Thứ sáu 13/03/2026 01:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bộ Tư pháp tiếp tục chủ trì xây dựng, hoàn thiện một số dự án luật

Bộ Tư pháp tiếp tục chủ trì xây dựng, hoàn thiện một số dự án luật

Theo phân công của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp được giao chủ trì soạn thảo 03 luật đó là: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản; Luật Thủ đô (sửa đổi) và Luật Công chứng (sửa đổi). Vừa qua, ngày 06/7/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 805/QĐ-TTg về việc phân công cơ quan chủ trì soạn thảo, thời hạn trình các dự án luật được điều chỉnh trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023 và các dự án luật thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, theo đó, thời hạn trình Chính phủ Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản là tháng 7/2023, Luật Thủ đô (sửa đổi) là tháng 8/2023 và Luật Công chứng (sửa đổi) là tháng 01/2024.

1. Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản

Trong dự thảo tờ trình xin ý kiến góp ý của Bộ Tư pháp về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản đã nêu rõ: Luật Đấu giá tài sản quy định trình tự, thủ tục chung áp dụng đối với tất cả các loại tài sản phải bán theo quy định của pháp luật, tạo ra tính thống nhất, chặt chẽ trong hoạt động đấu giá, giải quyết tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật, phân định rõ trách nhiệm của người có tài sản đấu giá trong các giai đoạn đấu giá, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đấu giá tài sản phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa. Kể từ thời điểm Luật Đấu giá tài sản được ban hành đến nay, đội ngũ đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, cơ bản đảm đương được nhiệm vụ được giao. Số lượng đấu giá viên của cả nước đã phát triển lên đến hơn 1.200 người, gần 600 doanh nghiệp đấu giá tài sản; 58 Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Số lượng các cuộc đấu giá tài sản công ngày càng tăng, nhiều cuộc đấu giá được tổ chức thành công với giá trị tài sản bán được cao hơn nhiều lần so với giá khởi điểm, nộp ngân sách nhà nước đạt giá trị lớn, qua đó, đóng góp tích cực cho việc quản lý, sử dụng tài sản công; góp phần tạo nguồn lực cho hoạt động đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương (theo số liệu thống kê thì từ tháng 07/2017 đến ngày 31/12/2021, các tổ chức đấu giá tài sản đã tổ chức hơn 169.000 cuộc đấu giá, số tiền thù lao dịch vụ đấu giá tài sản thu được đạt hơn 2.096 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước hơn 1.500 tỷ đồng). Các hình thức đấu giá được áp dụng phong phú, đa dạng (ngoài hình thức truyền thống là đấu giá trực tiếp bằng lời nói đã bổ sung đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp, đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá, đấu giá trực tuyến). Việc ứng dụng công nghệ thông tin được quan tâm và đã thu được những kết quả ban đầu. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ngày càng tăng cường cả ở Trung ương và địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho nghề cũng như kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý các hành vi vi phạm. Nhận thức về vai trò, vị trí của nghề đấu giá và đội ngũ đấu giá viên ngày càng được nâng cao, tạo hiệu ứng tốt trong xã hội.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và các ngành dịch vụ theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động đấu giá tài sản đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập như:

Thứ nhất, pháp luật về đấu giá tài sản còn một số quy định chưa chặt chẽ về trình tự, thủ tục, chưa phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn, vướng mắc cho tổ chức đấu giá tài sản, người có tài sản đấu giá và các cá nhân, tổ chức có liên quan; việc áp dụng một số quy định chung của Luật Đấu giá tài sản đối với một số loại tài sản đặc thù như tài sản thi hành án dân sự còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.

Thứ hai, chất lượng của đội ngũ đấu giá viên tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn hạn chế, bất cập. Một bộ phận đấu giá viên còn hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề; việc cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng của đội ngũ đấu giá viên còn chưa được thực hiện thường xuyên. Còn tình trạng đấu giá viên vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp, dẫn đến nhiều vụ việc bị hủy kết quả đấu giá do vi phạm về trình tự, thủ tục, thậm chí bị điều tra, truy tố, xét xử gây ảnh hưởng đến uy tín nghề nghiệp và niềm tin của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động đấu giá tài sản.

Thứ ba, chất lượng dịch vụ đấu giá nhìn chung còn chưa có hiệu quả, tình trạng “quân xanh, quân đỏ”, thông đồng, dìm giá trong các phiên đấu giá ngày càng có xu hướng tinh vi, phức tạp; cơ chế kiểm soát việc đấu giá còn bộc lộ một số vướng mắc. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là việc áp dụng hình thức đấu giá trực tuyến còn một số hạn chế, khó khăn. Một số tổ chức đấu giá không tuân thủ nghiêm túc về trình tự, thủ tục đấu giá, còn tình trạng cạnh tranh không lành mạnh. Điều này gây ảnh hưởng đến uy tín và sự phát triển lành mạnh của hoạt động đấu giá.

Thứ tư, còn tình trạng người có tài sản đấu giá, nhất là tài sản công chưa thực hiện vai trò, trách nhiệm của mình trong quá trình đấu giá tài sản, thậm chí một số trường hợp còn có biểu hiện thông đồng, móc nối với tổ chức đấu giá tài sản, người tham gia đấu giá để trục lợi; lợi dụng các tổ chức “sân sau” để đấu giá; việc giám sát quá trình tổ chức đấu giá không thường xuyên, thậm chí là “buông lỏng”, do đó, không kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm. Việc định giá tài sản, xác định giá khởi điểm để đấu giá, đặc biệt là đấu giá quyền sử dụng đất còn chưa hợp lý, còn có trường hợp giá khởi điểm chênh lệch lớn so với giá thị trường, dẫn đến tình trạng đầu cơ, trục lợi, tiềm ẩn nguy cơ gây thất thoát tài sản nhà nước…

Thứ năm, nhận thức của một số cơ quan, tổ chức, đơn vị còn chưa đúng, chưa đầy đủ về vai trò, trách nhiệm và phạm vi quản lý nhà nước trong hoạt động đấu giá tài sản; công tác kiểm tra, thanh tra về tình hình tổ chức, hoạt động đấu giá của cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương còn hạn chế nên việc phát hiện, chấn chỉnh những sai phạm có lúc, có nơi còn chưa kịp thời, hiệu quả.

Trước yêu cầu thực tiễn đối với hoạt động đấu giá tài sản, bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số mạnh mẽ, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đấu giá tài sản nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để thúc đẩy hoạt động đấu giá theo hướng chuyên nghiệp hóa, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đấu giá tài sản là rất cần thiết và cấp bách.

Phạm vi sửa đổi: Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản vẫn giữ nguyên một số quy định đang phát huy hiệu quả trong thực tiễn về đấu giá viên, tổ chức hành nghề đấu giá, trình tự, thủ tục đấu giá tài sản và quản lý nhà nước về hoạt động đấu giá.

Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung các quy định: (i) Về tiêu chuẩn, điều kiện đấu giá viên, điều kiện hành nghề đấu giá, quyền và nghĩa vụ của tổ chức đấu giá tài sản; (ii) Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động đấu giá để thực hiện chuyển đổi số trong hoạt động đấu giá theo lộ trình phù hợp; (iii) Về trình tự, thủ tục đấu giá tài sản đảm bảo phù hợp với thực tiễn, khả thi, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho tổ chức đấu giá tài sản, người có tài sản, người tham gia đấu giá, đồng thời tăng cường tính chặt chẽ, khách quan, công khai, minh bạch, có tính đến một số loại tài sản đấu giá đặc thù; (iv) Về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đấu giá tài sản[1].

2. Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi)

Tháng 02/2023, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long đã tham dự phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật do Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì, cho ý kiến về 03 đề nghị xây dựng luật, 04 dự án luật, với nhiều nội dung quan trọng, khó, phức tạp, có tác động sâu rộng, trong đó có đề nghị xây dựng Luật Thủ đô (sửa đổi). Tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long đã trình bày tờ trình về đề nghị xây dựng Luật Thủ đô (sửa đổi).

Luật Thủ đô năm 2012 là văn bản pháp lý quan trọng quy định vị trí, vai trò, trách nhiệm và chính sách xây dựng, phát triển, bảo vệ Thủ đô. Các bộ, ngành, địa phương, nhất là Hà Nội đã dành sự quan tâm đặc biệt, tích cực, chủ động triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm để triển khai thi hành luật. Việc thực hiện các chính sách đặc thù theo quy định của luật bước đầu đã giúp cho Thành phố Hà Nội trong việc xây dựng, quản lý quy hoạch nhằm thực hiện thống nhất theo Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; hệ thống giao thông vận tải, hạ tầng kỹ thuật của Thủ đô đã có những bước phát triển vượt bậc cả về quy mô, số lượng các dự án, công trình trọng điểm được kết nối thông suốt, đồng bộ, thúc đẩy liên kết phát triển kinh tế - xã hội giữa các tỉnh, thành phố trong vùng Thủ đô; cảnh quan kiến trúc hai bên đường trên một số tuyến phố thực hiện thí điểm đã được chỉnh trang sạch đẹp; nhiều dự án khu đô thị mang tầm vóc của đô thị hiện đại đang dần hiện hữu; phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, đời sống văn hóa, tinh thần của Nhân dân ngày càng phong phú, các di sản văn hóa - lịch sử được quan tâm bảo tồn, tôn tạo; phát triển giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô, mạng lưới trường lớp, chất lượng giáo dục toàn diện, mũi nhọn; khoa học công nghệ được đầu tư phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu, hướng tới chất lượng, ứng dụng hiệu quả; nguồn thu ngân sách được bổ sung nhờ cơ chế phát huy nội lực, chính sách huy động vốn, chính sách thưởng và đầu tư trở lại từ nguồn tăng thu của ngân sách Trung ương trên địa bàn thành phố; Thủ đô đang dần phát huy được vị thế, vai trò, tạo động lực phát triển, sức mạnh lan tỏa, mở rộng các hình thức liên kết, hợp tác, hỗ trợ các địa phương trong vùng Thủ đô và cả nước cùng phát triển.

Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành Luật Thủ đô, việc thực hiện một số mục tiêu, giải pháp, quy định được đề ra trong Luật còn nhiều tồn tại, hạn chế trong các lĩnh vực: (i) Xây dựng, hoàn thiện thể chế và quản lý thực hiện quy hoạch chung, quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành, nhất là trong quy hoạch quản lý không gian, không gian ngầm, công trình kiến trúc cổ, bảo tồn và phát triển văn hóa và quy hoạch xây dựng nhà ở, khu đô thị; (ii) Quản lý, sử dụng đất, nhất là đất sử dụng cho các công trình hạ tầng kỹ thuật, giao thông, hạ tầng xã hội, văn hóa, tôn giáo, công trình công cộng phục vụ cộng đồng, dân cư; (iii) Cơ chế tài chính, chính sách liên kết vùng, nhất là các chính sách về thu chi ngân sách để thúc đẩy đầu tư phát triển; (iv) Quản lý dân cư, bảo vệ Thủ đô bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; (v) Chính sách an sinh xã hội, phát triển giáo dục, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường…

Nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế nêu trên là do việc thực thi chính sách, pháp luật chưa đồng bộ, kịp thời, đầy đủ, chưa phát huy hiệu lực, hiệu quả của các cơ chế, chính sách để phát triển Thủ đô với vị trí, vai trò là trái tim của cả nước. Một số quy định của Luật Thủ đô chủ yếu mang tính nguyên tắc, định hướng chung, thiếu quy định về các cơ chế đặc thù cụ thể để thực hiện được trên thực tế. Mặt khác, sau khi Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành, đã có nhiều đạo luật chuyên ngành được ban hành để cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, các luật ban hành sau có quy định khác với Luật Thủ đô về cùng một vấn đề hoặc bãi bỏ quy định của Luật Thủ đô (Luật Cư trú đã bãi bỏ khoản 3, 4 Điều 19 Luật Thủ đô).

Việc chưa có quy định về nguyên tắc áp dụng trong Luật Thủ đô đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả trong việc tổ chức thi hành Luật này. Đồng thời, Luật Thủ đô giao thẩm quyền ban hành các văn bản quy định chi tiết cho thành phố Hà Nội (nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân) về thứ bậc hiệu lực pháp lý thấp hơn các văn bản quy phạm pháp luật do Trung ương ban hành, nên khi các luật, nghị định, thông tư được ban hành có quy định khác, nhiều nội dung đặc thù được giao cho Thủ đô Hà Nội quy định chi tiết đã không thể thực hiện được.

Để kịp thời thể chế hóa các quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển Thủ đô Hà Nội theo Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; khắc phục những tồn tại, hạn chế cũng như tạo cơ sở pháp lý vững chắc để quy định và thực hiện các cơ chế vượt trội, đột phá, huy động mọi nguồn lực, khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của Thủ đô nhằm xây dựng Thủ đô Hà Nội “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”, trở thành trung tâm, động lực thúc đẩy phát triển vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và cả nước; hội nhập quốc tế sâu rộng, có sức cạnh tranh cao trong khu vực và trên thế giới, phấn đấu phát triển ngang tầm với Thủ đô các nước phát triển trong khu vực như mục tiêu Bộ Chính trị đề ra thì việc xây dựng Luật Thủ đô (sửa đổi) là rất cần thiết[2].

Về định hướng xây dựng Luật Thủ đô (sửa đổi) là để: Tạo cơ chế để hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền thành phố theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với vai trò, vị trí và yêu cầu phát triển, quản lý Thủ đô trong giai đoạn phát triển mới; tăng cường phân quyền, phân cấp cho thành phố nhằm tạo sự chủ động, sáng tạo, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của thành phố; có cơ chế kiểm soát quyền lực, thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Lựa chọn các cơ chế, chính sách mới, có tính chất đặc thù, vượt trội về mặt thể chế, phù hợp với vị trí, vai trò, tiềm năng, thế mạnh của Thủ đô để hướng đến 4 định hướng trụ cột lớn (Chính quyền đô thị: Cơ chế tài chính ngân sách và thu hút nguồn lực xã hội đầu tư phát triển Thủ đô và vùng Thủ đô; phát triển đô thị - nông thôn; phát triển văn hóa - xã hội và khoa học - công nghệ).

Trên cơ sở đó, 09 nhóm chính sách đã được đề xuất trong Luật Thủ đô (sửa đổi), gồm: (i) Chính sách 1: Tổ chức chính quyền Thủ đô theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; (ii) Chính sách 2: Thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển Thủ đô; (iii) Chính sách 3: Nâng cao năng lực tài chính - ngân sách và huy động nguồn lực cho phát triển của Thủ đô; (iv) Chính sách 4: Phát triển đô thị và cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giao thông của Thủ đô; (v) Chính sách 5: Xây dựng, phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh; (vi) Chính sách 6: Phát triển văn hóa và giáo dục Thủ đô; (vii) Chính sách 7: Huy động, sử dụng, phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo; (viii) Chính sách 8: Phát triển hệ thống y tế hiện đại và hệ thống an sinh xã hội Thủ đô toàn diện, bao trùm và bền vững; (ix) Chính sách 9: Liên kết, phát triển vùng Thủ đô trở thành khu vực phát triển nhanh, bền vững về kinh tế - xã hội, xanh, văn minh, năng động, trở thành khu vực kinh tế trọng điểm của đất nước[3].

Tính đến tháng 6/2023 Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với UBND Thành phố Hà Nội tổ chức 15 cuộc họp, 03 hội thảo để góp ý trực tiếp vào từng nội dung cụ thể của dự thảo luật, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo, xây dựng hồ sơ dự án luật, xin ý kiến Bộ trưởng đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để lấy ý kiến rộng rãi theo quy định[4].

3. Dự án Luật Công chứng (sửa đổi)

Thực hiện Nghị quyết số 89/2023/QH15 ngày 02/6/2023 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan tiến hành xây dựng dự án Luật Công chứng (sửa đổi).

Qua hơn 08 năm thi hành Luật Công chứng năm 2014, có thể khẳng định hoạt động công chứng có nhiều bước tiến mới. Đội ngũ công chứng viên (CCV) và tổ chức hành nghề công chứng (TCHNCC) ở nước ta ngày càng phát triển (số lượng CCV tăng khoảng gần 2,7 lần, số lượng TCHNCC tăng hơn 2 lần so với thời điểm Luật Công chứng năm 2014 bắt đầu có hiệu lực thi hành). Chất lượng đội ngũ CCV ngày càng được nâng cao, quy mô, hoạt động của các TCHNCC ngày càng chuyên nghiệp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội, người dân, doanh nghiệp. Trong hơn 08 năm thi hành Luật Công chứng năm 2014, các TCHNCC trên cả nước đã thực hiện hơn 41 triệu việc công chứng; tổng số phí công chứng thu được hơn 13 nghìn tỷ đồng; tổng số thù lao công chứng thu được hơn 2 nghìn tỷ đồng; tổng số tiền nộp thuế và nộp ngân sách nhà nước hơn 2,3 nghìn tỷ đồng. Các việc công chứng hợp đồng, giao dịch về đất đai, nhà ở, bất động sản và tài sản quan trọng khác chiếm tỷ lệ từ 70-80% số việc công chứng và giá trị phí, thù lao công chứng, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch đối với những tài sản có giá trị lớn, đóng vai trò là phương tiện sản xuất cơ bản trong nền kinh tế. Việc công chứng các hợp đồng, giao dịch về đất đai, nhà ở còn góp phần quan trọng trong công tác quản lý nhà nước đối với quá trình chuyển quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, tránh thất thoát nguồn thu thuế, giảm gánh nặng cho cơ quan tiến hành tố tụng thông qua việc giảm thiểu số lượng và quy mô tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện các giao dịch liên quan.

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, thực tiễn triển khai thực hiện Luật Công chứng năm 2014 cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần được khắc phục, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Luật Công chứng hiện hành còn thiếu các quy định thể hiện rõ mô hình công chứng nước ta là công chứng nội dung (xác định tính hợp pháp, tính xác thực của hợp đồng, giao dịch). Việc xác định bản dịch thuộc phạm vi công chứng còn chưa đúng bản chất công chứng vì thực chất đây là việc thuộc phạm vi chứng thực - chứng thực chữ ký người dịch. Do đó, quy định về công chứng bản dịch chưa thực sự phát huy tác dụng trong thực tiễn.

Thứ hai, chất lượng đội ngũ CCV còn chưa đồng đều, một bộ phận CCV còn hạn chế về trình độ chuyên môn, tính chuyên nghiệp chưa cao; còn tình trạng vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức hành nghề, cạnh tranh không lành mạnh, chạy theo lợi nhuận gây ảnh hưởng đến hình ảnh của nghề công chứng và uy tín của đội ngũ CCV trong xã hội. Việc hợp danh của CCV tại văn phòng công chứng (VPCC) ở một số địa phương còn mang tính hình thức. Quy định về chấm dứt tư cách thành viên hợp danh và bổ sung thành viên hợp danh mới tại VPCC còn chưa chặt chẽ, chưa có cơ chế hữu hiệu để kiểm soát và thực tế đã phát sinh không ít tranh chấp giữa các thành viên hợp danh trong một VPCC.

Thứ ba, định hướng và việc triển khai định hướng phát triển TCHNCC tại các địa phương còn chưa nhất quán, có phần lúng túng, không đồng đều. Các VPCC được thành lập chưa gắn với địa bàn dân cư, hầu hết tập trung tại những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển. Sau khi quy hoạch tổng thể phát triển TCHNCC bị bãi bỏ, xuất hiện xu hướng hàng loạt VPCC xin chuyển về các đô thị hoặc khu trung tâm của huyện, thị xã dẫn đến tình trạng một số tỉnh, thành phố tại một số địa bàn cấp huyện không có VPCC hoạt động. Một số VPCC chỉ có 01 CCV hành nghề thực tế, CCV hợp danh còn lại chỉ đứng danh.

Thứ tư, một số trình tự, thủ tục về công chứng không còn phù hợp với điều kiện thực tiễn, vừa gây khó khăn cho cả CCV trong quá trình thực hiện quy trình công chứng vừa không tạo thuận lợi cho TCHNCC và người dân, doanh nghiệp.

Thứ năm, việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động công chứng tuy đã được thực hiện nhưng mới chỉ là bước đầu, chưa tương xứng với sự phát triển các nhu cầu giao dịch dân sự, kinh tế và sự chuyển đổi số mạnh mẽ trong các lĩnh vực liên quan. Đến nay, việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vẫn còn gặp khó khăn, vướng mắc; chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu công chứng thống nhất trong cả nước; việc kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu công chứng với các cơ sở dữ liệu liên quan chưa được thực hiện.

Thứ sáu, Luật Công chứng hiện hành chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm. Một số quy định về quản lý nhà nước còn chưa phù hợp; chưa có quy định rõ nét về vị trí, vai trò, nhiệm vụ quyền hạn của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của CCV nhằm phát huy vai trò tự quản của tổ chức này đã làm hạn chế hiệu quả công tác quản lý của hoạt động công chứng.

Để khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên, đồng thời tạo điều kiện để tiếp tục phát triển hoạt động công chứng theo định hướng xã hội hóa, ổn định, bền vững, phù hợp với thông lệ quốc tế thì việc xây dựng Luật Công chứng (sửa đổi) để thay thế cho Luật Công chứng năm 2014 là cần thiết.

Dự án Luật Công chứng (sửa đổi) đã được Bộ Tư pháp triển khai xây dựng dựa trên 05 nhóm chính sách đó là: (i) Chính sách 1: Xác định lại khái niệm, nội hàm hoạt động công chứng, hành nghề công chứng và phạm vi thẩm quyền của công chứng viên đúng với vai trò, bản chất của hoạt động này; (ii) Chính sách 2: Xây dựng đội ngũ công chứng viên và nhân viên nghiệp vụ có chất lượng cao, có số lượng phù hợp với nhu cầu công chứng và phát triển bền vững; (iii) Chính sách 3: Phát triển các tổ chức hành nghề công chứng phù hợp với nhu cầu, số lượng và sự phân bố công chứng viên, có mô hình tổ chức hoạt động phù hợp với tính chất của hoạt động công chứng và yêu cầu thực tiễn, có đủ năng lực để thực hiện tốt chức năng hỗ trợ quá trình hành nghề của công chứng viên; (iv) Chính sách 4: Quy định linh hoạt hơn về trình tự, thủ tục nhưng vẫn bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của hoạt động công chứng nội dung; tạo lập nền tảng pháp lý cần thiết để triển khai việc chuyển đổi số trong hoạt động công chứng phù hợp với xu thế và yêu cầu của thời kỳ mới; (v) Chính sách 5: Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về công chứng, phát huy trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của CCV phù hợp với quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế.

Như vậy, để triển khai trình Chính phủ các dự án luật đúng tiến độ theo quy định, trong 06 tháng đầu năm 2023, Bộ Tư pháp đã tiến hành rà soát, tổng hợp, chỉnh sửa các dự án luật, đặc biệt là triển khai tổng hợp, tiếp thu giải trình ý kiến góp ý của toàn thể nhân dân đối với 03 dự án luật trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và của Bộ Tư pháp.

Quỳnh Vũ

(Bài viết được tổng hợp từ tờ trình của Bộ Tư pháp trong hồ sơ của 03 dự án luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản, Luật Thủ đô (sửa đổi) và Luật Công chứng (sửa đổi) đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp).


[1] Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản, đăng tải trên trang https://baochinhphu.vn/du-thao-luat-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-luat-dau-gia-tai-san-102230504143439464.htm.

[2] Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi): Tăng 02 chương, 27 điều so với Luật Thủ đô năm 2012 đăng tải trên trang web https://lsvn.vn/du-thao-luat-thu-do-sua-doi-tang-02-chuong-27-dieu-so-voi-luat-thu-do-nam-2012-1687080938.html.

[3] Hà Nội đề xuất 9 nhóm chính sách trong dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) đăng tải trên trang web https://dangcongsan.vn/thoi-su/ha-noi-de-xuat-9-nhom-chinh-sach-trong-du-thao-luat-thu-do-sua-doi-623404.html.

[4] Họp tổ biên tập dự án Luật Thủ đô sửa đổi đăng tải trên tragn web https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo.aspx?ItemID=5821.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: