể xâm phạm được.

2.2. Quyền riêng tư của người đã chết đang bị xâm phạm

Trong thời đại công nghệ số, việc một người thường sử dụng dữ liệu cá nhân tham gia vào các quan hệ trên mạng xã hội ngày càng phổ biến. Vì vậy, việc liên kết thông tin và tìm kiếm thông tin trở nên dễ dàng, đặc biệt là thông tin cá nhân. Tuy nhiên, bên cạnh việc mỗi người có sự chủ động trong việc chia sẻ các thông tin cá nhân hoặc sự riêng tư của mình trên mạng xã hội như nơi ở, hình ảnh cá nhân, gia đình, bạn bè, công việc, thậm chí là thói quen hay sở thích thì việc các thông tin đó được lan truyền hoặc xâm hại khi người đó chết đi cũng là vấn đề không được kiểm soát và có thể ngoài ý muốn chủ quan của họ. Khi một người chết đi vì một lý do đặc biệt như trường hợp 39 người Việt Nam chết ở Anh, báo chí và mạng xã hội đã đăng tải hình ảnh của một số cá nhân nằm trong diện mất tích mặc dù chưa có xác nhận nào có tính xác thực rằng người đó là một trong số 39 người, một số tài khoản đăng tải hình ảnh gia đình các nạn nhân cùng với những bình luận công khai về họ trên mạng xã hội mà không có bất kỳ sự cho phép nào[3]. Vấn đề đặt ra là, liệu việc thông tin cá nhân của các nạn nhân bị chia sẻ và đăng tải có phải là ý muốn của họ nếu họ thực sự còn sống? Một tài khoản khác có quyền chia sẻ các thông tin cá nhân của một người khác khi họ đã chết hay không? Báo chí và truyền thông có quyền được làm điều đó không, quyền riêng tư của người đã chết đã được pháp luật bảo vệ hay chưa?

Vào tháng 9/2019, Google đã đồng ý trả 170 triệu đô la để giải quyết các cáo buộc rằng dịch vụ video YouTube của họ đã thu thập dữ liệu cá nhân về trẻ em mà không có sự đồng ý của cha mẹ và Tập đoàn Alphabet đã kiếm được 30,7 tỷ đô la trong năm 2018 với doanh thu 136,8 tỷ đô la, chủ yếu từ quảng cáo được nhắm tới những mục tiêu định dạng sẵn[4]. Tương tự, năm 2018, Quốc hội Anh công bố tài liệu nội bộ cho thấy, Facebook đã thỏa thuận bán dữ liệu người dùng cho một công ty thứ 3, theo đó, thỏa thuận trên cho phép các công ty khác truy cập vào dữ liệu người dùng kể cả khi những công ty đó hết thời hạn được cấp quyền, các công ty như Netflix và Airbnb được truy cập dữ liệu bất kể thời hạn được người dùng cấp quyền còn hay không[5]. Trong thời đại số, ngày càng có nhiều người sử dụng phương tiện truyền thông, mạng xã hội để chia sẻ thông tin thì vấn đề xâm phạm quyền riêng tư vì những mục đích khác nhau là một trong những nguy cơ đáng lo ngại. Một giả thiết được đặt ra rằng, nếu một người đang sở hữu các dữ liệu cá nhân như tài khoản mạng xã hội, tài khoản tín dụng nhưng họ đã qua đời sau đó thì các hành vi xâm phạm dữ liệu cá nhân của họ, các hành vi xúc phạm danh sự nhân phẩm người đã chết hoặc các hành vi tấn công tài khoản tín dụng của họ được bảo vệ như thế nào khi bản thân họ không thể lên tiếng hoặc kiểm soát vấn đề đó nữa.

2.3. Pháp luật Việt Nam đang thiếu các quy định nhằm bảo vệ quyền riêng tư của một người sau khi họ qua đời

Pháp luật Việt Nam hiện nay có những quy định nhằm bảo vệ quyền riêng tư của công dân như Điều 21 Hiến pháp năm 2013, Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 46 Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Điều 16 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015. Theo đó, các hành vi xâm phạm quyền riêng tư có thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự theo Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, hầu hết các quy định hiện nay đều hướng tới đến bảo vệ quyền riêng tư của người còn sống. Trong khi đó, ở thời đại của internet, sự xâm phạm quyền riêng tư có thể xảy ra với nhiều các đối tượng bao gồm những người đã chết. Pháp luật Việt Nam hiện nay đối với vấn đề này chưa được chú trọng một cách đúng mức. Rà soát các quy định của pháp luật hiện nay có thể thấy, chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi xâm phạm quyền riêng tư của một người sau khi họ đã chết, trong đó bao gồm các vấn đề như chia sẻ thông tin cá nhân, hình ảnh cá nhân, các bình luận mang tính xúc phạm danh dự nhân phẩm của họ cũng như các biện pháp nhằm bảo vệ quyền riêng tư của một người được xác định là không còn sống.

3. Một số kiến nghị về bảo vệ quyền riêng tư của người đã chết ở Việt Nam

Năm 2014, Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp quốc đã đưa ra báo cáo về quyền riêng tư trong thời đại kỹ thuật số, đối chiếu với pháp luật một số quốc gia và pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư trong thời đại kỹ thuật số, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm bảo vệ quyền riêng tư của một người sau khi họ đã chết như sau:

(i) Trong chính sách và pháp luật Việt Nam cần xem vấn đề bảo vệ quyền riêng tư của một người sau khi họ đã chết một cách riêng biệt và cụ thể. Nghiên cứu xem xét dữ liệu cá nhân như là một tài sản trong Bộ Luật Dân sự.

(ii) Xây dựng, ban hành một đạo luật quy định rõ ràng về nội dung, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp giám sát, theo dõi thư tín, truyền thông internet của cá nhân, cũng như cơ chế giám sát, khiếu nại, khiếu kiện trong trường hợp có sự vi phạm. Trong đó, các quy định về bảo vệ quyền riêng tư cần có sự tách bạch giữa một người còn đang sống và một người đã chết.

(iii) Các quy định về quyền của một người cần được giữ gìn và kiểm soát những gì trở thành danh tiếng, nhân phẩm, tính toàn vẹn, bí mật hoặc ký ức của người đó sau khi chết cũng cần được xây dựng.

ThS. Đặng Thị Hà

ThS. Bùi Thị Thuận Ánh

Đại học Luật thuộc Đại học Huế







[1]. Nguyễn Cảnh Bình, Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào, Nxb. Thế giới, năm 2015.

[2]. Http://theconversation.com/people-are-going-to-court-over-dead-family-members-facebook-pages-its-time-for-post-mortem-privacy-78375?utm_source=facebook&fbclid=IwAR0R2daDJV8rg_ NCnEsK2szXzkFLw9uyizqJsWbhrxuOjXP9MXhOIdBXU-8.

- Natasha Chu, Protecting Privacy after death, Northwestern Journal of Technology and Intellectual Property, Northwestern University School of Law, USA.

Https://scholarlycommons.law.northwestern.edu/njtip/vol13/iss2/8/.

[3]. Https://thanhnien.vn/the-gioi/canh-sat-anh-cong-bo-danh-tinh-39-nan-nhan-nguoi-viet-chet-trong-xe-container-1146351.html.

-Https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/nguoi-viet-chet-o-anh-cha-chan-dong-khi-nhan-cuoc-goi-cua-canh-sat-584343.html#inner-article.

[4]. Https://www.identitymanagementinstitute.org/6-reasons-why-data-privacy-is-dead/.

[5]. Https://congnghe.tuoitre.vn/facebook-se-bi-phat-5-ti-usd-vi-ro-ri-du-lieu-nguoi-dung-20190713055202398.htm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: