Thứ tư 14/01/2026 12:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và một số đề xuất

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, đưa ra một số bất cập trong quy định pháp luật hiện hành để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, đưa ra một số bất cập trong quy định pháp luật hiện hành để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Abstract: This paper studies and assesses the current status of the legal provisions on corporate income tax incentives in Vietnam recently, and points out some shortcomings in the current legal provisions, and hence proposes some solutions for improving the institution on corporate income tax incentives.

Từ khi nước ta chuyển đổi nền kinh tế, chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (ƯĐTTNDN) đã được đưa vào Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản pháp luật về đầu tư. Qua một thời gian dài thực hiện, chúng ta đã có hệ thống pháp luật về ƯĐTTNDN đa dạng và tương đối hoàn chỉnh với các quy định chi tiết về các điều kiện ưu đãi, hình thức ưu đãi, mức độ ưu đãi... Điều này đã góp phần tạo sự chuyển biến trong phân bổ nguồn lực, khuyến khích và tăng cường thu hút đầu tư có chọn lọc để phát triển các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm xóa đói, giảm nghèo và một số ngành lĩnh vực quan trọng theo chính sách phát triển của Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh việc khuyến khích đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, chính sách ƯĐTTNDN vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục, ưu đãi về thuế nằm rải rác trong nhiều quy định như quy định về miễn thuế, chuyển lỗ, miễn giảm thu nhập chịu thuế. Mặc dù, quyền lợi của người nộp thuế từ ưu đãi thuế đã được quy định rõ trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) nhưng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập do sự thiếu thống nhất trong áp dụng các văn bản pháp luật ưu đãi thuế về trình tự, thủ tục được nhận ưu đãi thuế. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập với kinh tế khu vực và quốc tế, môi trường đầu tư và môi trường kinh doanh cần được nâng cao để đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách nhà nước, đồng thời khuyến khích thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp thì việc hoàn thiện các quy định về ƯĐTTNDN, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật là cần thiết và cấp bách. Do đó, bài viết phân tích một số bất cập trong quy định pháp luật hiện hành về ƯĐTTNDN và từ đó đề xuất ý kiến pháp lý góp phần hoàn thiện pháp luật.

1. Bất cập trong quy định pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Một là, việc duy trì hai hình thức ƯĐTTNDN là ưu đãi về thuế suất và ưu đãi về thời gian miễn giảm thuế. Điều này một mặt có thể dẫn đến nguy cơ các doanh nghiệp “lách luật” bằng cách sau khi thời gian miễn, giảm thuế kết thúc sẽ tìm cách kê khai lỗ (hoặc có thể thực hiện các thủ đoạn như chuyển giá) hoặc tiến hành giải thể để thành lập doanh nghiệp mới; mặt khác sẽ dẫn đến tình trạng chồng lấn giữa cơ chế ưu đãi về thuế suất và thời gian miễn, giảm thuế. Vì vậy, cần xem xét để chọn một trong hai hình thức ưu đãi hoặc là ưu đãi theo thuế suất hoặc là ưu đãi theo thời gian miễn, giảm thuế[1].

Hai là, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp nước ta hiện nay có quy định về thời gian ưu đãi tương đối dài so với các nước trong khu vực. Điều 13 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2013 có quy định áp dụng mức thuế suất 10% trong 15 năm đối với các doanh đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn được hưởng ưu đãi, đối với dự án cần đặc biệt thu hút đầu tư có quy mô lớn và công nghệ cao thì thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể kéo dài thêm, nhưng thời gian kéo dài thêm không quá 15 năm. Do đó, thời gian áp dụng thuế suất 10% có thể kéo dài tối đa trong 30 năm. Thuế suất 17% được áp dụng trong 10 năm kể từ ngày 01/01/2016. Bên cạnh thuế suất ưu đãi, pháp luật cũng quy định về thời gian miễn, giảm thuế bao gồm miễn thuế tối đa không quá 04 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá 09 năm tiếp theo. Thực tế, tại Việt Nam đã có một số doanh nghiệp FDI được hưởng mức ưu đãi kịch khung điển hình là Samsung nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam hiện nay, với tổng vốn đăng kí trên 11,2 tỷ USD hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 30 năm, miễn 04 năm và giảm 50% trong 09 năm tiếp theo[2].

Tuy nhiên, so với đa số các nước trong khu vực thì thời gian ƯĐTTNDN của nước ta là tương đối dài. Như ở Thái Lan, số thuế được miễn trong thời kỳ ưu đãi không vượt quá số vốn đầu tư của dự án được khuyến khích và thời gian ưu đãi không quá 08 năm; Hàn Quốc cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao được miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 05 năm, kể từ năm đầu tiên kinh doanh có lãi và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp cho 02 năm tiếp theo; Trung Quốc cũng cho phép miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm các trường hợp: Miễn thuế trong 01 năm đầu có lãi và giảm 50% số thuế phải nộp trong 02 năm tiếp theo, miễn thuế trong 02 năm đầu có lãi và 50% số thuế phải nộp cho 03 năm tiếp theo, miễn thuế trong 05 năm đầu có lãi và giảm 50% số thuế phải nộp cho 05 năm tiếp theo[3]. Bởi vậy, cần xem xét giảm thời gian ưu đãi xuống để tránh tình trạng doanh nghiệp ỷ lại vào ưu đãi và phù hợp với các nước trên thế giới.

Ba là, việc lồng ghép các chính sách xã hội vào các điều khoản ưu đãi miễn, giảm thuế như quy định về miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay không còn phù hợp. Nguyên nhân là vì chúng ta đặt ra cho luật thuế này quá nhiều mục tiêu, trong đó, có không ít mục tiêu thuộc phạm vi xã hội lẽ ra phải giải quyết bằng những công cụ khác. Những quy định miễn giảm thuế này chẳng những không mang lại lợi ích cho các chính sách thuế mà còn gây phức tạp trong quản lý và làm giảm đi tính trung lập và tính thuần khiết kinh tế của chúng, dễ dẫn đến các hiện tượng lợi dụng để trốn thuế[4]. Bên cạnh đó, việc lồng ghép quá nhiều chính sách xã hội vào chính sách thuế sẽ không bảo đảm tính trung lập của thuế và việc miễn, giảm thuế tại thời điểm hiện nay cho một số đối tượng sẽ khó bảo đảm tính khả thi, thiếu chặt chẽ trong quản lý, dễ phát sinh tiêu cực và gây nhiều vướng mắc trong triển khai thực hiện[5].

Bốn là, quy định về chuyển lỗ trong thời hạn 05 năm nên thực tế nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng sự ưu đãi này để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp. Các doanh nghiệp tìm mọi cách hợp lí hóa chi phí như tăng chi phí đầu vào, cung cấp dịch vụ “ảo” (dịch vụ kế toán, tư vấn, tài chính... tính giá cao) để xác định kết quả lỗ, có thể lỗ nặng ở những năm đầu của dự án đầu tư, đến những năm sau thu nhập ít hoặc gần như không có thu nhập để khoản lỗ khấu trừ mãi không hết trong tận 05 năm sau.

Năm là, do việc ưu đãi áp dụng đối với quá nhiều trường hợp nên các dự án đầu tư liên quan đến nhiều ngành nghề, nhiều địa bàn khác nhau sẽ khó xác định chính xác mức độ ưu đãi.

Sáu là, bất cập trong quy định về thủ tục hưởng ưu đãi do cơ chế ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp chưa ổn định, thay đổi liên tục trong thời gian ngắn, quá nhiều văn bản, thông tin đa chiều, văn bản chưa hướng dẫn chi tiết, chưa rõ ràng, đôi lúc còn chồng chéo chưa nhất quán. Trên thực tế, theo khảo sát của Hội tư vấn thuế Việt Nam đối với 69 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bắc Ninh thì chỉ có 09 doanh nghiệp cho rằng thủ tục thực hiện ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp thuận lợi, còn phần lớn cho là gặp khó khăn trong tuân thủ chế độ kê khai. Do tính phức tạp của các quy định về ưu đãi thuế nên để được hưởng ưu đãi thuế, doanh nghiệp phải tiến hành nhiều thủ tục trong xác định doanh thu, chi phí, xác định thời gian chuyển lỗ. Sự thiếu kịp thời hướng dẫn thi hành khiến cho việc áp dụng pháp luật để được ưu đãi thuế còn gặp khó khăn, thậm chí có trường hợp được trả lời không đúng quy định. Ngoài ra, ở Việt Nam chưa có cơ chế áp dụng tự động các hiệp định thuế quan, thương mại, theo đó, sau khi hiệp định được phê chuẩn cần phải có nghị định quy định chi tiết. Về nguyên tắc, việc ban hành quy định chi tiết của Chính phủ là cần thiết nhưng cần quy định nguyên tắc áp dụng ưu tiên khi hiệp định được phê chuẩn, tránh việc chậm chạp trong lập quy ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh. Ngoài ra còn giúp cho nhà đầu tư hạn chế tình trạng rủi ro trong áp dụng quy định về ưu đãi. Sự bất cập trong công nhận quyền được ưu đãi thuế được ghi nhận trong hiệp định là sự thừa nhận quyền hưởng ưu đãi trong khi pháp luật Việt Nam không phải công nhận đương nhiên áp dụng, và doanh nghiệp có thể bị đánh thuế hai lần do vấn đề liên quan đến thủ tục xác định quyền được hưởng ưu đãi[6].

2. Một số đề xuất

Trong thời gian tới, hệ thống pháp luật thuế, đặc biệt các quy định pháp luật về ưu đãi, miễn, giảm thuế cần được tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục tốt hơn những mặt còn hạn chế, thiếu sót do chưa đồng bộ, chưa phù hợp với cơ chế thị trường, những điểm quy định chưa chặt chẽ, tạo kẽ hở cho các tổ chức, cá nhân lợi dụng gian lận thuế, những quy định ưu đãi quá phức tạp, khó thực hiện, làm giảm hiệu quả của các biện pháp kích thích lợi ích kinh tế. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, cần lựa chọn một trong hai hình thức ưu đãi thuế là ưu đãi về thuế suất hoặc ưu đãi về thời gian miễn, giảm thuế để tránh tình trạng gian lận nhằm được hưởng ưu đãi thuế nhiều lần, trốn tránh nghĩa vụ thuế. Theo đó, nên áp dụng ưu đãi về thuế suất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa để hỗ trợ các doanh nghiệp này phát triển trong nền kinh tế cạnh tranh cao hiện nay và ưu đãi về miễn giảm thuế có thời hạn nên được áp dụng cho các lĩnh vực và địa bàn cần khuyến khích đầu tư, để định hướng sản xuất. Ngoài ra, nên cân nhắc giảm ưu đãi thuế đối với các nhà đầu tư nước ngoài bởi thực chất càng ưu đãi càng bất lợi. Có một số nhà đầu tư, đặc biệt là các tập đoàn, công ty đa quốc gia lớn thường yêu cầu Chính phủ dành cho những ưu đãi thuế như là một điều kiện tiên quyết để họ quyết định đầu tư vào Việt Nam. Nhưng các cơ chế ưu đãi về thuế này không phải là yếu tố nhà đầu tư quan tâm mà lại đang làm khó ngược trở lại cho ngân sách nhà nước”, ông Ramesh Khadka - cố vấn cấp cao của Action Aid nhấn mạnh[7]. Đồng thời, theo ý kiến của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) thì chính sách ưu đãi thuế dùng để thu hút đầu tư sẽ không hiệu quả bởi đây là yếu tố thứ 17/21 yếu tố nhà đầu tư quan tâm khi quyết định đầu tư. Ngược lại, theo kết quả điều tra về ưu đãi đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam được UNIDO công bố hồi tháng 6/2014 thì chính sách ưu đãi đầu tư bằng thuế đã tạo ra sự khác biệt giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước gây ra nhiều bất lợi cho Việt Nam.

Trong khi đó, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, tỷ lệ người nghèo còn cao, thường xuyên bội chi ngân sách nhưng hàng năm, chúng ta đã tự làm hụt đi khoản thu ngân sách lớn khi áp dụng khá rộng chính sách ưu đãi thuế cho đầu tư nước ngoài. Lẽ ra số tiền ưu đãi này, nếu không cho ưu đãi thì sẽ được thu vào ngân sách nhà nước, được dùng cho đầu tư công, cho các hoạt động công ích… và những khoản đầu tư này sẽ trở lại tạo điều kiện về hạ tầng kỹ thuật thiết yếu thuận lợi hơn cho đầu tư tư nhân trong nước và doanh nhân nước ngoài. Việt Nam đã bước qua giai đoạn thu hút FDI bằng mọi giá, do vậy nên cân nhắc, chỉ cho phép ưu đãi thuế đối với một số ngành nghề, lĩnh vực, vùng miền và trong những trường hợp có lợi nhất so với các hình thức ưu đãi khác.

Thứ hai, nên xem xét giảm thời gian ưu đãi thuế bởi vì hiện nay thời gian ưu đãi thuế tương đối dài, tối đa có thể lên tới 30 năm. Việc áp dụng thời gian ưu đãi quá dài trước hết làm giảm thu ngân sách nhà nước trong nhiều năm, thứ hai làm cho các doanh nghiệp mang tâm lý trông chờ vào các chính sách ưu đãi thuế, chất lượng dự án của các nhà đầu tư sẽ không đảm bảo. Mặt khác, với thời gian ưu đãi dài như vậy dễ gây ra tình trạng các doanh nghiệp nước ngoài cứ đầu tư vào Việt Nam là xin ưu đãi, thậm chí là ưu đãi vượt khung. Điển hình là mới đây Samsung xin ưu đãi vượt khung cho Dự án Samsung CE Complex trị giá 1,4 tỷ USD[8].

Thứ ba, bỏ bớt các ưu đãi nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội như: Miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, sử dụng người lao động là người dân tộc thiểu số. Việc bỏ bớt các ưu đãi này sẽ giúp chính sách thuế đơn giản hơn đồng thời tránh việc lợi dụng để trốn tránh thuế. Tất nhiên, cùng với việc thực hiện đề xuất này, cần chuyển việc thực hiện chính sách ưu đãi, giúp đỡ các đối tượng này sang các hoạt động khác của Nhà nước như chi ngân sách, tín dụng ưu đãi.

Thứ tư, thời gian chuyển lỗ là 05 năm quy định tại Điều 16 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) nên được rút ngắn xuống dưới 05 năm để tránh tình trạng sử dụng các thủ đoạn làm cho doanh nghiệp bị lỗ, lợi dụng chuyển lỗ để giảm thu nhập tính thuế đồng thời làm cho các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh kém phải cố gắng phấn đấu cải thiện tình hình kinh doanh. Như vậy, quy định về chuyển lỗ mới thực sự có hiệu quả trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp trên thực tế.

Thứ năm, nên quy định cụ thể, rõ ràng, minh bạch các trường hợp doanh nghiệp được hưởng nhiều ưu đãi từ các dự án liên quan đến nhiều ngành nghề, nhiều địa bàn khác nhau. Đồng thời các cán bộ thuế cần có trách nhiệm hướng dẫn các doanh nghiệp xác định đúng mức ưu đãi trong những trường hợp này.

Thứ sáu, đơn giản hóa thủ tục cấp ƯĐTTNDN, tạo mọi điều kiện về thủ tục cho doanh nghiệp đầu tư được kê khai, tính thuế và tự động được hưởng ƯĐTTNDN theo quy định của pháp luật, tránh rườm rà, phức tạp, gây tâm lý e ngại cho các doanh nghiệp. Nhưng đơn giản là để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn khi được ưu đãi, tránh việc do thủ tục rắc rối không thu hút được đầu tư. Điều đó không có nghĩa là đơn giản đến mức dễ dãi cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp. Bởi lẽ, trên thực tế xuất hiện lo sợ rằng, nếu đơn giản quá về thủ tục, các doanh nghiệp sẽ đăng kí rất nhiều, thậm chí chia nhỏ dự án đầu tư ra để đòi quyền ưu đãi thuế thu nhập, thì các doanh nghiệp sẽ ỷ lại vào ưu đãi, không có sự đầu tư về chất xám, công nghệ để nâng cao tầm vóc của mình.

Trường hợp các chính sách thuế được sửa đổi, bổ sung, cần ban hành đồng bộ và kịp thời các mẫu đăng kí, kê khai, nộp thuế và các mẫu giấy tờ liên quan để đảm bảo tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước.

Thứ bảy, về nguyên tắc, thực hiện thẩm quyền thu nộp thuế do cơ quan thuế thực hiện nhân danh Nhà nước nhằm đảm bảo công bằng, chính xác trong xác định nghĩa vụ nộp thuế. Tuy nhiên, nếu việc thực hiện thẩm quyền tạo ra sự bất đồng với người nộp thuế thì cũng cần xem xét để hạn chế nguyên nhân dẫn đến bất đồng. Theo đó, Luật Quản lý thuế cần quy định chi tiết về nghĩa vụ của cơ quan thuế trong cụ thể hóa quy trình thu nộp thuế, và công khai quy trình để người nộp thuế thực hiện cũng như tạo cơ sở giám sát cộng đồng đối với thực hiện nghĩa vụ của cán bộ thuế. Với yêu cầu trên, cần giữ nguyên Điều 112 về xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với cơ quan quản lý thuế và Điều 113 về xử lý vi phạm pháp luật đối với công chức quản lý thuế theo Luật hiện hành để làm tôn chỉ thực thi pháp luật thuế. Những quy định này cần thiết gắn chế tài với thực hiện thẩm quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm cũng như bảo đảm sự tôn trọng đối với người nộp thuế[9].

TS. Nguyễn Minh Hằng

ThS. Nguyễn Hải Yến

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Lê Vũ Nam (2013), Ưu đãi thuế trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 8/tháng 4, tr.31.

[2]. Luật Dương Gia, Vướng mắc về thời hạn ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, xem thêm tại http://luatduonggia.vn/vuong-mac-ve-thoi-han-uu-dai-thue-thu-nhap-doanh-nghiep, truy cập ngày 01/12/2018.

[3]. Chính phủ, Báo cáo kinh nghiệm cải cách chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp của một số mước trên thế giới, xem thêm http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_TAILIEU_COBAN/Attachments/1037/6._bc-CP_kinh_nghiem_quoc_te_ve_cai_cach_chsach_thue_GTGT.doc, truy cập ngày 01/12/2018.

[4]. Bành Quốc Tuấn (2013), Hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 8/2013, tr. 44.

[5]. Xemhttp://www.baodanang.vn/channel/5399/201107/uy-ban-thuong-vu-quoc-hoi-xem-xet-viec-mien-giam-gian-thue-2060918/.

[6]. Duy Phan, Hàng loạt bất cập của chính sách thuế bị mổ xẻ, Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tài chính vào cuộc, xem thêm tại https://vietnamfinance.vn/hang-loat-bat-cap-cua-chinh-sach-thue-bi-mo-xe-thu-tuong-chi-dao-bo-tai-chinh-vao-cuoc-20180504224210390.htm, truy cập ngày 01/12/2018.

[7]. Quá lãng phí khi ưu đãi thuế cho nhà đầu tư, xem thêm tại http://nguyentandung.org/qua-lang-phi-khi-uu-dai-thue-cho-nha-dau-tu.html, truy cập ngày 01/12/2018.

[8]. Samsung đề nghị ưu đãi vượt khung cho dự án 1,4 tỷ USD, xem thêm tại http://www.fica.vn/dong-chay-von/dau-tu/samsung-de-nghi-uu-dai-vuot-khung-cho-du-an-1-4-ty-usd-25353.html.

[9]. Xem Mục II.7, Báo cáo thẩm tra về Dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi) của Ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội ngày 18/10/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: