Thứ ba 25/08/2026 11:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bối cảnh và định hướng, chính sách lớn hoàn thiện Luật Thi hành án dân sự[1]

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, các vụ việc tranh chấp kinh tế, dân sự ngày càng nhiều, dẫn đến số lượng vụ việc cơ quan THADS phải thụ lý ngày một tăng, trong đó, phải kể đến các vụ việc có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, hiện nay chưa có định hướng, chính sách riêng để áp dụng cho những việc THADS có yếu tố nước ngoài, dẫn đến trên thực tế, việc tổ chức thi hành án đối với những vụ việc này không đạt hiệu quả.


Ngay từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác thi hành án dân sự (THADS). Do đó, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế THADS luôn được quan tâm, chú trọng. Đến nay, hệ thống pháp luật thi hành án cơ bản đầy đủ, đồng bộ, công khai, minh bạch, khả thi. Tuy nhiên, đứng trước những yêu cầu cấp thiết về cải cách pháp luật, cải cách tư pháp, xây dựng Chính phủ điện tử và nhu cầu của xã hội ngày càng cao, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung 2014 (Luật Thi hành án dân sự) và các văn bản hướng dẫn thi hành cần tiếp tục được rà soát, tổng kết, nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện, trên cơ sở đó, đề ra những định hướng, chính sách lớn để sửa đổi nhằm đáp ứng và bắt kịp yêu cầu của thực tiễn.
1. Bối cảnh
Việc nghiên cứu, xây dựng hoàn thiện Luật Thi hành án dân sự được đặt ra trong bối cảnh như sau:
1.1. Về chính trị
Việc nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về THADS được tiến hành trong một giai đoạn quan trọng tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ thể chế để thực hiện thành công các quan điểm, tư tưởng và chỉ đạo đổi mới phát triển đất nước thể hiện đậm nét qua các văn bản như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (năm 1995), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (năm 1997), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (năm 2004) và nhất là trong Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Kết luận số 84-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-TW (Kết luận số 84-KL/TW).
Việc đề xuất nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện pháp luật THADS cũng phù hợp với chủ trương xây dựng một Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân, phục vụ phát triển đất nước.
1.2. Về pháp lý
Mặc dù Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành đã mang lại nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên, quá trình thi hành cho thấy, Luật Thi hành án dân sự đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập xuất phát từ trong nội tại các quy định của Luật chưa theo kịp để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong thực tiễn phát triển của đất nước; mâu thuẫn, chồng chéo, chưa phù hợp với các pháp luật khác liên quan. Những vướng mắc thể hiện ở tất cả các giai đoạn tổ chức thi hành án, tập trung chủ yếu về quyền, nghĩa vụ của đương sự; nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên; tài sản cưỡng chế, các trường hợp cưỡng chế cụ thể; thủ tục cưỡng chế tài sản chung; thủ tục thi hành án có yếu tố nước ngoài và ủy thác tư pháp...
Bên cạnh các vướng mắc cụ thể trên thì còn những nội dung vướng mắc, lúng túng trong lý luận dẫn đến chưa rõ ràng, nhầm lẫn về nguyên tắc khi ban hành các quy định và thực hiện trên thực tiễn như việc xác định cơ quan THADS là cơ quan nhà nước thực hiện các yêu cầu dịch vụ công hay tư; hoặc việc chưa xác định bản chất của hoạt động THADS là hoạt động hành chính, hành chính - tư pháp hay là tư pháp dẫn đến các định hướng, chính sách còn chưa rõ ràng, “trung dung”. Có thể thấy, việc nhận thức đúng bản chất của THADS cũng chính là cơ sở khoa học để xây dựng pháp luật về THADS cho phù hợp.
1.3. Về thực tiễn
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, các vụ việc tranh chấp kinh tế, dân sự ngày càng nhiều, dẫn đến số lượng vụ việc cơ quan THADS phải thụ lý ngày một tăng, trong đó, phải kể đến các vụ việc có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, hiện nay chưa có định hướng, chính sách riêng để áp dụng cho những việc THADS có yếu tố nước ngoài, dẫn đến trên thực tế, việc tổ chức thi hành án đối với những vụ việc này không đạt hiệu quả.
Khoa học - công nghệ, đặc việt là lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ mới phát triển nhanh chóng khiến cho các cơ chế chính sách về phương thức đăng ký, công khai, minh bạch tài sản cũng thay đổi theo, các cơ quan nhà nước sẽ quản lý các thông tin về tài sản, chủ sở hữu tài sản thông qua hệ thống dữ liệu liên thông trong toàn quốc. Do đó, tư duy ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác THADS cần nghiên cứu, sửa đổi cho phù hợp.
2. Một số định hướng, chính sách hoàn thiện Luật Thi hành án dân sự
2.1. Định hướng rõ mô hình thi hành án dân sự Việt Nam
Hiện nay, trên thế giới, tùy theo đặc điểm truyền thống, môi trường pháp lý, điều kiện kinh tế - xã hội mà mỗi quốc gia có mô hình tổ chức THADS khác nhau, thể hiện dưới hình thức thi hành án công, thi hành án bán công và thi hành án tư nhân: (i) Tổ chức thi hành án công là tổ chức thi hành án bao gồm hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, các chấp hành viên là công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Hiện nay, một số nước có tổ chức THADS công tiêu biểu là Thụy Điển, Trung Quốc, Nga, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Mỹ và phần lớn các nước trong cộng đồng chung châu Âu (Đức, Thụy Điển...). (ii) Tổ chức thi hành án bán công là tổ chức thi hành án vừa do công chức thực hiện đối với một số việc thi hành án nhất định như thu thuế, thi hành án đối với bất động sản và quyền tài sản, tịch thu tài sản sung công quỹ, phạt tiền…, vừa do viên chức thừa hành đảm nhiệm phần lớn các công việc THADS trên nguyên tắc tự lấy thu bù đắp chi phí thi hành án. Điển hình cho mô hình thi hành án bán công là Pháp, Nhật Bản, Đức , Hà Lan, Áo, Thụy Sỹ… (iii) Tổ chức thi hành án tư nhân là mô hình tổ chức chủ yếu theo quy chế thừa phát lại. Thừa phát lại do Nhà nước bổ nhiệm, là người hành nghề theo quy chế tự do, Nhà nước không trả lương mà hưởng thù lao do luật định. Thừa phát lại vừa thực hiện chức năng công quyền theo luật định (chức năng độc quyền), vừa thực hiện chức năng không độc quyền (lập các văn bản, thu hồi nợ, làm đại diện…) và chức năng trợ giúp khác cho người được thi hành án. Các nước có tổ chức thi hành án tư nhân như: Hy Lạp, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Hungary...
Bên cạnh đó, tại một số quốc gia Đông Âu, Trung Âu (Bungari, Hungary, Cộng hòa Séc...) và Campuchia ở Đông Nam Á có nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã thực hiện xã hội hóa, chuyển đổi mô hình thi hành án nhà nước thành thừa phát lại hành nghề tự do, độc lập, có sự phân định phạm vi thẩm quyền thi hành án giữa thừa phát lại và thi hành án nhà nước.
Tại Việt Nam, trước khi thí điểm mô hình thừa phát lại tại TP. Hồ Chí Minh theo Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ thì THADS được tổ chức theo mô hình tổ chức công, độc lập. Sau khi chế định thừa phát lại được áp dụng, THADS tại Việt Nam được thực hiện theo mô hình thi hành án tư nhân song song tồn tại cùng với thi hành án nhà nước nhưng chỉ có chấp hành viên có đầy đủ quyền hạn tổ chức THADS. Việc xây dựng và phát triển mô hình thừa phát lại nhằm hai mục tiêu lớn là thực hiện chủ trương xã hội hóa THADS, góp phần giảm tải công việc cho cơ quan THADS và thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp. Tuy nhiên, kết quả hoạt động của thừa phát lại chưa đồng đều ở các địa phương và ở từng hoạt động cụ thể (trong số 04 hoạt động của thừa phát lại thực hiện thì hoạt động tống đạt văn bản và lập vi bằng chiếm tỷ lệ 99,21% tổng doanh thu, còn lại là doanh thu từ hoạt động xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức THADS)[2]. Việc thực hiện hoạt động xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án của thừa phát lại còn hạn chế, chiếm tỷ lệ 0,79% tổng doanh thu và gặp rất nhiều khó khăn. Như vậy, có thể thấy, mục tiêu xã hội hóa THADS chưa đạt được kết quả như mong muốn, trong khi đó, số lượng các việc thi hành án hằng năm là rất lớn, tỷ lệ án chưa có điều kiện thi hành án và có điều kiện thi hành nhưng chưa thi hành được còn cao[3]. Do đó, theo tác giả, cần có khảo sát, đánh giá tổng thể thực tiễn, tìm ra nguyên nhân của thực tiễn thừa phát lại hoạt động kém hiệu quả để có cơ sở đề xuất khắc phục kịp thời.
Tại Kết luận số 84-KL/TW, Bộ Chính trị đã chỉ rõ một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác cải cách tư pháp là tiếp tục đổi mới, sắp xếp, kiện toàn tổ chức, bộ máy cơ quan thi hành án bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Như vậy, việc xác định những định hướng về mô hình tổ chức THADS phục vụ sửa đổi Luật Thi hành án dân sự là rất cần thiết.
Hiện nay, có các quan điểm như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, cần giữ nguyên mô hình THADS hiện nay là THADS công song song tồn tại cùng với mô hình THADS tư nhân do thừa phát lại đảm nhiệm nhưng cần có các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của mô hình thi hành án tư nhân; đồng thời, xây dựng lộ trình, các bước cụ thể để dần chuyển từ mô hình thi hành án công sang mô hình THADS tư nhân. Theo quan điểm thứ hai, với kết quả đạt được của thừa phát lại về tổ chức THADS trong những năm qua đạt thấp, còn nhiều vấn đề pháp lý chưa đáp ứng yêu cầu, do đó, nên giữ nguyên mô hình tổ chức THADS công do cơ quan THADS đảm nhiệm như trước khi có Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định thừa phát lại và cần hoàn thiện Luật Thi hành án dân sự cho phù hợp và đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn hiện nay. Theo tác giả, mô hình THADS trong giai đoạn trước mắt cần theo quan điểm thứ hai để bảo đảm phù hợp với hệ thống pháp luật chung hiện nay.
2.2. Khôi phục chế định trả lại đơn yêu cầu thi hành án
Việc trả lại đơn yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã bị bãi bỏ bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014. Theo đó, những trường hợp trước đây thuộc diện trả lại đơn yêu cầu thì hiện nay đang được xếp vào diện việc chưa có điều kiện thi hành. Tuy nhiên, bản chất của vụ việc là đương sự chưa có điều kiện thi hành án nếu xếp vào diện chưa có điều kiện thì sẽ xuất hiện rất nhiều vụ việc tồn từ năm này sang năm khác khiến cho lượng việc tồn rất lớn, đồng thời, việc theo dõi, quản lý rất tốn kém. Việc trả lại đơn không làm mất đi hiệu lực của bản án và quyền của đương sự. Như vậy, theo tác giả, cần thiết khôi phục chế định trả lại đơn yêu cầu theo như Luật Thi hành án dân sự năm 2008, bởi lẽ: Sau khi ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thì trách nhiệm của người được thi hành án phải theo dõi, phát hiện người phải thi hành án có tài sản, điều kiện thi hành án thì tiếp tục yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành án để bảo đảm quyền và lợi ích của mình; cơ quan THADS không thể sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện thay đương sự về việc này.
2.3. Điều chỉnh phù hợp quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự; quyền hạn, trách nhiệm của chấp hành viên
- Điều chỉnh các quyền, tăng trách nhiệm, nghĩa vụ của đương sự
Về quyền thỏa thuận thi hành án, theo nguyên lý, khi tài sản đã bị cưỡng chế tức là đương sự sẽ bị hạn chế quyền về tài sản và các quyền khác liên quan đến tài sản. Việc quy định cho đương sự được thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá là không phù hợp bởi trong các trường hợp này, người phải thi hành án hoặc những người có tài sản bảo đảm sẽ tìm mọi cách chống đối, gây khó khăn cho việc cưỡng chế, xử lý tài sản. Do vậy, nên quy định khi đã có quyết định cưỡng chế tài sản thì các đương sự không còn các quyền này để tạo thuận lợi trong quá trình tổ chức thi hành án.
Ngoài ra, quy định chỉ có đối tượng là người phải thi hành án được quyền chuộc lại tài sản là chưa đầy đủ bởi nhiều trường hợp chấp hành viên xử lý tài sản là của người khác dùng tài sản của mình để bảo lãnh cho khoản nghĩa vụ phải thi hành án. Do đó, cần quy định bổ sung đối với đối tượng là người có tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ đã được tuyên trong bản án, quyết định của Tòa án.
- Điều chỉnh trách nhiệm, quyền hạn của chấp hành viên
Tiếp cận dưới góc độ Nhà nước tạo mọi điều kiện cho các đương sự, những việc đương sự không làm được Nhà nước sẽ thay mặt thực hiện. Ví dụ, quy định tại Điều 74, Điều 75 Luật Thi hành án dân sự đã quy định cho chấp hành viên phải thực hiện thay đương sự đối với việc khởi kiện ra Tòa án phân chia tài sản chung trong trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu Tòa giải quyết. Theo tác giả, việc quy định vậy là chưa hợp lý bởi phần nào đã vi phạm nguyên tắc việc dân sự phải do cá nhân tự bảo vệ quyền lợi. Chính các đương sự mới biết về nguồn gốc hình thành tài sản, giá trị pháp lý của tài sản, nguồn gốc của sự tranh chấp, từ đó mới có căn cứ xuất trình cho Tòa án để giải quyết đối với vụ việc. Chấp hành viên không thể thực hiện việc cung cấp thông tin trên cho Tòa án theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, việc ngân sách nhà nước bỏ tiền chi trả các khoản phải nộp trong khi Tòa án xét xử như chi phí thẩm định giá, phí, lệ phí khác… (đáng lẽ các đương sự phải trả để bảo vệ quyền lợi cá nhân) là chưa phù hợp. Do vậy, nên quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên; quyền và nghĩa vụ của đương sự cho phù hợp với nguyên tắc đương sự phải tự bảo vệ quyền lợi và thực hiện các quyền để bảo vệ quyền lợi của mình. Trường hợp đương sự đã được chấp hành viên hướng dẫn khởi kiện ra Tòa án mà không thực hiện để bảo vệ quyền lợi thì vụ việc sẽ tạm dừng giải quyết.
2.4. Về xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Theo Điều 44, Điều 73 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu, nghĩa vụ xác minh điều kiện THADS của người phải thi hành án trước hết thuộc về người được thi hành án. Nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu chấp hành viên tiến hành xác minh và người được thi hành án phải chịu chi phí xác minh.
Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 đã sửa đổi các quy định trên theo hướng, chấp hành viên có trách nhiệm xác minh điều kiện THADS của người phải thi hành án và ngân sách nhà nước chi trả chi phí xác minh. Việc sửa đổi này được xây dựng dựa trên cơ sở nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người được THADS nhưng lại chưa đúng với bản chất của quan hệ dân sự. Bởi lẽ, bản chất của THADS theo yêu cầu là việc Nhà nước tổ chức, cung cấp “dịch vụ công” để bảo vệ lợi ích tư của các chủ thể nên đương sự phải có trách nhiệm đối với yêu cầu và lợi ích của mình. Vì vậy, theo tác giả, cần sửa Luật Thi hành án dân sự theo hướng như quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
2.5. Khắc phục những vướng mắc, khó khăn của pháp luật hiện hành
Tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, khắc phục những khó khăn, vướng mắc của pháp luật hiện hành, trong đó, tập trung một số nội dung:
- Về ủy thác thi hành án: Điều 57 Luật Thi hành án dân sự quy định, trước khi ủy thác, cơ quan THADS phải xử lý xong tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản kê biên tại địa bàn có liên quan đến khoản ủy thác. Quy định này dẫn đến mất nhiều thời gian để tổ chức thi hành đối với một vụ việc, nhất là đối với các vụ án kinh tế, tham nhũng lớn vừa được xét xử trong những năm vừa qua bởi đối với loại án này thì đa số người phải thi hành án có nhiều tài sản lớn ở nhiều tỉnh, thành phố khác nhau và phải thi hành trả cho ngân sách nhà nước với số tiền rất lớn. Do đó, cần thiết sửa đổi quy định này. Theo tác giả, để khắc phục những hạn chế nêu trên, bên cạnh cơ chế ủy thác thi hành án (ủy thác toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ thi hành án) như hiện nay, cần bổ sung chế định về ủy thác xử lý tài sản trên địa bàn khác.
- Đối với thủ tục cưỡng chế: Cần phối hợp với các cơ quan chuyên môn có liên quan nghiên cứu, hoàn thiện quy định trình tự, thủ tục cưỡng chế đối với tài sản là cổ phần, cổ phiếu; tài sản hình thành trong tương lai. Đây là những loại tài sản ngày càng có xu hướng nhiều lên do sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đa dạng hóa các loại hình kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
2.6. Xây dựng chính sách pháp luật đặc thù trong công tác thi hành án dân sự
Thứ nhất, quy định về thi hành án có yếu tố nước ngoài còn nhiều vướng mắc như:
- Chưa xác định rõ khái niệm THADS có yếu tố nước ngoài: Chưa có quy định khái niệm THADS có yếu tố nước ngoài mà cơ bản các cơ quan THADS phải vận dụng các quy định của pháp luật hiện hành như khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài; khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
- Vướng mắc trong việc xác định thẩm quyền tổ chức thi hành án: Theo quy định tại Điều 35 Luật Thi hành án dân sự thì địa chỉ, nơi cư trú của đương sự là một trong những căn cứ xác định cơ quan THADS có thẩm quyền tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, có rất nhiều tình huống trên thực tế có thể dẫn đến sự thay đổi về thẩm quyền tổ chức thi hành án. Do đó, có thể đưa ra các tình huống khác nhau để xác định thẩm quyền tổ chức thi hành án.
- Luật Thi hành án dân sự chưa phân biệt và quy định các phương thức tống đạt, thông báo cho đương sự ở nước ngoài đối với những trường hợp cụ thể. Quy định về thời hạn thực hiện ủy thác tư pháp kéo dài như hiện nay làm ảnh hưởng đến việc tổ chức thi hành án.
Vì vậy, cần nghiên cứu toàn diện để xây dựng một chương riêng về thi hành án có yếu tố nước ngoài để thống nhất thực hiện, phù hợp với xu thế hội nhập, tuân theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, về bán đấu giá tài sản thi hành án: Hiện nay, trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật Đấu giá tài sản năm 2016. Tuy nhiên, về bản chất, việc đấu giá tài sản thi hành án có tính chất cưỡng chế, bắt buộc để thực hiện bản án, quyết định của Tòa án, khác với tính chất đấu giá tài sản tự nguyện trong quan hệ pháp luật dân sự. Do đó, cần nghiên cứu những định hướng, chính sách riêng đối với việc bán đấu giá tài sản thi hành án có tính chất đặc thù này để hạn chế một số quyền của đương sự cũng như giảm số lần bán đấu giá.
2.7. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thi hành án dân sự
Hiện nay, cùng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc áp dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của cơ quan THADS cũng cần thay đổi đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội như: Yêu cầu thi hành án, giao văn bản về thi hành án, thông tin về việc tổ chức thi hành án cho các đương sự, các tổ chức, cá nhân, người có quyền lợi liên quan theo các hình thức trực tuyến như các phần mềm hỗ trợ trực tuyến, các trang mạng xã hội phổ biến như zalo, email hay trang fanpage chính thức của các tổ chức, cá nhân, cơ quan THADS; truy cập các phần mềm quản lý của các cơ quan chuyên ngành về bất động sản, động sản, tài khoản, giấy tờ có giá... để xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về việc thi hành án có liên quan đối với các loại tài sản này, làm cho mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau và với người dân, doanh nghiệp ngày càng gần gũi, thân thiện, phục vụ có hiệu quả hơn. Thúc đẩy cải cách hành chính, đẩy nhanh tiến độ xây dựng chính quyền điện tử, công sở điện tử. Để bảo đảm thực hiện khả thi trên thực tiễn cần phải có sự hoàn thiện đồng bộ của nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu thì khi sửa Luật Thi hành án dân sự cũng cần có quy định có tính dự báo dài cho tiến trình tất yếu của sự phát triển.
Trên đây là những phân tích, nhận định ban đầu về bối cảnh và những định hướng, chính sách hoàn thiện Luật Thi hành án dân sự của tác giả. Việc nghiên cứu, xây dựng những định hướng, chính sách phục vụ việc xây dựng Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung là hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, rất cần sự tham gia nghiên cứu, phối hợp của quý học giả, bạn đọc để việc xây dựng Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung được thiết thực, hiệu quả, đạt chất lượng.

Nguyễn Văn Sơn
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự



[1]. Bài viết này được thực hiện trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu xây dựng những định hướng, chính sách lớn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự” của Bộ Tư pháp, năm 2021.
[2]. Bộ Tư Pháp (Cục Bổ trợ tư pháp), Báo cáo chuẩn bị một số nội dung phục vụ cuộc họp Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Hà Nội ngày 01/9/2020, tr. 5.
[3]. Bộ Tư pháp, Báo cáo tổng kết công tác THADS, theo dõi thi hành án hành chính năm 2020, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: