Thứ sáu 23/10/2026 02:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát biển phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho bà con ngư dân

Bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong bối cảnh tình hình Biển Đông còn nhiều diễn biến phức tạp, thời gian qua, lực lượng Bộ đội Biên phòng đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng Cảnh sát biển đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho bà con ngư dân, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Biển, đảo Việt Nam có tầm quan trọng chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức sâu sắc về điều đó, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã chủ động phối hợp với Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển và các địa phương ven biển thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho bà con ngư dân, qua đó phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trên biển; quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc; đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm phạm trái phép của tầu thuyền nước ngoài vi phạm vùng biển, đảo Việt Nam; kịp thời ngăn chặn hoạt động của các loại tội phạm trên biển, tạo môi trường thuận lợi cho các ngành kinh tế biển, ven bờ và hợp tác quốc tế phát triển.

Từ năm 2015 đến nay, Bộ đội Biên phòng đã phối hợp với lực lượng Cảnh sát biển tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có trọng tâm, trọng điểm cho cán bộ, nhân dân, các chủ phương tiện, các doanh nghiệp và bà con ngư dân các địa phương về những nội dung chính sau đây:

Một là, chú trọng phối hợp tuyên truyền nâng cao nhận thức về pháp luật cho cán bộ, nhân dân, nhất là đối với ngư dân, chủ doanh nghiệp, chủ phương tiện hoạt động ở vùng biển xa bờ tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc; nhằm làm cho cán bộ, nhân dân, ngư dân, chủ phương tiện nắm vững kiến thức cơ bản về biển, đảo, như: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, khu vực biên giới biển và các quy định liên quan đến biển, đảo Việt Nam, cũng như các hiệp định đã ký với các nước trong khu vực. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ để tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các loại tội phạm trên biển; hướng dẫn, giúp đỡ bà con ngư dân chấp hành tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo Việt Nam.

Hai là, phối hợp tuyên truyền về đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề Biển Đông; vùng biển, đảo có chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam phù hợp với Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982; phù hợp với Luật Biển của Việt Nam năm 2013.

Ba là, phối hợp tuyên truyền về luật pháp liên quan đến biển, đảo Việt Nam, trong đó tập trung tuyên truyền về Luật Biên giới Quốc gia, Luật Biển Việt Nam năm 2013 và Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Việt Nam năm 2015.

Bốn là, phối hợp tuyên truyền cho các chủ tàu thuyền, ngư dân, người lao động, sản xuất, làm ăn trên biển ở 28 tỉnh, thành phố ven biển không xâm phạm đánh bắt hải sản ở vùng biển của các nước láng giềng.

Năm là, phối hợp tuyên truyền phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, thảm họa môi trường, tìm kiếm cứu nạn cho các chủ tàu thuyền và ngư dân khi có bão, áp thấp nhiệt đới và sự cố môi trường biển xảy ra.

Sáu là, phối hợp tổ chức tuyên truyền cho các chủ phương tiện và bà con ngư dân tham gia cùng Bộ đội Biên phòng, Hải quân và Cảnh sát biển bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam; ngăn chặn tàu cá nước ngoài xâm phạm trái phép đánh bắt hải sản trên vùng biển có chủ quyền của Việt Nam; giữ gìn an ninh trật tự các vùng biển, đảo và an ninh nông thôn.

Với những nội dung phối hợp tuyên truyền cơ bản nói trên, 03 năm qua (2015 - 2017), Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát biển đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về biển đảo Việt Nam, cụ thể: Các đơn vị của hai lực lượng đã phối hợp tổ chức tuyên truyền được 1.298 buổi/89.721 lượt cán bộ, nhân dân, ngư dân, chủ phương tiện, chủ doanh nghiệp về đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề Biển Đông; vùng biển, đảo có chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam phù hợp với Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, phù hợp với Luật Biển của Việt Nam năm 2013. Đặc biệt, các đơn vị Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát biển đã phối hợp với các bộ, ngành trung ương, các sở, ngành địa phương tổ chức tuyên truyền về luật pháp liên quan đến biển, đảo Việt Nam, trong đó tập trung tuyên truyền về Luật Biên giới Quốc gia, Luật Biển Việt Nam năm 2013 và Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Việt Nam năm 2015 được 3.729 buổi/108.891 lượt người tham gia; tuyên truyền cho các chủ tàu thuyền, ngư dân, người lao động, sản xuất, làm ăn trên biển ở 28 tỉnh, thành phố ven biển không xâm phạm đánh bắt hải sản ở vùng biển các nước láng giềng. Tiêu biểu: Bộ đội Biên phòng Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Hà Tĩnh, Quảng Bình phối hợp tuyên truyền với Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1; Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế phối hợp tuyên truyền với Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2; Bộ đội Biên phòng tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên, Bà Rịa - Vũng Tầu phối hợp tuyên truyền với Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3; Bộ đội Biên phòng tỉnh Tiền Giang, Cà Mau, Kiên Giang phối hợp tuyên truyền với Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4.

Năm 2017, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng phối hợp với Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Cục Kiểm ngư - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức hội nghị trực tuyến với 28 tỉnh, thành phố ven biển bàn giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi tình hình tàu cá và ngư dân Việt Nam xâm phạm trái phép vùng biển các nước láng giềng khai thác hải sản, được Thủ tướng chính phủ, các bộ, ngành, các địa phương đánh giá cao.

Từ kết quả phối hợp tuyên truyền nói trên, các đơn vị Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát biển đã phối hợp với ngư dân phát hiện, xua đuổi được trên 1.200 lượt tàu, thuyền nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển nước ta; xác lập 119 chuyên án; xử lý 790 vụ vi phạm; bắt 270 đối tượng, thu tang vật, phương tiện, sung công quỹ Nhà nước hàng trăm tỷ đồng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với Cảnh sát biển trong tuyên truyền, vận động ngư dân tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh vùng biển còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần sớm được khắc phục. Đó là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động phối hợp ở một số đơn vị trong cả hai lực lượng chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả tuyên truyền chưa cao. Một số nội dung trong quy chế phối hợp giữa hai lực lượng chưa phù hợp với diễn biến thực tế mới hiện nay, nhất là việc phân định phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của mỗi lực lượng trên từng vùng biển đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả phối hợp tuyên truyền.

Để góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Nghị quyết Trung ương 4 Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định: “Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, đảo, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh”; thời gian tới, trong công tác phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật giữa Bộ đội Biên phòng với Cảnh sát biển, hai lực lượng thống nhất tập trung thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Bộ đội Biên phòng cần tăng cường phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị thuộc quyền thực hiện tốt hoạt động phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật với Cảnh sát biển và các lực lượng khác trong công tác bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc.

Hiện nay, tình hình an ninh trên các vùng biển nước ta còn nhiều phức tạp; đặc biệt là hoạt động của các loại tội phạm (cướp biển, buôn lậu, buôn bán vũ khí, chất nổ, buôn lậu xăng dầu, tội phạm ma túy,...) chưa có chiều hướng giảm; tình trạng tàu, thuyền nước ngoài xâm phạm chủ quyền biển, thăm dò, khai thác khoáng sản trái pháp luật vẫn còn xảy ra. Trong khi đó, lực lượng Bộ đội Biên phòng Việt Nam hoạt động trên biển, hải đảo còn mỏng. Vì vậy, để quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Bộ đội Biên phòng cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị thuộc quyền tích cực phối hợp chặt chẽ với lực lượng Cảnh sát biển và các lực lượng khác đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo thành sức mạnh tổng hợp để hoàn thành trọng trách mà Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao phó.

Thứ hai, các hoạt động phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật giữa Bộ đội Biên phòng với Cảnh sát biển phải toàn diện; trong đó, tập trung vào các nhiệm vụ trọng yếu. Trước hết, chú trọng phối hợp trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm vận động quần chúng, nhất là đối với ngư dân, phương tiện hoạt động ở vùng biển xa bờ, tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc. Bộ đội Biên phòng chủ động phối hợp với Cảnh sát biển và các lực lượng khác hiệp đồng với các quân khu, quân chủng, binh chủng và chính quyền các địa phương đứng chân trên các vùng biển, hải đảo để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, để từ đó nâng cao nhận thức cho nhân dân về vị trí, vai trò quan trọng của biển, đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mục tiêu của công tác phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật toàn diện giữa Bộ đội Biên phòng với Cảnh sát biển là nhằm làm cho cán bộ, nhân dân, nhất là ngư dân nắm vững kiến thức cơ bản về biển, đảo. Đồng thời, cần phối hợp chặt chẽ để tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các loại tội phạm trên biển; hướng dẫn, giúp đỡ họ chấp hành tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo.

Thứ ba, đối với những vụ việc phức tạp, nhạy cảm xảy ra trên biển, Bộ đội Biên phòng cần phối hợp chặt chẽ với Cảnh sát biển, các lực lượng khác và chính quyền địa phương ven biển tham mưu, đề xuất cho Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng có các biện pháp đấu tranh ngoại giao, trên tinh thần giữ vững nguyên tắc, nhưng linh hoạt, mềm mỏng trong sách lược, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố của các bên về cách ứng xử ở Biển Đông (DOC); hợp tác giải quyết bằng phương pháp hòa bình, tránh manh động, mắc mưu các thế lực thù địch, ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ gây ra xung đột, chiến tranh trên biển.

Đại tá Hàn Viết Hoan

Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án dân sự và xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại Vướng mắc trong thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và thụ lý ly hôn Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào? Mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu Hủy giấy chứng nhận kết hôn có coi là hủy hôn nhân trái pháp luật không? Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: