Thứ sáu 10/04/2026 19:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các nguyên tắc của công ty hợp danh theo luật doanh nghiệp năm 2014

Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã góp phần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Đối với công ty hợp danh, mặc dù đây là loại hình doanh nghiệp lần đầu tiên được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, nhưng trên thực tế, mô hình kinh doanh này đã xuất hiện trong đời sống kinh doanh trước khi được quy định trong luật.

Từ chỗ chỉ được quy định khiêm tốn trong bốn điều khoản tại Luật Doanh nghiệp năm 1999, đến nay, mô hình công ty này đã được quy định chi tiết, rõ ràng hơn trong Luật Doanh nghiệp năm 2014. Sự góp mặt của loại hình doanh nghiệp này đã mở rộng sự lựa chọn hơn nữa cho các nhà kinh doanh, thu hút được vốn đầu tư trong và ngoài nước, mở rộng hợp tác quốc tế trong quá trình hội nhập. Mặt khác, việc góp sức, góp vốn, góp kinh nghiệm từ nhiều nhà đầu tư sẽ góp phần tăng sức cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn mạnh. Bài viết này tập trung phân tích các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của công ty hợp danh trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, từ đó đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam để phù hợp với xu thế của pháp luật tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Công ty hợp danh đã từng tồn tại dưới các hình thức như là công ty đồng danh, hội hợp danh… trong thời gian tương đối dài tại Việt Nam. Tuy nhiên, kể từ khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 được ban hành, công ty hợp danh mới được pháp luật quy định trở lại với bốn điều[1]. Kế thừa và phát triển Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và đặc biệt là Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã tiếp tục quy định về loại hình công ty này với khuynh hướng chặt chẽ và đầy đủ hơn trước, đặc biệt là các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của công ty hợp danh.

1. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của công ty hợp danh trong Luật Doanh nghiệp năm 2014

Về cơ bản, công ty hợp danh phải tuân thủ các nguyên tắc áp dụng chung cho tất cả các loại hình công ty. Bản thân công ty hợp danh cũng có những nguyên tắc rất riêng biệt.

1.1. Nhóm nguyên tắc chung

(i) Nguyên tắc tự do, tự nguyện tham gia thành lập và rời khỏi công ty: “Quyền tự do nói chung và tự do kinh doanh nói riêng không chỉ là mục tiêu của xã hội văn minh, mà còn là động lực thúc đẩy xã hội phát triển, tiến bộ xã hội, sự phát triển của nền kinh tế và nâng cao mức sống của người dân”[2]. Mặc dù là loại hình công ty đối nhân nhưng việc tham gia hoặc rời khỏi công ty hợp danh vẫn luôn được quyết định bởi ý thức tự nguyện của mỗi thành viên. Không có chủ thể nào có quyền áp đặt lên ý chí của các thành viên của công ty hợp danh khi họ tham gia hoặc rời khỏi công ty.

(ii) Nguyên tắc tuân thủ nghiêm minh pháp luật và điều lệ công ty: Điều lệ công ty là bản cam kết của tất cả các thành viên công ty nên nó có giá trị buộc tất cả thành viên đều phải tôn trọng và thực hiện đầy đủ. Bên cạnh đó, ngoài việc tuân thủ điều lệ của công ty hợp danh, đương nhiên các thành viên còn phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định pháp luật.

(iii) Nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của công ty: Yêu cầu của nguyên tắc là mọi hoạt động của công ty hợp danh cần ghi chép và báo cáo công khai trước tất cả các thành viên khác khi cần thiết.

Trên thực tế, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đang quy định công ty hợp danh có hai loại hình thành viên là thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Điều này khác so với pháp luật của hầu hết các quốc gia, khi tại các quốc gia đó đều có sự tách bạch giữa công ty hợp danh với công ty hợp danh hữu hạn (công ty hợp vốn đơn giản). Vì vậy, đối với công ty hợp danh của Luật Doanh nghiệp năm 2014, về nguyên tắc, các thành viên góp vốn không được phép tham gia quản lý, điều hành và đại diện cho công ty hợp danh như thành viên hợp danh. Bởi vậy, chỉ có tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch thì tất cả các quyết định của hội đồng thành viên đều sẽ phải ghi chép chi tiết, cẩn thận vào sổ biên bản của công ty hợp danh. Qua đó, mới có thể bảo đảm quyền lợi và tạo dựng niềm tin giữa các thành viên cho dù họ không trực tiếp tham gia quản lý công ty hợp danh.

(iv) Nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng chia lợi nhuận: Yêu cầu của nguyên tắc này đó là công ty hợp danh phải tự quyết định phương án kinh doanh, hình thức và thời điểm huy động vốn, sử dụng tài sản, tự tìm kiếm thị trường, khách hàng, tự nhân danh công ty ký kết và thực hiện các hợp đồng… Mặt khác, trong suốt quá trình hoạt động, công ty hợp danh cũng phải tự mình chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tự quyết định việc phân chia lợi nhuận cho các thành viên theo tỷ lệ đóng góp sau khi đã thực hiện đầy đủ các khoản nghĩa vụ của công ty đối với pháp luật.

(v) Nguyên tắc nhất trí trong điều hành và hoạt động công ty: Nguyên tắc nhất trí còn được gọi là nguyên tắc quyết định theo đa số. Nguyên tắc này thể hiện qua việc quyết định các vấn đề quan trọng của công ty hợp danh phải được sự chấp thuận của tất cả các thành viên. Hiệu quả của nguyên tắc nhất trí, làm giảm tình trạng đa số phải phục tùng thiểu số và làm cho các thành viên ý thức hơn về các quyền và nghĩa vụ của họ tại công ty.

1.2. Nhóm nguyên tắc riêng của công ty hợp danh

Đây đều là các nguyên tắc ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của công ty hợp danh. Hệ thống các nguyên tắc riêng của công ty hợp danh hình thành từ chính bản chất của công ty này. Tuy nhiên, do công ty hợp danh tồn tại hai loại hình thành viên với tư cách pháp lý khác nhau, nên với từng loại hình thành viên cũng sẽ có các nguyên tắc riêng biệt.

1.2.1. Các nguyên tắc áp dụng cho thành viên hợp danh của công ty hợp danh

(i) Nguyên tắc các thành viên hợp danh phải cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm vô hạn và không bị hạn chế quyền hạn trong công ty hợp danh: Hiểu một cách chi tiết “hành vi liên đới” là: “Khi một thành viên hợp danh trong quá trình thực hiện dịch vụ của công ty mà gây thiệt hại thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bất cứ thành viên hợp danh nào bồi thường toàn bộ thiệt hại”[3]. Dù không trực tiếp thực hiện hành vi gây thiệt hại nhưng các thành viên hợp danh này vẫn phải gánh vác hậu quả từ hành vi của các thành viên hợp danh khác bởi giữa họ là sự liên đới trách nhiệm. Đối với chủ nợ của công ty hợp danh thì con nợ chính là công ty, còn các thành viên hợp danh luôn có trách nhiệm bảo lãnh liên đới. Đây là đặc trưng của công ty thuộc hình thức của công ty đối nhân. Trách nhiệm “liên đới” và “vô hạn” chính là những sợi dây gắn kết chặt chẽ các thành viên hợp danh với công ty hợp danh và giữa họ với nhau bởi cả yếu tố tâm lý và pháp lý. Qua đó, các thành viên hợp danh luôn phải giám sát lẫn nhau vì điều đó còn để tự bảo vệ cho chính bản thân họ.

Khoản 3 Điều 181 của Luật Doanh nghiệp năm 2014, quy định chặt chẽ về việc tiếp nhận thành viên mới: “Thành viên hợp danh mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và tài sản khác của công ty”. Căn cứ quy định này, ngay từ khi có thành viên hợp danh mới tham gia công ty hợp danh thì đã phải cùng các thành viên hợp danh cũ, liên đới và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty, kể cả những món nợ mà công ty hợp danh đã có từ trước khi thành viên hợp danh mới tham gia. Ngay cả khi thành viên hợp danh rời khỏi công ty thì pháp luật của nhiều quốc gia và trong đó có cả Việt Nam vẫn quy định trách nhiệm còn tồn tại bám theo họ. Khoản 5 Điều 180 quy định thêm, trong thời hạn hai năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh thì vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên. Còn pháp luật tại Đức quy định: “Thành viên ra khỏi công ty cũng phải chịu trách nhiệm trong thời hạn năm năm tiếp theo”[4]. Vậy chỉ sau khi kết thúc thời hạn trên, trách nhiệm vô hạn và liên đới của thành viên hợp danh mới hoàn toàn chấm dứt.

Do phải gánh chịu trách nhiệm nặng nề tại công ty hợp danh nên quyền hạn của các thành viên hợp danh rất lớn. Các thành viên hợp danh đều có tư cách thương gia (thương nhân) và họ có toàn quyền quyết định các hoạt động của công ty hợp danh.

(ii) Nguyên tắc việc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên hợp danh, phải được sự đồng ý của tất cả các thành viên hợp danh khác: Sự tồn tại của công ty hợp danh phụ thuộc rất lớn vào các thành viên hợp danh. Nguồn tài sản đóng góp vào công ty của các thành viên hợp danh không chỉ là các tài sản vật chất như tiền bạc, mà nhiều khi còn bao gồm những tài sản phi vật chất như: Uy tín cá nhân, các mối quan hệ, trình độ chuyên môn… Những tài sản đó thường gắn bó chặt chẽ với nhân thân của các thành viên hợp danh. Vì vậy, khi có sự dịch chuyển về thành viên hợp danh sẽ dễ dẫn đến việc công ty hợp danh không thể tiếp tục tồn tại. Do vai trò quá quan trọng đối với công ty, nên dù tài sản góp chỉ là tiền bạc thì việc chuyển nhượng cho một thành viên hợp danh khác hoặc cho người ngoài công ty cũng rất khó khăn. Bởi “nhân thân” của các thành viên hợp danh là yếu tố tạo nên sự tin tưởng, hợp tác giữa họ. Trước đây, GS. Vũ Văn Mẫu từng viết: “Ở trong hội hợp danh hay hội hợp tư, cá nhân của các hội viên được chú trọng đặc biệt, các cổ phần thường không thể được chuyển nhượng cho người ngoài”[5].

Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2014 ngăn cấm các thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của họ cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại[6]. Như vậy, với tư cách là thành viên hợp danh thì các thành viên này không thể tùy tiện chuyển nhượng phần vốn góp của họ cho bất kỳ người khác nếu không được sự đồng ý của tất cả thành viên hợp danh còn lại. Từ đó cho thấy, thành viên hợp danh thường có nhiều quyền hạn nhưng quyền tự định đoạt phần vốn góp của họ thì luôn bị pháp luật hạn chế.

1.2.2. Các nguyên tắc áp dụng cho thành viên góp vốn của công ty hợp danh

(i) Nguyên tắc các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đóng góp của họ tại công ty hợp danh: Thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về tài sản giống như cổ đông của công ty cổ phần hay thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn. Bản chất của chế độ trách nhiệm hữu hạn là: “Nghĩa vụ của cổ đông hay thành viên phải trả các khoản nợ của công ty được giới hạn trong số vốn đã cam kết góp vào công ty”[7].

Thành viên góp vốn được hưởng cơ chế chịu trách nhiệm hữu hạn trong công ty hợp danh là trái ngược với bản chất chung của mọi loại hình công ty đối nhân bởi lẽ, khi tham gia vào một công ty thuộc loại hình công ty đối nhân thì mọi thành viên đều phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty. Là công ty đối nhân nhưng chỉ các thành viên hợp danh mới bị áp dụng nguyên tắc chịu “trách nhiệm vô hạn”, còn thành viên góp vốn thì chỉ chịu “trách nhiệm hữu hạn” trong phạm vi số vốn góp tại công ty hợp danh.

Trước đây, nghĩa vụ về tài chính của thành viên góp vốn được quy định: “Dù góp phần bằng tiền bạc hay bằng hiện vật, dù góp cả một lúc hay góp dần, hội viên xuất tư (thành viên góp vốn) cũng chỉ phải chịu trách nhiệm tới mức phần hùn mà mình đã cam kết góp cho hội… Một khi đã góp đủ phần hùn là người xuất tư (góp vốn) hết trách nhiệm”[8].

Hiện nay, thành viên góp vốn cũng chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty hợp danh trong phạm vi số vốn góp[9]. Đây là nguyên tắc chung của pháp luật ở nhiều nước và pháp luật Việt Nam.

(ii) Nguyên tắc thành viên góp vốn không được tham gia quản lý, điều hành cũng như đại diện cho công ty hợp danh giao dịch với bên ngoài: Do trách nhiệm của thành viên góp vốn luôn giới hạn trong phạm vi số vốn góp nên họ thường không được tham gia quản lý điều hành các công việc của công ty hợp danh. Mặt khác, đối tượng trở thành thành viên góp vốn khá dễ dàng vì có thể là các cá nhân, tổ chức. Vì vậy, trên nguyên tắc, khi thành viên góp vốn chuyển nhượng phần vốn thì trách nhiệm của họ với công ty hợp danh cũng sẽ chấm dứt.

Lý giải việc thành viên góp vốn không được tham gia quản lý điều hành còn bởi: “Nếu thành viên góp vốn được thực hiện các hành vi quản lý, thì người thứ ba có thể lầm tưởng rằng, họ chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn về nợ của công ty”[10]. Ngoài ra, nó còn để đảm bảo sự công bằng cho các thành viên hợp danh, những người luôn phải chịu trách nhiệm đến cùng với sự tồn tại của công ty hợp danh.

Tuy nhiên, trong việc quản lý các công việc nội bộ của công ty hợp danh thì thành viên góp vốn cũng có quyền tham gia thảo luận và biểu quyết về một số vấn đề như: Bổ sung, sửa đổi điều lệ về các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn… (khoản 1 Điều 182 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Nhìn chung, quyền hạn của các thành viên góp vốn rất hạn chế và họ chỉ có một số quyền liên quan đến việc đảm bảo quyền lợi của họ tại công ty.

Còn về các hoạt động đối ngoại, thành viên góp vốn không có tư cách thương nhân nên họ không có quyền đại diện cho công ty hợp danh giao dịch với bên ngoài. Nếu thành viên góp vốn tự nhân danh công ty hợp danh giao dịch với bên ngoài thì chế độ trách nhiệm hữu hạn về tài sản sẽ mất và thành viên góp vốn đó cũng sẽ phải liên đới và chịu trách nhiệm vô hạn về tài chính cùng các thành viên hợp danh khác.

Theo pháp luật của Đức: “Về đối ngoại, chỉ thành viên nhận vốn mới có quyền đại diện. Nếu thành viên góp vốn đứng ra thay mặt công ty thì sẽ mất quyền chịu trách nhiệm hữu hạn”[11]. Còn ở Hoa Kỳ: “Thành viên góp vốn chỉ được thực hiện những quyền liên quan đến quyền hạn của thành viên góp vốn, ngoài ra không có quyền quản lý công ty”[12].

Như vậy, với tư cách là thành viên góp vốn, những thành viên này chỉ có một số quyền hạn nhất định trong phạm vi quản lý nội bộ mà có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của họ và thành viên góp vốn hoàn toàn không có quyền đại diện cho công ty hợp danh giao dịch với bên ngoài.

2. Kiến nghị

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định công ty hợp danh có sự tồn tại của hai loại hình thành viên: Thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Tuy nhiên, khác với Luật Doanh nghiệp của Việt Nam, pháp luật hầu hết các quốc gia đều quy định trong một công ty hợp danh thì chỉ tồn tại duy nhất một loại hình thành viên là thành viên hợp danh. Công ty hợp danh mà có sự xuất hiện của các thành viên góp vốn thì đã được công nhận là loại hình công ty hợp danh hữu hạn. Cũng từ quy định này của Luật Doanh nghiệp năm 2014, nên các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của công ty hợp danh trở nên phức tạp khi phải phân định thêm ranh giới giữa thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Bởi vậy, nhà làm luật của Việt Nam nên tách bạch rõ ràng hình thức pháp lý của công ty hợp danh với công ty hợp danh hữu hạn. Điều này còn phù hợp với xu thế của pháp luật tại nhiều quốc gia trên thế giới.

TS. Nguyễn Vinh Hưng

Tài liệu tham khảo:

[1]. Từ Điều 95 đến Điều 98 của Luật Doanh nghiệp năm 1999.

[2]. Mai Hồng Quỳ (2012), Một số vấn đề về tự do kinh doanh và tự do hợp đồng ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2012, tr. 3.

[3]. Văn Thiệu (2002), Vì sao công ty hợp danh chưa đi vào cuộc sống, Tạp chí Pháp lý số 4/2002, tr. 6.

[4]. Friedrich Fubler, Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, Nxb. Pháp lý, tr. 35.

[5]. Vũ Văn Mẫu (1961), Dân luật khái luận, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, tr. 413.

[6]. Khoản 3 Điều 175 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[7]. Phạm Duy Nghĩa (2009), Luật Doanh nghiệp: Tình huống - phân tích - bình luận, sđd, tr. 69.

[8]. Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ, Nguyễn Tân (1973), Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải, Nxb. Sài Gòn Kim lai ấn quán, Quyển II, tr. 807.

[9]. Điểm c khoản 1 Điều 172 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[10]. Nguyễn Mạnh Bách (2006), Các công ty thương mại, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, tr. 83.

[11]. Friedrich Fubler, Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, sđd, tr. 35.

[12]. Law School Resources: Agency & Partnership Outlines

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: