Thứ sáu 10/04/2026 16:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát biển phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho bà con ngư dân

Bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong bối cảnh tình hình Biển Đông còn nhiều diễn biến phức tạp, thời gian qua, lực lượng Bộ đội Biên phòng đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng Cảnh sát biển đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho bà con ngư dân, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Biển, đảo Việt Nam có tầm quan trọng chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức sâu sắc về điều đó, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã chủ động phối hợp với Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển và các địa phương ven biển thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho bà con ngư dân, qua đó phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trên biển; quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc; đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm phạm trái phép của tầu thuyền nước ngoài vi phạm vùng biển, đảo Việt Nam; kịp thời ngăn chặn hoạt động của các loại tội phạm trên biển, tạo môi trường thuận lợi cho các ngành kinh tế biển, ven bờ và hợp tác quốc tế phát triển.

Từ năm 2015 đến nay, Bộ đội Biên phòng đã phối hợp với lực lượng Cảnh sát biển tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có trọng tâm, trọng điểm cho cán bộ, nhân dân, các chủ phương tiện, các doanh nghiệp và bà con ngư dân các địa phương về những nội dung chính sau đây:

Một là, chú trọng phối hợp tuyên truyền nâng cao nhận thức về pháp luật cho cán bộ, nhân dân, nhất là đối với ngư dân, chủ doanh nghiệp, chủ phương tiện hoạt động ở vùng biển xa bờ tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc; nhằm làm cho cán bộ, nhân dân, ngư dân, chủ phương tiện nắm vững kiến thức cơ bản về biển, đảo, như: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, khu vực biên giới biển và các quy định liên quan đến biển, đảo Việt Nam, cũng như các hiệp định đã ký với các nước trong khu vực. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ để tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các loại tội phạm trên biển; hướng dẫn, giúp đỡ bà con ngư dân chấp hành tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo Việt Nam.

Hai là, phối hợp tuyên truyền về đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề Biển Đông; vùng biển, đảo có chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam phù hợp với Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982; phù hợp với Luật Biển của Việt Nam năm 2013.

Ba là, phối hợp tuyên truyền về luật pháp liên quan đến biển, đảo Việt Nam, trong đó tập trung tuyên truyền về Luật Biên giới Quốc gia, Luật Biển Việt Nam năm 2013 và Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Việt Nam năm 2015.

Bốn là, phối hợp tuyên truyền cho các chủ tàu thuyền, ngư dân, người lao động, sản xuất, làm ăn trên biển ở 28 tỉnh, thành phố ven biển không xâm phạm đánh bắt hải sản ở vùng biển của các nước láng giềng.

Năm là, phối hợp tuyên truyền phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, thảm họa môi trường, tìm kiếm cứu nạn cho các chủ tàu thuyền và ngư dân khi có bão, áp thấp nhiệt đới và sự cố môi trường biển xảy ra.

Sáu là, phối hợp tổ chức tuyên truyền cho các chủ phương tiện và bà con ngư dân tham gia cùng Bộ đội Biên phòng, Hải quân và Cảnh sát biển bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam; ngăn chặn tàu cá nước ngoài xâm phạm trái phép đánh bắt hải sản trên vùng biển có chủ quyền của Việt Nam; giữ gìn an ninh trật tự các vùng biển, đảo và an ninh nông thôn.

Với những nội dung phối hợp tuyên truyền cơ bản nói trên, 03 năm qua (2015 - 2017), Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát biển đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về biển đảo Việt Nam, cụ thể: Các đơn vị của hai lực lượng đã phối hợp tổ chức tuyên truyền được 1.298 buổi/89.721 lượt cán bộ, nhân dân, ngư dân, chủ phương tiện, chủ doanh nghiệp về đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề Biển Đông; vùng biển, đảo có chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam phù hợp với Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, phù hợp với Luật Biển của Việt Nam năm 2013. Đặc biệt, các đơn vị Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát biển đã phối hợp với các bộ, ngành trung ương, các sở, ngành địa phương tổ chức tuyên truyền về luật pháp liên quan đến biển, đảo Việt Nam, trong đó tập trung tuyên truyền về Luật Biên giới Quốc gia, Luật Biển Việt Nam năm 2013 và Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Việt Nam năm 2015 được 3.729 buổi/108.891 lượt người tham gia; tuyên truyền cho các chủ tàu thuyền, ngư dân, người lao động, sản xuất, làm ăn trên biển ở 28 tỉnh, thành phố ven biển không xâm phạm đánh bắt hải sản ở vùng biển các nước láng giềng. Tiêu biểu: Bộ đội Biên phòng Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Hà Tĩnh, Quảng Bình phối hợp tuyên truyền với Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1; Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế phối hợp tuyên truyền với Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2; Bộ đội Biên phòng tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên, Bà Rịa - Vũng Tầu phối hợp tuyên truyền với Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3; Bộ đội Biên phòng tỉnh Tiền Giang, Cà Mau, Kiên Giang phối hợp tuyên truyền với Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4.

Năm 2017, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng phối hợp với Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Cục Kiểm ngư - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức hội nghị trực tuyến với 28 tỉnh, thành phố ven biển bàn giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi tình hình tàu cá và ngư dân Việt Nam xâm phạm trái phép vùng biển các nước láng giềng khai thác hải sản, được Thủ tướng chính phủ, các bộ, ngành, các địa phương đánh giá cao.

Từ kết quả phối hợp tuyên truyền nói trên, các đơn vị Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát biển đã phối hợp với ngư dân phát hiện, xua đuổi được trên 1.200 lượt tàu, thuyền nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển nước ta; xác lập 119 chuyên án; xử lý 790 vụ vi phạm; bắt 270 đối tượng, thu tang vật, phương tiện, sung công quỹ Nhà nước hàng trăm tỷ đồng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với Cảnh sát biển trong tuyên truyền, vận động ngư dân tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh vùng biển còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần sớm được khắc phục. Đó là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động phối hợp ở một số đơn vị trong cả hai lực lượng chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả tuyên truyền chưa cao. Một số nội dung trong quy chế phối hợp giữa hai lực lượng chưa phù hợp với diễn biến thực tế mới hiện nay, nhất là việc phân định phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của mỗi lực lượng trên từng vùng biển đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả phối hợp tuyên truyền.

Để góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Nghị quyết Trung ương 4 Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định: “Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, đảo, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh”; thời gian tới, trong công tác phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật giữa Bộ đội Biên phòng với Cảnh sát biển, hai lực lượng thống nhất tập trung thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Bộ đội Biên phòng cần tăng cường phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị thuộc quyền thực hiện tốt hoạt động phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật với Cảnh sát biển và các lực lượng khác trong công tác bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc.

Hiện nay, tình hình an ninh trên các vùng biển nước ta còn nhiều phức tạp; đặc biệt là hoạt động của các loại tội phạm (cướp biển, buôn lậu, buôn bán vũ khí, chất nổ, buôn lậu xăng dầu, tội phạm ma túy,...) chưa có chiều hướng giảm; tình trạng tàu, thuyền nước ngoài xâm phạm chủ quyền biển, thăm dò, khai thác khoáng sản trái pháp luật vẫn còn xảy ra. Trong khi đó, lực lượng Bộ đội Biên phòng Việt Nam hoạt động trên biển, hải đảo còn mỏng. Vì vậy, để quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Bộ đội Biên phòng cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị thuộc quyền tích cực phối hợp chặt chẽ với lực lượng Cảnh sát biển và các lực lượng khác đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo thành sức mạnh tổng hợp để hoàn thành trọng trách mà Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao phó.

Thứ hai, các hoạt động phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật giữa Bộ đội Biên phòng với Cảnh sát biển phải toàn diện; trong đó, tập trung vào các nhiệm vụ trọng yếu. Trước hết, chú trọng phối hợp trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm vận động quần chúng, nhất là đối với ngư dân, phương tiện hoạt động ở vùng biển xa bờ, tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biển, đảo của Tổ quốc. Bộ đội Biên phòng chủ động phối hợp với Cảnh sát biển và các lực lượng khác hiệp đồng với các quân khu, quân chủng, binh chủng và chính quyền các địa phương đứng chân trên các vùng biển, hải đảo để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, để từ đó nâng cao nhận thức cho nhân dân về vị trí, vai trò quan trọng của biển, đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mục tiêu của công tác phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật toàn diện giữa Bộ đội Biên phòng với Cảnh sát biển là nhằm làm cho cán bộ, nhân dân, nhất là ngư dân nắm vững kiến thức cơ bản về biển, đảo. Đồng thời, cần phối hợp chặt chẽ để tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các loại tội phạm trên biển; hướng dẫn, giúp đỡ họ chấp hành tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo.

Thứ ba, đối với những vụ việc phức tạp, nhạy cảm xảy ra trên biển, Bộ đội Biên phòng cần phối hợp chặt chẽ với Cảnh sát biển, các lực lượng khác và chính quyền địa phương ven biển tham mưu, đề xuất cho Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng có các biện pháp đấu tranh ngoại giao, trên tinh thần giữ vững nguyên tắc, nhưng linh hoạt, mềm mỏng trong sách lược, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố của các bên về cách ứng xử ở Biển Đông (DOC); hợp tác giải quyết bằng phương pháp hòa bình, tránh manh động, mắc mưu các thế lực thù địch, ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ gây ra xung đột, chiến tranh trên biển.

Đại tá Hàn Viết Hoan

Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án dân sự và xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại Vướng mắc trong thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và thụ lý ly hôn Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào? Mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu Hủy giấy chứng nhận kết hôn có coi là hủy hôn nhân trái pháp luật không? Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: