Thứ tư 20/05/2026 08:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật

Kết hôn trái pháp luật là việc kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc kết hôn trái pháp luật sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật và không được Nhà nước bảo hộ như việc kết hôn hợp pháp. Bài viết này nghiên cứu về các biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, của gia đình và đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.


1. Khái niệm biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật

Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình, cụ thể là: (i) Nam chưa đủ 20 tuổi và nữ chưa đủ 18 tuổi được coi là vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn; (ii) Nếu một trong hai bên hoặc cả hai bên bị lừa dối, bị cưỡng ép kết hôn thì bị coi là không tự nguyện kết hôn và vi phạm điều kiện về ý chí tự nguyện; (iii) Nếu một người mất năng lực hành vi dân sự mà vẫn được đăng ký kết hôn thì bị coi là vi phạm điều kiện về năng lực hành vi dân sự. Bên cạnh đó, các trường hợp như: Kết hôn giả tạo; tảo hôn; cưỡng ép, lừa dối kết hôn; kết hôn với người đang có chồng, có vợ; kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng… cũng bị coi là kết hôn trái pháp luật.

Xét dưới góc độ pháp lý, hành vi kết hôn trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của công dân, ảnh hưởng đến hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, khiến cho các cơ quan nhà nước khó có thể nắm bắt và quản lý được các vấn đề liên quan đến hộ tịch, khai sinh hay giải quyết những tranh chấp khác. Bên cạnh đó, việc kết hôn trái pháp luật còn ảnh hưởng tới nhiều mặt của đời sống xã hội, như vi phạm nghiêm trọng về đạo đức, nhân cách, lối sống của gia đình Việt Nam, phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, ảnh hưởng đến sức khỏe và việc duy trì nòi giống của dân tộc. Do đó, Nhà nước ta đã thể hiện thái độ nghiêm khắc thông qua các biện pháp xử lý những trường hợp kết hôn trái pháp luật.

Biện pháp xử lý những trường hợp kết hôn trái pháp luật chính là cách thức mà Nhà nước dùng để xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật về kết hôn. Xử lý kết hôn trái pháp luật là một trong những nội dung không thể thiếu đối với pháp luật điều chỉnh việc kết hôn. Bởi lẽ, xử lý kết hôn trái pháp luật là việc áp dụng các biện pháp chế tài cần thiết nhằm bảo đảm để điều kiện kết hôn được tuân thủ. Xử lý kết hôn trái pháp luật theo pháp luật Việt Nam đa dạng về các hình thức chế tài và không chỉ áp dụng riêng đối với người kết hôn, mà còn áp dụng với những người có liên quan. Tùy từng trường hợp cụ thể mà hành vi vi phạm có thế bị xử lý ở từng mức độ khác nhau.

Có thể hiểu, biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật là những cách thức do pháp luật quy định được áp dụng để giải quyết việc kết hôn trái pháp luật. Hay có thể hiểu, biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật là chế tài do Nhà nước đặt ra đối với các chủ thể trong quan hệ kết hôn trái pháp luật nhằm đảm bảo sự ổn định của gia đình và trật tự xã hội.

Bằng các chế tài của pháp luật, việc xử lý kết hôn trái pháp luật đã góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân, các chủ thể bị hành vi kết hôn trái pháp luật này xâm hại và những chủ thể đặc biệt trong xã hội như phụ nữ và trẻ em. Đồng thời, việc xử lý các hành vi vi phạm này còn giúp các cơ quan nhà nước thuận tiện trong quá trình quản lý cũng như giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, quan hệ hôn nhân và gia đình là những quan hệ vô cùng nhạy cảm, nên việc xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật không chỉ đơn thuần là việc dùng sức mạnh của pháp luật để xử lý những vi phạm, mà còn phải phù hợp với thực tế cuộc sống, hướng tới mục tiêu quan trọng nhất là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người.

Pháp luật luôn đi đôi với pháp chế, đòi hỏi sự tuân thủ tuyệt đối của tất cả các chủ thể trong xã hội, nhưng áp dụng pháp luật để xử lý những vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì lại phải hết sức mềm dẻo, linh hoạt, không chỉ dựa trên quy định của pháp luật, mà còn phải căn cứ vào thực tế các quan hệ hôn nhân cụ thể. Mục đích và ý nghĩa của việc xử lý những hình thức kết hôn trái pháp luật chỉ thực sự đạt được khi dung hòa hai vấn đề này, đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, góp phần vào việc tạo ra những gia đình ổn định, hạnh phúc được xây dựng trên cơ sở tình yêu giữa vợ và chồng, tình yêu thương giữa cha mẹ và con cái. Gia đình hạnh phúc chính là những tế bào tốt của một xã hội văn minh, phát triển. Như vậy, những biện pháp này còn có ý nghĩa bình ổn các mối quan hệ trong xã hội, giữ tâm lý ổn định trong nhân dân, bảo vệ các giá trị truyền thống, những chuẩn mực về đạo đức cũng như những nét văn hóa của dân tộc.

Xử lý kết hôn trái pháp luật có mối liên hệ mật thiết với nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, trong đó có cả luật nội dung cũng như luật hình thức. Xử lý kết hôn trái pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với các quy định của Luật Hình sự, Luật Hành chính với tư cách là luật nội dung trong việc ghi nhận các biện pháp chế tài đối với từng hành vi và mức độ vi phạm pháp luật về kết hôn, tạo cơ sở pháp lý để việc xử lý kết hôn trái pháp luật, đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa. Xử lý kết hôn trái pháp luật cũng có mối liên hệ với các quy định của Luật Bình đẳng giới, phù hợp với quy định của Luật Bình đẳng giới, bảo đảm bình đẳng giới. Xử lý kết hôn trái pháp luật cũng có mối liên hệ mật thiết không thể tách rời với các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong việc giải quyết vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật. Vì vậy, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn có mối liên hệ không thể tách rời với các quy định pháp luật có liên quan tạo thành một chỉnh thể thống nhất, góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn.

Về bản chất pháp lý, biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật là chế tài vì nó thể hiện ý chí của Nhà nước, buộc các bên kết hôn phải tuân theo mà không phụ thuộc vào ý chí của họ. Biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, đó là một biện pháp chế tài đối với hành vi kết hôn trái pháp luật. Đây được coi là thái độ phủ định của Nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật về kết hôn. Tất cả các chính sách, pháp luật của Nhà nước đều được xây dựng và thực hiện xuất phát từ lợi ích của con người, cho con người, vì con người. Bên cạnh đó, pháp luật còn bảo đảm trật tự xã hội, lợi ích chung của cả xã hội. Để đạt được mục đích đó, mỗi công dân phải có ý thức tuân thủ pháp luật. Các hành vi vi phạm pháp luật, không tuân thủ các điều kiện kết hôn mà pháp luật quy định sẽ bị xử lý. “Hủy kết hôn trái pháp luật” chính là sự thể hiện thái độ không đồng tình của Nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật và các chủ thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi đối với hành vi vi phạm của mình.

Thứ hai, biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật mang tính chất mềm dẻo và linh hoạt. Sự linh hoạt, mềm dẻo thể hiện trong nguyên tắc xử lý. Khi xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật phải căn cứ vào hoàn cảnh, thời điểm, mức độ vi phạm, hậu quả của hành vi vi phạm để đưa ra quyết định. Tuy nhiên, biện pháp chế tài được áp dụng đối với những người vi phạm pháp luật phải trên cơ sở kết hợp giáo dục, thuyết phục, thu hút sự tham gia của xã hội vào cuộc đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm nói chung và vi phạm pháp luật về kết hôn nói riêng.

Thứ ba, biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật rất đa dạng, bảo đảm tính nghiêm minh của Nhà nước trong việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật. Đây là điểm rất đặc biệt của biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật. Biện pháp này không chỉ dừng lại ở việc kiện dân sự, mà có thể mở rộng sang việc xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự, tùy vào mức độ vi phạm của hành vi. Với sự đa dạng của biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật đã góp phần vào việc xây dựng chế độ hôn nhân gia đình tự nguyện, tiến bộ, bảo đảm thuần phong mỹ tục, đem lại hiệu quả điều chỉnh của pháp luật trong đời sống xã hội, ngăn chặn hành vi vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn.

2. Các biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật

Một là, hủy việc kết hôn trái pháp luật

Hủy việc kết hôn trái pháp luật là việc Tòa án áp dụng pháp luật để giải quyết mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan trong việc kết hôn trái pháp luật. Tòa án theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tác động tới việc kết hôn trái pháp luật làm cho quan hệ đó không còn tồn tại hoặc không có giá trị pháp lý nữa. Đây là sự thể hiện thái độ không thừa nhận của Nhà nước đối với việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ, chồng nhưng không tuân thủ các quy định về điều kiện kết hôn. Là biện pháp chế tài mà các bên phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi từ hành vi vi phạm, giữa các bên không phát sinh và tồn tại quan hệ vợ, chồng kể từ thời điểm đăng ký kết hôn trái pháp luật.

Hủy việc kết hôn trái pháp luật được coi biện pháp chủ đạo khi xử lý kết hôn trái pháp luật. Biện pháp này là tiền đề, là cơ sở để tiếp tục thực hiện các biện pháp xử lý khác khi các chủ thể trong kết hôn trái pháp luật vẫn cố ý duy trì quan hệ chung sống trái pháp luật hoặc gây ra những hậu quả nhất định.

Khi nghiên cứu về vấn đề này cho thấy, quan điểm lập pháp của các nước cũng như của Việt Nam, vẫn có những ngoại lệ nhất định khi xử lý kết hôn trái pháp luật, dựa trên tính chất đặc biệt của các quan hệ trong hôn nhân và gia đình nói chung. Vì vậy, ngay cả khi là trái pháp luật thì việc kết hôn đó vẫn có thể được thừa nhận. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị phát hiện và có yêu cầu xử lý, có hai trường hợp xảy ra:

Thứ nhất, việc kết hôn trái pháp luật đó không bị hủy do các bên đã đủ điều kiện kết hôn, có ý chí tự nguyện thừa nhận và muốn duy trì quan hệ đó. Đối với trường hợp này, ngoài giấy chứng nhận kết hôn vẫn có giá trị pháp lý, phải thêm ý chí tự nguyện của các bên và việc công nhận của Toà án bằng một quyết định có hiệu lực. Với một loạt hành vi pháp lý này, kết hôn trái pháp luật sẽ không còn bị coi là kết hôn trái pháp luật nữa và vẫn làm phát sinh quan hệ vợ, chồng.

Thứ hai, việc kết hôn trái pháp luật bị hủy và giữa họ chưa từng tồn tại quan hệ vợ, chồng. Sau khi bị hủy phải giải quyết các mối quan hệ phát sinh từ việc kết hôn trái pháp luật đó: Gồm các mối quan hệ về nhân thân và tài sản giữa hai bên kết hôn trái pháp luật với nhau và giữa hai bên kết hôn trái pháp luật với người thứ ba. Đặc biệt là quan hệ đối với tài sản khi các bên lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận hay chế độ tài sản theo luật định. Việc kết hôn trái pháp luật có thể tồn tại rất lâu mới bị phát hiện và bị hủy hoặc có thể tồn tại khi một trong hai bên chết mới lật lại vấn đề có hủy việc kết hôn trái pháp luật đó hay không, để xác định các quan hệ phát sinh từ việc kết hôn trái pháp luật đó và vấn đề thừa kế tài sản giữa các bên kết hôn trái pháp luật.

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, hủy việc kết hôn trái pháp luật là một loại việc dân sự. Vì vậy, đường lối giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật tuân theo các quy định về thủ tục giải quyết các việc dân sự. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật là Tòa án nhân dân, thông thường là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của một trong hai bên hoặc Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với việc hủy kết hôn trái pháp luật có yếu tố nước ngoài. Là một loại việc dân sự, hủy việc kết hôn trái pháp luật có những đặc thù riêng. Về nguyên tắc, Tòa án không tiến hành hòa giải, mà điều tra xác minh nếu xét thấy có dấu hiệu vi phạm điều kiện kết hôn, thì áp dụng pháp luật tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Hai là, biện pháp hành chính

Biện pháp hành chính là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các quy định về xử phạt hành chính đối với các bên kết hôn và các chủ thể thực hiện những hành vi vi phạm liên quan đến kết hôn trái pháp luật. Biện pháp hành chính được áp dụng để xử lý các bên kết hôn trái pháp luật khi có sự cố ý duy trì quan hệ chung sống trái pháp luật giữa các bên kết hôn trái pháp luật, do vi phạm điều kiện kết hôn mà pháp luật hành chính cho rằng, đã vi phạm trật tự công cộng và cần thiết phải xử lý. Tuy nhiên, cần lưu ý biện pháp hành chính có thể không được áp dụng đối với một số chủ thể trong quan hệ kết hôn trái pháp luật vì các lý do như độ tuổi hoặc là nạn nhân của việc kết hôn trái pháp luật. Mặt khác, biện pháp hành chính cũng có thể được áp dụng đối với những chủ thể khác (không phải là hai bên kết hôn) có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình như: Tổ chức tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện… hoặc vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Có thể kết hợp đa dạng nhiều hình thức xử lý khác nhau với các bên kết hôn trái pháp luật và các chủ thể có liên quan. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp hành chính khi xử lý quan hệ kết hôn trái pháp luật phải thực hiện theo các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Biện pháp hành chính được áp dụng phổ biến để xử lý kết hôn trái pháp luật là cảnh cáo và phạt tiền.

Ba là, biện pháp hình sự

Biện pháp hình sự là việc các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các quy định trong pháp luật hình sự để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình đã có đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Biện pháp hình sự được áp dụng để xử lý kết hôn trái pháp luật là biện pháp cuối cùng, được coi là chế tài nặng nhất đối với chủ thể kết hôn trái pháp luật và các chủ thể khác liên quan khi thỏa mãn các điều kiện nhất định. Mức độ nguy hiểm đến đâu thì có hình phạt tương ứng đến đó. Tính nguy hiểm cho xã hội là cơ sở để cá thể hóa hình phạt trong thực tiễn áp dụng luật. Trong từng trường hợp cụ thể mà từng người phạm tội khác nhau phải chịu những hình phạt khác nhau, mục đích chủ yếu là cải tạo, giáo dục người phạm tội để họ trở thành người có ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc của cuộc sống. Tuy nhiên, việc xử lý hình sự đối với các vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình nói chung và kết hôn nói riêng còn rất hạn chế. Để khắc phục tình trạng này, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định nhiều tội danh liên quan đến việc kết hôn trái pháp luật, thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước trước hành vi cố ý duy trì việc kết hôn trái pháp luật, có thể gây ra những hậu quả xấu cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt là con cái.

Tóm lại, các biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật được coi là các chế tài áp dụng cho các hành vi vi phạm pháp luật về kết hôn tương ứng với mức độ của việc vi phạm. Việc đưa ra các biện pháp chế tài này đã phần nào giảm bớt tình trạng kết hôn trái pháp luật, như tình trạng tảo hôn, kết hôn giả tạo, kết hôn vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng... Kết quả, các quan hệ kết hôn được đưa về đúng quỹ đạo của nó, thúc đẩy các quan hệ hôn nhân và gia đình tồn tại và phát triển theo đúng định hướng mà Nhà nước mong muốn. Khi các biện pháp này được áp dụng để xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật trên thực tế, các đương sự phải chấm dứt hành vi vi phạm. Điều đó trực tiếp hoặc gián tiếp đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ kết hôn trái pháp luật và các chủ thể có liên quan.

Đức Thị Hòa
Ủy ban nhân dân huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: