Thứ ba 14/07/2026 17:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các nguyên tắc của công ty hợp danh theo luật doanh nghiệp năm 2014

Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã góp phần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Đối với công ty hợp danh, mặc dù đây là loại hình doanh nghiệp lần đầu tiên được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, nhưng trên thực tế, mô hình kinh doanh này đã xuất hiện trong đời sống kinh doanh trước khi được quy định trong luật.

Từ chỗ chỉ được quy định khiêm tốn trong bốn điều khoản tại Luật Doanh nghiệp năm 1999, đến nay, mô hình công ty này đã được quy định chi tiết, rõ ràng hơn trong Luật Doanh nghiệp năm 2014. Sự góp mặt của loại hình doanh nghiệp này đã mở rộng sự lựa chọn hơn nữa cho các nhà kinh doanh, thu hút được vốn đầu tư trong và ngoài nước, mở rộng hợp tác quốc tế trong quá trình hội nhập. Mặt khác, việc góp sức, góp vốn, góp kinh nghiệm từ nhiều nhà đầu tư sẽ góp phần tăng sức cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn mạnh. Bài viết này tập trung phân tích các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của công ty hợp danh trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, từ đó đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam để phù hợp với xu thế của pháp luật tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Công ty hợp danh đã từng tồn tại dưới các hình thức như là công ty đồng danh, hội hợp danh… trong thời gian tương đối dài tại Việt Nam. Tuy nhiên, kể từ khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 được ban hành, công ty hợp danh mới được pháp luật quy định trở lại với bốn điều[1]. Kế thừa và phát triển Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và đặc biệt là Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã tiếp tục quy định về loại hình công ty này với khuynh hướng chặt chẽ và đầy đủ hơn trước, đặc biệt là các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của công ty hợp danh.

1. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của công ty hợp danh trong Luật Doanh nghiệp năm 2014

Về cơ bản, công ty hợp danh phải tuân thủ các nguyên tắc áp dụng chung cho tất cả các loại hình công ty. Bản thân công ty hợp danh cũng có những nguyên tắc rất riêng biệt.

1.1. Nhóm nguyên tắc chung

(i) Nguyên tắc tự do, tự nguyện tham gia thành lập và rời khỏi công ty: “Quyền tự do nói chung và tự do kinh doanh nói riêng không chỉ là mục tiêu của xã hội văn minh, mà còn là động lực thúc đẩy xã hội phát triển, tiến bộ xã hội, sự phát triển của nền kinh tế và nâng cao mức sống của người dân”[2]. Mặc dù là loại hình công ty đối nhân nhưng việc tham gia hoặc rời khỏi công ty hợp danh vẫn luôn được quyết định bởi ý thức tự nguyện của mỗi thành viên. Không có chủ thể nào có quyền áp đặt lên ý chí của các thành viên của công ty hợp danh khi họ tham gia hoặc rời khỏi công ty.

(ii) Nguyên tắc tuân thủ nghiêm minh pháp luật và điều lệ công ty: Điều lệ công ty là bản cam kết của tất cả các thành viên công ty nên nó có giá trị buộc tất cả thành viên đều phải tôn trọng và thực hiện đầy đủ. Bên cạnh đó, ngoài việc tuân thủ điều lệ của công ty hợp danh, đương nhiên các thành viên còn phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định pháp luật.

(iii) Nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của công ty: Yêu cầu của nguyên tắc là mọi hoạt động của công ty hợp danh cần ghi chép và báo cáo công khai trước tất cả các thành viên khác khi cần thiết.

Trên thực tế, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đang quy định công ty hợp danh có hai loại hình thành viên là thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Điều này khác so với pháp luật của hầu hết các quốc gia, khi tại các quốc gia đó đều có sự tách bạch giữa công ty hợp danh với công ty hợp danh hữu hạn (công ty hợp vốn đơn giản). Vì vậy, đối với công ty hợp danh của Luật Doanh nghiệp năm 2014, về nguyên tắc, các thành viên góp vốn không được phép tham gia quản lý, điều hành và đại diện cho công ty hợp danh như thành viên hợp danh. Bởi vậy, chỉ có tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch thì tất cả các quyết định của hội đồng thành viên đều sẽ phải ghi chép chi tiết, cẩn thận vào sổ biên bản của công ty hợp danh. Qua đó, mới có thể bảo đảm quyền lợi và tạo dựng niềm tin giữa các thành viên cho dù họ không trực tiếp tham gia quản lý công ty hợp danh.

(iv) Nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng chia lợi nhuận: Yêu cầu của nguyên tắc này đó là công ty hợp danh phải tự quyết định phương án kinh doanh, hình thức và thời điểm huy động vốn, sử dụng tài sản, tự tìm kiếm thị trường, khách hàng, tự nhân danh công ty ký kết và thực hiện các hợp đồng… Mặt khác, trong suốt quá trình hoạt động, công ty hợp danh cũng phải tự mình chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tự quyết định việc phân chia lợi nhuận cho các thành viên theo tỷ lệ đóng góp sau khi đã thực hiện đầy đủ các khoản nghĩa vụ của công ty đối với pháp luật.

(v) Nguyên tắc nhất trí trong điều hành và hoạt động công ty: Nguyên tắc nhất trí còn được gọi là nguyên tắc quyết định theo đa số. Nguyên tắc này thể hiện qua việc quyết định các vấn đề quan trọng của công ty hợp danh phải được sự chấp thuận của tất cả các thành viên. Hiệu quả của nguyên tắc nhất trí, làm giảm tình trạng đa số phải phục tùng thiểu số và làm cho các thành viên ý thức hơn về các quyền và nghĩa vụ của họ tại công ty.

1.2. Nhóm nguyên tắc riêng của công ty hợp danh

Đây đều là các nguyên tắc ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của công ty hợp danh. Hệ thống các nguyên tắc riêng của công ty hợp danh hình thành từ chính bản chất của công ty này. Tuy nhiên, do công ty hợp danh tồn tại hai loại hình thành viên với tư cách pháp lý khác nhau, nên với từng loại hình thành viên cũng sẽ có các nguyên tắc riêng biệt.

1.2.1. Các nguyên tắc áp dụng cho thành viên hợp danh của công ty hợp danh

(i) Nguyên tắc các thành viên hợp danh phải cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm vô hạn và không bị hạn chế quyền hạn trong công ty hợp danh: Hiểu một cách chi tiết “hành vi liên đới” là: “Khi một thành viên hợp danh trong quá trình thực hiện dịch vụ của công ty mà gây thiệt hại thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bất cứ thành viên hợp danh nào bồi thường toàn bộ thiệt hại”[3]. Dù không trực tiếp thực hiện hành vi gây thiệt hại nhưng các thành viên hợp danh này vẫn phải gánh vác hậu quả từ hành vi của các thành viên hợp danh khác bởi giữa họ là sự liên đới trách nhiệm. Đối với chủ nợ của công ty hợp danh thì con nợ chính là công ty, còn các thành viên hợp danh luôn có trách nhiệm bảo lãnh liên đới. Đây là đặc trưng của công ty thuộc hình thức của công ty đối nhân. Trách nhiệm “liên đới” và “vô hạn” chính là những sợi dây gắn kết chặt chẽ các thành viên hợp danh với công ty hợp danh và giữa họ với nhau bởi cả yếu tố tâm lý và pháp lý. Qua đó, các thành viên hợp danh luôn phải giám sát lẫn nhau vì điều đó còn để tự bảo vệ cho chính bản thân họ.

Khoản 3 Điều 181 của Luật Doanh nghiệp năm 2014, quy định chặt chẽ về việc tiếp nhận thành viên mới: “Thành viên hợp danh mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và tài sản khác của công ty”. Căn cứ quy định này, ngay từ khi có thành viên hợp danh mới tham gia công ty hợp danh thì đã phải cùng các thành viên hợp danh cũ, liên đới và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty, kể cả những món nợ mà công ty hợp danh đã có từ trước khi thành viên hợp danh mới tham gia. Ngay cả khi thành viên hợp danh rời khỏi công ty thì pháp luật của nhiều quốc gia và trong đó có cả Việt Nam vẫn quy định trách nhiệm còn tồn tại bám theo họ. Khoản 5 Điều 180 quy định thêm, trong thời hạn hai năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh thì vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên. Còn pháp luật tại Đức quy định: “Thành viên ra khỏi công ty cũng phải chịu trách nhiệm trong thời hạn năm năm tiếp theo”[4]. Vậy chỉ sau khi kết thúc thời hạn trên, trách nhiệm vô hạn và liên đới của thành viên hợp danh mới hoàn toàn chấm dứt.

Do phải gánh chịu trách nhiệm nặng nề tại công ty hợp danh nên quyền hạn của các thành viên hợp danh rất lớn. Các thành viên hợp danh đều có tư cách thương gia (thương nhân) và họ có toàn quyền quyết định các hoạt động của công ty hợp danh.

(ii) Nguyên tắc việc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên hợp danh, phải được sự đồng ý của tất cả các thành viên hợp danh khác: Sự tồn tại của công ty hợp danh phụ thuộc rất lớn vào các thành viên hợp danh. Nguồn tài sản đóng góp vào công ty của các thành viên hợp danh không chỉ là các tài sản vật chất như tiền bạc, mà nhiều khi còn bao gồm những tài sản phi vật chất như: Uy tín cá nhân, các mối quan hệ, trình độ chuyên môn… Những tài sản đó thường gắn bó chặt chẽ với nhân thân của các thành viên hợp danh. Vì vậy, khi có sự dịch chuyển về thành viên hợp danh sẽ dễ dẫn đến việc công ty hợp danh không thể tiếp tục tồn tại. Do vai trò quá quan trọng đối với công ty, nên dù tài sản góp chỉ là tiền bạc thì việc chuyển nhượng cho một thành viên hợp danh khác hoặc cho người ngoài công ty cũng rất khó khăn. Bởi “nhân thân” của các thành viên hợp danh là yếu tố tạo nên sự tin tưởng, hợp tác giữa họ. Trước đây, GS. Vũ Văn Mẫu từng viết: “Ở trong hội hợp danh hay hội hợp tư, cá nhân của các hội viên được chú trọng đặc biệt, các cổ phần thường không thể được chuyển nhượng cho người ngoài”[5].

Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2014 ngăn cấm các thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của họ cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại[6]. Như vậy, với tư cách là thành viên hợp danh thì các thành viên này không thể tùy tiện chuyển nhượng phần vốn góp của họ cho bất kỳ người khác nếu không được sự đồng ý của tất cả thành viên hợp danh còn lại. Từ đó cho thấy, thành viên hợp danh thường có nhiều quyền hạn nhưng quyền tự định đoạt phần vốn góp của họ thì luôn bị pháp luật hạn chế.

1.2.2. Các nguyên tắc áp dụng cho thành viên góp vốn của công ty hợp danh

(i) Nguyên tắc các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đóng góp của họ tại công ty hợp danh: Thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về tài sản giống như cổ đông của công ty cổ phần hay thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn. Bản chất của chế độ trách nhiệm hữu hạn là: “Nghĩa vụ của cổ đông hay thành viên phải trả các khoản nợ của công ty được giới hạn trong số vốn đã cam kết góp vào công ty”[7].

Thành viên góp vốn được hưởng cơ chế chịu trách nhiệm hữu hạn trong công ty hợp danh là trái ngược với bản chất chung của mọi loại hình công ty đối nhân bởi lẽ, khi tham gia vào một công ty thuộc loại hình công ty đối nhân thì mọi thành viên đều phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty. Là công ty đối nhân nhưng chỉ các thành viên hợp danh mới bị áp dụng nguyên tắc chịu “trách nhiệm vô hạn”, còn thành viên góp vốn thì chỉ chịu “trách nhiệm hữu hạn” trong phạm vi số vốn góp tại công ty hợp danh.

Trước đây, nghĩa vụ về tài chính của thành viên góp vốn được quy định: “Dù góp phần bằng tiền bạc hay bằng hiện vật, dù góp cả một lúc hay góp dần, hội viên xuất tư (thành viên góp vốn) cũng chỉ phải chịu trách nhiệm tới mức phần hùn mà mình đã cam kết góp cho hội… Một khi đã góp đủ phần hùn là người xuất tư (góp vốn) hết trách nhiệm”[8].

Hiện nay, thành viên góp vốn cũng chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty hợp danh trong phạm vi số vốn góp[9]. Đây là nguyên tắc chung của pháp luật ở nhiều nước và pháp luật Việt Nam.

(ii) Nguyên tắc thành viên góp vốn không được tham gia quản lý, điều hành cũng như đại diện cho công ty hợp danh giao dịch với bên ngoài: Do trách nhiệm của thành viên góp vốn luôn giới hạn trong phạm vi số vốn góp nên họ thường không được tham gia quản lý điều hành các công việc của công ty hợp danh. Mặt khác, đối tượng trở thành thành viên góp vốn khá dễ dàng vì có thể là các cá nhân, tổ chức. Vì vậy, trên nguyên tắc, khi thành viên góp vốn chuyển nhượng phần vốn thì trách nhiệm của họ với công ty hợp danh cũng sẽ chấm dứt.

Lý giải việc thành viên góp vốn không được tham gia quản lý điều hành còn bởi: “Nếu thành viên góp vốn được thực hiện các hành vi quản lý, thì người thứ ba có thể lầm tưởng rằng, họ chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn về nợ của công ty”[10]. Ngoài ra, nó còn để đảm bảo sự công bằng cho các thành viên hợp danh, những người luôn phải chịu trách nhiệm đến cùng với sự tồn tại của công ty hợp danh.

Tuy nhiên, trong việc quản lý các công việc nội bộ của công ty hợp danh thì thành viên góp vốn cũng có quyền tham gia thảo luận và biểu quyết về một số vấn đề như: Bổ sung, sửa đổi điều lệ về các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn… (khoản 1 Điều 182 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Nhìn chung, quyền hạn của các thành viên góp vốn rất hạn chế và họ chỉ có một số quyền liên quan đến việc đảm bảo quyền lợi của họ tại công ty.

Còn về các hoạt động đối ngoại, thành viên góp vốn không có tư cách thương nhân nên họ không có quyền đại diện cho công ty hợp danh giao dịch với bên ngoài. Nếu thành viên góp vốn tự nhân danh công ty hợp danh giao dịch với bên ngoài thì chế độ trách nhiệm hữu hạn về tài sản sẽ mất và thành viên góp vốn đó cũng sẽ phải liên đới và chịu trách nhiệm vô hạn về tài chính cùng các thành viên hợp danh khác.

Theo pháp luật của Đức: “Về đối ngoại, chỉ thành viên nhận vốn mới có quyền đại diện. Nếu thành viên góp vốn đứng ra thay mặt công ty thì sẽ mất quyền chịu trách nhiệm hữu hạn”[11]. Còn ở Hoa Kỳ: “Thành viên góp vốn chỉ được thực hiện những quyền liên quan đến quyền hạn của thành viên góp vốn, ngoài ra không có quyền quản lý công ty”[12].

Như vậy, với tư cách là thành viên góp vốn, những thành viên này chỉ có một số quyền hạn nhất định trong phạm vi quản lý nội bộ mà có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của họ và thành viên góp vốn hoàn toàn không có quyền đại diện cho công ty hợp danh giao dịch với bên ngoài.

2. Kiến nghị

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định công ty hợp danh có sự tồn tại của hai loại hình thành viên: Thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Tuy nhiên, khác với Luật Doanh nghiệp của Việt Nam, pháp luật hầu hết các quốc gia đều quy định trong một công ty hợp danh thì chỉ tồn tại duy nhất một loại hình thành viên là thành viên hợp danh. Công ty hợp danh mà có sự xuất hiện của các thành viên góp vốn thì đã được công nhận là loại hình công ty hợp danh hữu hạn. Cũng từ quy định này của Luật Doanh nghiệp năm 2014, nên các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của công ty hợp danh trở nên phức tạp khi phải phân định thêm ranh giới giữa thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Bởi vậy, nhà làm luật của Việt Nam nên tách bạch rõ ràng hình thức pháp lý của công ty hợp danh với công ty hợp danh hữu hạn. Điều này còn phù hợp với xu thế của pháp luật tại nhiều quốc gia trên thế giới.

TS. Nguyễn Vinh Hưng

Tài liệu tham khảo:

[1]. Từ Điều 95 đến Điều 98 của Luật Doanh nghiệp năm 1999.

[2]. Mai Hồng Quỳ (2012), Một số vấn đề về tự do kinh doanh và tự do hợp đồng ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2012, tr. 3.

[3]. Văn Thiệu (2002), Vì sao công ty hợp danh chưa đi vào cuộc sống, Tạp chí Pháp lý số 4/2002, tr. 6.

[4]. Friedrich Fubler, Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, Nxb. Pháp lý, tr. 35.

[5]. Vũ Văn Mẫu (1961), Dân luật khái luận, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, tr. 413.

[6]. Khoản 3 Điều 175 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[7]. Phạm Duy Nghĩa (2009), Luật Doanh nghiệp: Tình huống - phân tích - bình luận, sđd, tr. 69.

[8]. Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ, Nguyễn Tân (1973), Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải, Nxb. Sài Gòn Kim lai ấn quán, Quyển II, tr. 807.

[9]. Điểm c khoản 1 Điều 172 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[10]. Nguyễn Mạnh Bách (2006), Các công ty thương mại, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, tr. 83.

[11]. Friedrich Fubler, Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, sđd, tr. 35.

[12]. Law School Resources: Agency & Partnership Outlines

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.

Theo dõi chúng tôi trên: