Thứ năm 05/03/2026 03:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các học thuyết giải thích hợp đồng trên thế giới và việc vận dụng vào chế định giải thích hợp đồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Giải thích hợp đồng là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền nhằm làm rõ các nội dung không rõ ràng của hợp đồng. Tranh chấp về giải thích hợp đồng ngày càng trở nên phổ biến trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay. Việc xây dựng chế định giải thích hợp đồng sẽ tạo cơ sở pháp lý trong việc giải thích, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên trong hợp đồng. Bài viết này phân tích về các học thuyết giải thích hợp đồng trên thế giới, từ đó, liên hệ đến chế định giải thích hợp đồng trong pháp luật Việt Nam.

Abstract: Interpreting contract is an activity of a competent subject in order to bring out the meaning of unclear contents of a contract. Disputes arising out of contract interpretation become more and more popular in the epoch of current globalization. The setting up institution of contract interpretation will create legal basis in interpretation with a view to protect rights and interests of the concerned parties. This article analyses doctrines of interpreting contract in the world, and from there, relates to the institution of contract interpretation in Vietnamese law.

1. Các học thuyết giải thích hợp đồng trong pháp luật hiện đại

1.1. Học thuyết ý chí và học thuyết thể hiện ý chí

Ý chí của các bên chính là cái tạo nên hiệu lực hợp đồng, tuy nhiên, việc lựa chọn học thuyết nào cho chế định giải thích hợp đồng của mỗi quốc gia lại dựa vào mục đích của chế định này, các nhà làm luật hướng tới lợi ích của chính các bên tham gia hợp đồng hay lợi ích của giao lưu dân sự nói chung - trật tự công cộng[1]. Những luật gia theo đuổi học thuyết thể hiện ý chí nhằm hướng tới trật tự pháp lý nhằm bảo vệ quan hệ thương mại. Tuy nhiên, hiện nay rất khó tìm thấy dạng thuần khiết của hai trường phái này[2].

Theo học thuyết thể hiện ý chí, bất luận ý chí thực sự của các bên giao kết hợp đồng là thế nào, thì khi giải thích hợp đồng, chủ thể giải thích chỉ chú trọng đến ý chí đã được tuyên bố trong hợp đồng mà thôi. Bởi vì, các luật gia ủng hộ học thuyết thể hiện ý chí cho rằng, giao dịch dân sự chính là hành vi, có nghĩa là hậu quả pháp lý bắt buộc phải gắn liền với sự thể hiện ý chí, nhờ vào đó mà tạo ra sự ổn định cho giao lưu dân sự[3]. Và như vậy, khi có sự mâu thuẫn giữa ý chí thực và ngôn từ trong hợp đồng (thể hiện ý chí) thì chỉ có sự tuyên bố ý chí này có hiệu lực. Pháp luật dân sự Đức, Vương quốc Anh là những đại diện tiêu biểu của việc ưu tiên áp dụng học thuyết thể hiện ý chí trong giải thích hợp đồng. Ngược lại, học thuyết ý chí coi trọng ý chí chung đích thực của các bên tại thời điểm tuyên bố. Chính vì vậy, khi giải thích hợp đồng nhiệm vụ của chủ thể giải thích là đi tìm ý chí chung đích thực của các bên trong hợp đồng; khi có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên và sự thể hiện ý chí trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng. Những nước xây dựng chế định giải thích hợp đồng dựa trên học thuyết ý chí có thể kể đến là Pháp, Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004. Nhìn chung, mỗi học thuyết trên đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng[4].

Học thuyết ý chí cho rằng, ý chí đích thực của các bên mới là cái mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia vào hợp đồng. Hay ý chí là cốt lõi của hợp đồng. Học thuyết ý chí trở nên nở rộ và phát triển đầy đủ vào thế kỷ XIX, khi mà các lý thuyết gia về hợp đồng thời kỳ đó đều thừa nhận học thuyết tự do hợp đồng là học thuyết trung tâm của pháp luật về hợp đồng. Kết quả là việc xem hợp đồng như luật giữa các cá nhân. Điều này có nghĩa là họ quan niệm nghĩa vụ hợp đồng phát sinh từ ý chí của chính các cá nhân này. Ý chí chính là yếu tố trung tâm, là trái tim hình thành nên hợp đồng. Ngày nay, người ta đều thừa nhận ý chí của các bên là yếu tố duy nhất hình thành nên hợp đồng và làm phát sinh các hậu quả pháp lý[5]. Vì thế, việc giải thích hợp đồng cần phải tìm hiểu ý đồ thực sự của các bên khi tham gia vào hợp đồng để giải thích. Quan điểm này không phải là không hợp lý, bởi vì suy cho cùng thì hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên (hay sự thể hiện ý chí và thống nhất ý chí của các bên) làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ. Việc giải thích hợp đồng dựa vào ý chí đích thực của các bên đảm bảo được sự ngay tình, thiện chí cho các bên trong quan hệ hợp đồng, đảm bảo giữ nguyên được triết lý truyền thống trong pháp luật hợp đồng, đó là triết lý về sự tự do ý chí và thống nhất ý chí. Tuy nhiên, nhược điểm của học thuyết ý chí đó là, vì quá đề cao ý chí chung của các bên nên khiến cho các bên không phải chịu trách nhiệm cho những tuyên bố của mình trong hợp đồng. Và trong nhiều trường hợp, khi bên thứ ba tin vào sự thể hiện ý chí của các bên trong hợp đồng mà hành động thì có thể quyền lợi của họ bị ảnh hưởng.

Các luật gia ủng hộ học thuyết thể hiện ý chí lại cho rằng, không phải dễ dàng để phát hiện được ý chí đích thực của các bên khi giao kết hợp đồng. Bởi vì trong quan hệ hợp đồng, các bên luôn mong muốn đạt được những lợi ích tốt nhất về phần mình. Và ý chí nếu không được thể hiện ra bên ngoài, thì không tạo ra hậu quả pháp lý. Ý chí chung của các bên chỉ làm hình thành nên hợp đồng khi nó được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định. Hay nói cách khác, ý chí là yếu tố quan trọng để tạo ra hợp đồng, nhưng “ý chí mà không được thể hiện ra bên ngoài thì không có giá trị pháp lý”[6]. Chính vì thế, khi giải thích hợp đồng các chủ thể phải dựa vào ngôn từ của hợp đồng (sự thể hiện ý chí). Đây chính là cơ sở triết lý của thuyết thể hiện ý chí. Theo học thuyết này, thì việc giải thích hợp đồng dựa vào sự thể hiện ý chí sẽ đảm bảo được sự ổn định tương đối cho các quan hệ hợp đồng đã được xác lập và tránh được sự tùy tiện của chủ thể giải thích khi giải thích hợp đồng. Giải thích hợp đồng dựa trên cơ sở sự thể hiện ý chí sẽ đảm bảo các chủ thể giải thích không thể áp đặt ý chí của mình để giải thích hợp đồng và bóp méo hay làm sai lệch nội dung của hợp đồng. Hơn nữa, thuyết thể hiện ý chí cũng có lý khi nói rằng, suy cho cùng ý chí của các bên được biểu hiện ra bên ngoài bằng ngôn từ trong hợp đồng, khi giao kết hợp đồng một bên có quyền tin rằng những gì thể hiện trong hợp đồng chính là ý chí đích thực của các bên. Và các bên buộc phải chịu trách nhiệm cho những xử sự của mình khi thể hiện ra bên ngoài bằng hợp đồng và các bên khác có quyền tin vào sự thể hiện ý chí đó.

1.2. Học thuyết trung dung - Sự dung hòa giữa học thuyết ý chí và thể hiện ý chí

Trong Khoa học Luật Dân sự, tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa ý chí và thể hiện ý chí. Theo các học giả ủng hộ học thuyết ý chí thì cốt lõi của hợp đồng là ý chí của các bên. Vì thế, trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí và thể hiện ý chí thì ý chí được sử dụng để giải thích hợp đồng chứ không phải là sự thể hiện ý chí[7]. Còn các học giả ủng hộ học thuyết thể hiện ý chí thì ngược lại, theo họ, hợp đồng trước hết là hành vi, có nghĩa là hậu quả pháp lý bắt buộc phải bắt nguồn từ chính sự thể hiện ý chí, và dựa vào đó mà đảm bảo được sự ổn định cho giao lưu dân sự[8].

Theo Medovtsikova, ở các nước theo truyền thống thông luật, thẩm phán giải thích các điều khoản của hợp đồng không bao giờ trượt ra khỏi quy tắc, theo đó, với sự giải thích hợp đồng quan trọng nhất không phải là ý chí của các bên mà là sự thể hiện ra bên ngoài của nó[9]. Học thuyết thể hiện ý chí lại được chia thành hai khuynh hướng, khuynh hướng thứ nhất chỉ giải thích hợp đồng căn cứ vào sự thể hiện ý chí, khuynh hướng thứ hai bổ sung thêm ý chí của các bên cũng có ý nghĩa trong giải thích hợp đồng, nhưng chỉ trong trường hợp sự thể hiện ý chí không cho phép đưa ra kết luận về ý định của các bên[10]. Tuy nhiên, các nước theo truyền thống luật dân sự lại chia hợp đồng thành hai yếu tố tương đương và tất yếu đó là: Ý chí (yếu tố chủ quan) và thể hiện ý chí (yếu tố khách quan). Sự vắng mặt bất kỳ yếu tố nào trong đó đều không hình thành nên hợp đồng. Các học giả theo quan điểm này xem sự thống nhất giữa ý chí và thể hiện ý chí giống như điều kiện bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực[11].

Nhấn mạnh tầm quan trọng của cả ý chí và thể hiện ý chí đối với hợp đồng, vào giữa thế kỷ XX, một số học giả đưa ra quan điểm dung hòa hai học thuyết ý chí và thể hiện ý chí, đây được gọi là học thuyết trung dung. Một trong những đại diện tiêu biểu cho học thuyết này chính là GS. Ioffe[12]. A. F. Cherdantsev cũng cho rằng không thể giải thích giải thích các loại hợp đồng khác nhau chỉ dựa trên một học thuyết duy nhất[13]. Vũ Văn Mẫu cũng đề xuất quan điểm dung hòa hợp lý học thuyết ý chí và học thuyết thể hiện ý chí, “có thể nói rằng một giải pháp xác đáng, vừa tôn trọng quyền lợi cá nhân của người kết ước, vừa bảo vệ quyền lợi của người đệ tam, cần phải dung hòa một cách hợp lý hai quan niệm ý chí thực sự và ý chí tuyên bố”[14]. Học thuyết này được vận dụng vào Bộ luật Dân sự Liên bang Nga năm 1994 khi xây dựng chế định giải thích hợp đồng[15] và sau này được khá nhiều học giả Việt Nam ủng hộ. Theo Nguyễn Ngọc Khánh, “về mặt logic, quan điểm của GS. Ioffe có căn cứ và hợp lý, vì xét cho cùng, không nên và không thể chỉ dựa vào một học thuyết để giải thích, mà cần phối hợp nhiều cách tiếp cận khác nhau”[16].

Pháp luật dân sự Liên bang Nga hiện nay xây dựng chế định giải thích hợp đồng dựa vào học thuyết trung dung. Lý giải cho cách quy định này, các học giả Liên bang Nga lập luận rằng, ý chí là yếu tố quan trọng để thiết lập nên hợp đồng. Nhưng ý chí không thể hiện ra bên ngoài thì không có giá trị pháp lý, mà nó phải thể hiện ra bên ngoài để cho chủ thể thứ ba biết được. Vì vậy, “ngôn từ” chính là đối tượng duy nhất mà nghiên cứu nó thì mới cho phép chủ thể giải thích tìm được ý chí nguyên bản của các bên trong hợp đồng. Vấn đề đặt ra chỉ là ưu tiên ý chí hay sự thể hiện ý chí hơn trong việc giải thích hợp đồng. Trả lời cho câu hỏi này, các luật gia Liên bang Nga cho rằng, ý chí thì được che giấu bên trong và cho đến khi nó chưa được thể hiện ra bên ngoài thì nó không tồn tại đối với người thứ ba. Ý chí của các bên trong giao lưu dân sự phải được kiểm tra; chỉ khi ý chí được thể hiện ra bên ngoài thì mới có thể kiểm tra được. Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào sự thể hiện ý chí thì sẽ dẫn đến tình trạng quay lại với chủ nghĩa hình thức trong pháp luật trước đây, khi mà mỗi lời tuyên bố chỉ được đánh giá dựa trên nghĩa đen của từ ngữ, mà không quan tâm đến ý định và mong muốn của các bên[17].

2. Vận dụng các học thuyết về giải thích hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện nay

Ở Việt Nam, những Bộ luật Dân sự ra đời đầu tiên là vào thời kỳ Pháp thuộc, do chịu ảnh hưởng của pháp luật dân sự Pháp nên chế định giải thích hợp đồng được quy định gần như tương tự Bộ luật Dân sự Pháp thời bấy giờ. Theo đó, Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định: “Phàm luận giải về hiệp ước nên đồ xét cái ý chung của các người đương sự hơn là để ý về nghĩa đen từng chữ”[18]. Hoàng Việt Trung bộ luật lệ quy định: “Phàm giải nghĩa về hiệp ước, nên tìm xem cái ý chung của các người đương sự hơn là câu nệ về nghĩa đen từng chữ”[19]. Quy định tương tự, Bộ Dân luật giản yếu Nam kỳ khẳng định: “Trong sự giải thích khế ước, cần phải tìm hiểu ý định chung của các bên cộng ước hơn là dựa vào văn từ của khế ước”[20]. Nhìn vào các quy định này có thể thấy, các Bộ dân luật đầu tiên của Việt Nam do chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật Pháp nên đã xây dựng chế định giải thích hợp đồng dựa chủ yếu trên học thuyết ý chí. Bởi theo triết lý của luật dân sự thì tự do ý chí là nguồn gốc của nghĩa vụ. Luận giải về chế định giải thích hợp đồng trong Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ Dân luật Trung kỳ, Vũ Văn Mẫu cũng đã chỉ ra rằng, trong sự tìm kiếm ý chí của đương sự, thẩm phán có thể đứng trước hai trường hợp tùy theo văn từ của khế ước có minh bạch hay không? Nếu văn bản của khế ước minh bạch, lẽ dĩ nhiên không có vấn đề phải giải thích, văn bản đó phải được áp dụng. Nếu bản văn của khế ước tối nghĩa hoặc mập mờ, thẩm phán có quyền giải thích. Và nguyên tắc căn bản cho sự giải thích khế ước là sự tìm kiếm ý chí của đương sự, vì ý chí của đương sự là căn cứ làm phát sinh các nghĩa vụ có hiệu lực như những nghĩa vụ pháp định[21]. Như vậy, có thể thấy, các Bộ luật Dân sự thời Pháp thuộc của Việt Nam xây dựng chế định giải thích hợp đồng dựa chủ yếu trên nền tảng của học thuyết ý chí.

Các pháp lệnh về hợp đồng được xây dựng sau này bao gồm Pháp lệnh Hợp đồng dân sự, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, không dành sự quan tâm đến chế định giải thích hợp đồng. Chính vì vậy, trong các văn bản này không có quy định về giải thích hợp đồng. Khi xây dựng Bộ luật Dân sự, các nhà làm luật Việt Nam khi xây dựng chế định giải thích hợp đồng đã dựa trên nền tảng của học thuyết trung dung nhưng ưu tiên học thuyết ý chí hơn. Bộ luật Dân sự năm 1995 lần đầu tiên ghi nhận chế định giải thích hợp đồng tại Điều 408, dựa trên cả học thuyết ý chí và thể hiện ý chí. Mặc dù vậy, Bộ luật Dân sự năm 1995 chưa giải quyết được vấn đề ưu tiên học thuyết ý chí hay thể hiện ý chí hơn khi có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên và ngôn từ của hợp đồng. Bộ luật Dân sự năm 2005 cơ bản vẫn giữ nguyên quy định của Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 1995 nhưng bổ sung thêm một căn cứ giải thích đối với hợp đồng theo mẫu và quan trọng hơn đã thể hiện rõ sự ưu tiên áp dụng học thuyết ý chí để giải thích hợp đồng khi có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ của hợp đồng[22]. Mặc dù có vẫn còn tồn tại nhiều điểm hạn chế, nhưng Bộ luật Dân sự năm 2005 đã thể hiện rõ về mặt chủ thuyết khi xây dựng chế định giải thích hợp đồng.

Đến Bộ luật Dân sự năm 2015, về mặt chủ thuyết, chế định giải thích hợp đồng trong Bộ luật này gần như vẫn giữ nguyên so với Bộ luật Dân sự năm 2005. Khoản 1 Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập hợp đồng, thực hiện hợp đồng” và “trong trường hợp có mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung được dùng để giải thích hợp đồng”. Quy định này cho thấy, căn cứ đầu tiên và quan trọng nhất trong việc giải thích hợp đồng là ý chí của các bên. Điều này có nghĩa là ý chí của mỗi bên trong hợp đồng được dùng như là căn cứ quan trọng nhất để xác định ý chí chung của các bên, từ đó làm rõ nội dung của hợp đồng. Tuy nhiên, không phải các nhà lập pháp không quan tâm đến học thuyết thể hiện ý chí để giải thích hợp đồng mà theo khoản 1 Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi giải thích hợp đồng “không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng”, có nghĩa là ngôn từ của hợp đồng cũng là một căn cứ giải thích hợp đồng. Mặc dù vậy, với cách diễn đạt của Điều 404, các chủ thể giải thích hợp đồng chỉ sử dụng ngôn từ của hợp đồng như một căn cứ nhằm xác định ý chí chung đích thực của các bên trong hợp đồng. Như vậy, có thể khẳng định, với quy định tại Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì ý chí của mỗi bên và ngôn từ của hợp đồng được coi là hai căn cứ quan trọng nhất để giải thích hợp đồng.

Khẳng định ưu tiên căn cứ ý chí chung của các bên hơn ngôn từ của hợp đồng đối với việc giải thích hợp đồng, khoản 5 Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng”. Quy định này của Bộ luật Dân sự năm 2015 kế thừa quy định tại Khoản 6 Điều 409 Bộ luật Dân sự năm 2005. Bộ luật Dân sự năm 1995 không có quy định này, dẫn đến chủ thể giải thích thiếu căn cứ pháp lý để giải thích hợp đồng khi trong hợp đồng có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ thể hiện. Tuy nhiên, với quy định này, Nguyễn Ngọc Khánh nhận định, Bộ luật Dân sự năm 2005 mới chỉ giải quyết được một vấn đề là khi đã xác định được ý chí chung của các bên và ý chí chung đó sự mâu thuẫn với ngôn từ được sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung được dùng để giải thích hợp đồng. Vậy trong trường hợp không xác định được ý chí chung của các bên thì ngôn từ của hợp đồng có được dùng để giải thích hợp đồng hay không[23]?

3. Một số gợi mở về mặt lý thuyết cho việc hoàn thiện chế định giải thích hợp đồng trong pháp luật Việt Nam

Để có thể được thiết kế một cách hợp lý, lô gíc và có sức sống lâu dài thì mỗi chế định pháp luật phải được xây dựng dựa trên một nền tảng của một chủ thuyết phù hợp. Có thể thấy, trên thế giới có nhiều học thuyết khác nhau về giải thích hợp đồng và như đã phân tích, mỗi học thuyết đều có những ưu điểm, hạn chế nhất định. Ở mỗi quốc gia khác nhau, dựa trên các hoàn cảnh thực tế khác nhau và nhằm hướng tới những mục đích khác nhau thì việc lựa chọn học thuyết nền tảng để giải thích hợp đồng là khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay, việc lựa chọn học thuyết trung dung là học thuyết chủ đạo vẫn được coi là hợp lý hơn cả. Bởi vì, học thuyết này vừa đảm bảo bản chất của hợp đồng chính là sự tự do ý chí, cũng như sự thiện chí của các bên, vừa đảm bảo các bên phải chịu trách nhiệm cho sự thể hiện ý chí của mình và tránh sự tùy tiện của chủ thể giải thích làm thay đổi nội dung của hợp đồng. Mặt khác, vừa đảm bảo được mục đích tạo sự ổn định cho giao lưu dân sự, vừa đảm bảo được trật tự công cộng. Quan điểm này cũng được rất nhiều luật gia trong và ngoài nước ủng hộ.

Tuy vậy, với quy định tại khoản 1 Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập hợp đồng, thực hiện hợp đồng”, chế định giải thích hợp đồng vẫn còn thể hiện những điểm hạn chế nhất định:

Thứ nhất, cách quy định này dẫn đến chủ thể giải thích khi giải thích hợp đồng rất khó phân biệt ý chí chung của các bên trong hợp đồng là căn cứ để giải thích hợp đồng hay mục đích của giải thích hợp đồng. Cần phải hiểu rằng, mục đích của việc giải thích hợp đồng là xác định ý chí chung đích thực của các bên tham gia giao kết hợp đồng dựa trên những căn cứ luật định. Bởi vì ý chí chung của các bên chính là yếu tố căn bản hình thành nên hợp đồng. Nhiệm vụ của chế định giải thích hợp đồng là xây dựng hệ thống căn cứ để chủ thể giải thích dựa vào đó để xác định ý chí chung của các bên. Vì vậy, phải xác định rằng, ý chí của mỗi bên trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm giao kết hợp đồng và sau khi giao kết hợp đồng là căn cứ để xác định ý chí chung của các bên (ý chí thống nhất của các bên). Bên cạnh ý chí của mỗi bên thì ngôn từ của hợp đồng cũng là một căn cứ để giải thích hợp đồng. Mặt khác, trong mọi quy định của văn bản quy phạm pháp luật, cần hạn chế tối đa việc sử dụng các cặp liên từ “không chỉ” - “mà còn”, vì sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau và quan trọng hơn là chủ thể áp dụng pháp luật sẽ gặp khó khăn khi phải xác định thứ tự ưu tiên.

Thứ hai, về mặt chủ thuyết, các nhà làm luật Việt Nam lựa chọn học thuyết trung dung, nhưng ưu tiên học thuyết ý chí hơn để giải thích hợp đồng. Chính vì vậy, ý chí của mỗi bên là căn cứ quan trọng nhất để giải thích hợp đồng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp căn cứ vào ý chí của mỗi bên vẫn chưa xác định được ý chí chung của các bên. Cho nên, cần phải căn cứ vào yếu tố thứ hai để giải thích hợp đồng, đó là ngôn từ của hợp đồng. Cách diễn đạt của khoản 1 Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa cho người đọc thấy được điều đó. Để khắc phục những hạn chế này, khoản 1 và khoản 5 Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên thiết kế lại như sau:

- Đối với khoản 1: Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì chủ thể giải thích phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập hợp đồng, thực hiện hợp đồng để giải thích hợp đồng.

Khi căn cứ vào ý chí của mỗi bên vẫn không thể giải thích được thì hợp đồng phải được giải thích dựa vào ngôn từ của nó.

- Đối với khoản 5: Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên thì với ngôn từ của hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng.

Bên cạnh đó, Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2015 còn đề cập đến một loạt các căn cứ giải thích hợp đồng nữa tại các khoản 2, 3, 4, 6, tuy nhiên, chúng tôi sẽ bình luận về vấn đề này trong những bài viết khác.

ThS. Hà Thị Thúy

Khoa Luật, Đại học Vinh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Stepanov N. V. (2014), Толькование граждаско – правового договора: проблемы теории и практики, Nxb Nauchnaya Musl, Moskva, tr.57.

[2]. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Pháp luật hợp đồng – Phần chung, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 380.

[3]. Novitsky B. (1954), Cделки. Исковая давность, Nxb Gociurizdat, Moskva, tr. 88.

[4]. Tuy vậy, như đã nói, ngày nay rất khó để tìm thấy dạng thuần khiết của hai học thuyết này ở pháp luật của các nước. Bởi vì hầu hết các nước đều có sự vận dụng cả hai học thuyết ý chí và thể hiện ý chí vào chế định giải thích hợp đồng nhưng ở mức độ khác nhau. Một số nước ưu tiên áp dụng học thuyết ý chí thực, một số nước còn lại lại ưu tiên áp dụng học thuyết ý chí thể hiện hơn.

[5]. Boris Starck (1989), Droit Civil, Obligation, 2.Contrat, Troisième édition, Litec, tr.4.

[6]. Novitski I. B. (1997), Римское Право, Nxb Knorus, Moskva, tr. 131.

[7]. Rabinovich N. V. (1960), Недействительность сделок и её последствия, Nxb Đại học Quốc gia Leningrad, Leningrad, tr.7.

[8]. Novitsky I. B. (1954), Cделки. Исковая давность, sđd, tr. 22

[9]. Medovtsikova E. O. (2002), Толкование гражданско – правового договора, Цивилистические записки: Межвузовский сборник научных трудов, Nxb Status, Moskva, 2001, tr. 127.

[10]. Stepanov N. V. (2014), Толкование гражданско – правового договора: проблемы теории и практика, Nxb Prospest, Moskva, tr. 62.

[11]. Ioffe O. C. (2004), Обязательство право, Nxb Juridichecky Centr Precc, Cant Peterburg, tr. 271.

[12]. Nguyễn Ngọc Khánh (2004), Giải thích hợp đồng dân sự: So sánh nước ngoài và kiên hệ Điều 408, Bộ luật Dân sự, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10/2004.

[13]. Cherdantsev A. F. (2003), Толкование права и договора, nhà xuất bản Yuniti – daha, Moskva, tr. 366.

[14]. Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam dân luật lược khảo, Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, sđd, tr. 89.

[15]. Bộ luật Dân sự Liên Bang Nga, Điều 431.

[16]. Nguyễn Ngọc Khánh (2004), Giải thích hợp đồng dân sự: So sánh nước ngoài và kiên hệ Điều 408, Bộ luật Dân sự, sđd.

[17]. Stepanov I. E. (2014), Толкование гражданско – правового договора: проблемы теории и практика, Nxb Nauchnaya Musl, Moskva, tr.62.

[18]. Điều 691 Bộ Dân luật Bắc kỳ.

[19]. Điều 732 Bộ Dân luật Trung kỳ.

[20]. Điều 708 Bộ Dân luật giản yếu Nam kỳ.

[21]. Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam dân luật lược khảo, Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, sđd, tr. 261.

[22]. Khoản 6 Điều 409 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên và ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng”.

[23]. Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định giải thích hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 266.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: