Thứ hai 25/05/2026 06:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cải cách chế độ công chúng tham gia xét xử vụ án hình sự góp phần đáp ứng yêu cầu bảo vệ công lý

Trong bài viết, tác giả phân tích vai trò của việc công chúng tham gia xét xử vụ án hình sự và đánh giá chế độ hội thẩm ở Việt Nam. Trên cơ sở đó sẽ đề xuất một số giải pháp cải cách chế độ công chúng tham gia xét xử nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu bảo vệ công lý ở Việt Nam hiện nay.

Hoạt động xét xử, với đặc trưng riêng có của mình, luôn gắn liền với sự tham gia của công chúng. Mức độ tham gia và cách thức tham gia của công chúng như thế nào còn phụ thuộc vào pháp luật mỗi nước. Ở nhiều nước trên thế giới theo hệ thống thông luật Anh - Mỹ, sự tham gia của công chúng được xây dựng thành chế định “bồi thẩm đoàn”. Ở Việt Nam, vấn đề này thể hiện ở chế định “hội thẩm”.

1. Vai trò của việc công chúng tham gia xét xử

Đối với hoạt động xét xử, sự tham gia của công chúng có vai trò sau đây:

Thứ nhất, góp phần bảo đảm tính đồng thuận cho phán quyết của Tòa án

Trong thủ tục tố tụng ở nhiều nước theo hệ thống pháp luật thông luật, chẳng hạn như ở Mỹ, một nguyên tắc cao nhất đối với các hoạt động tố tụng ở Mỹ đó là: “Không được tước đoạt tự do, tính mạng, tài sản của công dân mà không tuân theo những trình tự nhất định”. Trình tự đó chính là các quy định về thủ tục tố tụng và cơ bản được thực hiện bởi hệ thống Toà án. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm các quyền tự do cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Chỉ có Toà án mới có quyền tước đoạt các quyền của công dân. Những quy định rất quan trọng và điển hình thể hiện vai trò của tố tụng ở Mỹ như: Khi kết tội phải có mặt của bồi thẩm đoàn. Việc xét xử có bồi thẩm đoàn là bắt buộc đối với các vụ án hình sự.

“Ở cấp độ liên bang tất cả những người bị cáo buộc phạm tội đều được bảo đảm theo Tu chính án Hiến pháp thứ năm rằng vụ án của họ sẽ được một đại Bồi thẩm đoàn xem xét. Tuy nhiên, Tòa án tối cao từ chối làm cho quyền lợi này ràng buộc tất cả các bang. Ngày nay, chỉ khoảng một nửa số bang sử dụng đại bồi thẩm đoàn; ở một số bang trong những bang này đại bồi thẩm đoàn chỉ được dùng cho những loại vụ án đặc biệt. Những bang không sử dụng đại Bồi thẩm đoàn sẽ áp dụng một phiên tòa sơ bộ hoặc một phiên thẩm vấn. (Một số bang sử dụng cả hai thủ tục này). Bất cứ phương pháp nào được sử dụng, mục đích cơ bản của khâu này trong thủ tục tố tụng hình sự là để xác định liệu có nguyên nhân hợp lý nào để đưa bị cáo ra phiên tòa chính thức không”[1].

Bồi Thẩm đoàn bao gồm: Đại bồi thẩm đoàn thông thường gồm 23 thành viên (tham gia giải quyết các vụ án đặc biệt nghiêm trọng có hình phạt tử hình) và tiểu bồi thẩm đoàn gồm 12 thành viên (tham gia giải quyết các vụ án không có hình phạt tử hình). Bồi thẩm đoàn có quyền quyết định bị cáo có tội hay không có tội. Khi có đủ 23/23 (đại bồi thẩm đoàn) 12/12 (tiểu bồi thẩm đoàn) bồi thẩm viên nhất trí có tội thì vấn đề hình phạt sẽ được đặt ra và do thẩm phán thực hiện bước tiếp theo. Việc lựa chọn bồi thẩm đoàn hết sức ngẫu nhiên (thông qua danh sách cử tri, danh sách những người được cấp giấy phép lái xe... hoặc có sự kết hợp ngẫu nhiên trong các danh sách).

Chế độ xét xử có bồi thẩm đoàn cũng như vai trò của bồi thẩm ở Mỹ hoàn toàn khác với chế độ hội thẩm ở Việt Nam cũng như chế độ giúp đỡ thẩm phán ở Đức. Có thể hiểu, bồi thẩm đoàn ở Mỹ không phải là thành viên của Hội đồng xét xử mà nó là một cơ quan tiến hành tố tụng độc lập với thẩm phán. Bồi thẩm đoàn xem xét, cân nhắc và đưa ra quyết định đối với vụ án, trên cơ sở quyết định của bồi thẩm đoàn mà thẩm phán đưa ra phán quyết cuối cùng.

Ở Việt Nam, hội thẩm nhân dân là thành viên trong hội đồng xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm: Một thẩm phán và hai hội thẩm (2/3). Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm (3/5). Đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm[2].

Quy định trên cho thấy cả hội thẩm và thẩm phán là những thành tố hợp thành Hội đồng xét xử. Trong Hội đồng xét xử với hai hội thẩm, một thẩm phán thì thẩm phán giữ vai trò chủ tọa phiên tòa. Phiên tòa ba hội thẩm, hai thẩm phán thì một trong hai thẩm phán sẽ chủ tọa phiên tòa.

Về mặt lý thuyết, sự tham gia của công chúng vào thủ tục tố tụng, đóng vai trò quan trọng để đo lường tính đồng thuận của công chúng đối với phán quyết của Tòa án. Như vậy, xét ở khía cạnh là tính đồng thuận, số lượng công chúng càng nhiều, thì vai trò này càng thể hiện tốt hơn. Như trên đã nói, ở Mỹ, người ta sử dụng 12 bồi thẩm đoàn không phải là sự ngẫu nhiên, mà đều xuất phát từ dụng ý nhất định.

Khi bảo đảm được tính đồng thuận, sẽ phần nào tránh được oan sai trong quá trình xét xử. Điều này cũng đồng thời cho thấy nó sẽ góp phần trong việc bảo vệ công lý.

Thứ hai, sự tham gia của công chúng góp phần bảo đảm tính chính đáng cho phán quyết

Một phán quyết bảo đảm tính chính đáng nghĩa là trong hoàn cảnh cụ thể nhất định, một người bình thường vẫn có thể đủ sức hiểu được hành vi của bị cáo là có tội. Việc lập luận và chứng minh một người thực sự đã phạm tội, phải dựa trên những lập luận giản dị nhất mà một người bình thường đủ năng lực trí tuệ để hiểu nó. Có như thế, ít nhất mới cho chúng ta đủ cơ sở để suy đoán rằng, bị cáo cũng đã hiểu được điều đó nhưng vẫn thực hiện hành vi nên đáng phải trừng phạt. Hoặc chí ít, bị cáo cũng có nghĩa vụ phải hiểu những lý lẽ đó. Từ đây có thể thấy, các bên tranh tụng phải có áp lực tích cực nhất định trong việc sử dụng lý lẽ đối với công chúng để thuyết phục công chúng theo quan điểm của mình. Đặc biệt, đối với bên buộc tội, lý lẽ đưa ra phải thuyết phục theo nghĩa được công chúng hiểu và chấp nhận, chứ không phải theo nghĩa được một chuyên gia, một người am hiểu pháp luật hiểu và chấp nhận. Từ đó cho thấy, việc tham gia của công chúng vào hoạt động xét xử nói chung, trong đó hoạt động xét xử hình sự nói riêng, sẽ đóng vai trò gia tăng tính chính đáng của phán quyết của Tòa án.

Thứ ba, việc tham gia xét xử của công chúng trong xét xử đặt ra trách nhiệm cao hơn, nghiêm túc hơn trong tranh luận và chứng minh, bảo đảm tính khách quan

Tranh luận, về mặt bản chất là nhằm làm rõ các tình tiết để bảo vệ công lý, lẽ phải. Nhưng quan trọng hơn, tranh luận nó là phương tiện để bảo đảm tính ngẫu nhiên của kết quả tranh luận, làm cho phán xét thể hiện tính khách quan tối đa. Tranh luận có thể không phải là phương tiện để đạt được sự thật nhưng tranh luận chắc chắn loại bỏ những yếu tố chủ quan, suy diễn, thù địch, mâu thuẫn… lẫn nhau dẫn đến ra phán quyết thiên vị. Công lý không phải là đi tìm bằng được sự thật trong mọi bản án mà một trong những yêu cầu của công lý là đặt nặng thủ tục trừng phạt. Việc xem xét một người có tội hay không phải theo thủ tục tố tụng, chứ không phải dựa trên sự phỏng đoán. Khi cơ quan buộc tội không chứng minh được thuyết phục, công lý thể hiện ở chỗ, người đó đáng được vô tội. Công lý vẫn có nếu họ thực hiện một hành vi mà trình độ của họ vượt lên cả khả năng chứng minh của cơ quan buộc tội.

2. Một số hạn chế của cơ chế công chúng tham gia xét xử hình sự ở Việt Nam và kiến nghị

2.1. Cơ chế hình thành hội thẩm

Hội thẩm ở Việt Nam là những công dân hội đủ điều kiện sau[3]: (i) Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực; (ii) Có kiến thức pháp luật; (iii) Có hiểu biết xã hội; (iv) Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

“ Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương đề xuất nhu cầu về số lượng, cơ cấu thành phần Hội thẩm đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp lựa chọn và giới thiệu người đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 85 của Luật này để Hội đồng nhân dân có thẩm quyền theo luật định bầu Hội thẩm nhân dân;”[4].

Theo tác giả, cơ chế hình thành hội thẩm theo quy trình trên là chưa khoa học, phù hợp. Bởi lẽ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không phải là cơ quan nhà nước, cho nên không thể có động lực làm việc này một cách tốt nhất. Đơn giản là chúng ta không thể truy cứu trách nhiệm pháp lý nếu cơ quan này vi phạm các nguyên tắc trong tuyển chọn hội thẩm nhân dân. Hơn thế nữa, hội thẩm nhân dân chúng ta tuyển chọn và chỉ định có tính nội bộ trong đơn vị hành chính cấp tỉnh (nghĩa là địa phương nào có nguồn hội thẩm của địa phương đó), cho nên tính cục bộ là rất cao.

“Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo phân công của Chánh án Tòa án nơi được bầu làm Hội thẩm nhân dân.”[5]

Thậm chí, suốt cả năm, chỉ một số hội thẩm được mời xét xử vì có mối quan hệ thân thiết với Tòa án. Điều này làm ảnh hưởng đến tính khách quan của hội thẩm khi họ đưa ra những quyết định của mình. Bên cạnh đó, hội thẩm nếu hình thành nội bộ như thế sẽ rất dễ thiên vị do những tình cảm cá nhân, do yếu tố quan hệ xã hội. Thậm chí, họ rất dễ hình thành những mối quan hệ nặng về tình cảm với cơ quan tố tụng, làm ảnh hưởng đến sự khách quan của phán quyết.

Cũng vì lý do này, nếu một bị cáo muốn hối lộ hội thẩm, đương nhiên việc tìm hiểu và xác định hội thẩm nào tham gia xét xử là chuyện rất đơn giản.

Do vậy, theo tác giả, chúng ta cần cải cách theo hướng sử dụng hội thẩm chung của toàn quốc. Định kỳ một hoặc hai năm, sẽ có một đợt tuyển chọn hội thẩm toàn quốc. Người được chọn và ghi tên vào danh sách hội thẩm toàn quốc sẽ có quyền và đồng thời có trách nhiệm tham gia bất cứ một phiên tòa nào, ở bất cứ địa phương nào theo kết quả xác định nào đó (có thể lựa chọn ngẫu nhiên qua máy tính). Khi lựa chọn hội thẩm tham gia một phiên tòa nhất định cần căn cứ vào nhiều yếu tố trong đó cần xem xét đến khoảng cách địa lý, nơi hội thẩm được lựa chọn đang cư trú và nơi diễn ra phiên tòa mà hội thẩm tham gia với tư cách là thành viên của Hội đồng xét xử để giảm thiểu chi phí, thời gian di chuyển... Ngoài ra, việc xem xét đến lĩnh vực công tác mà hội thẩm đang đảm nhiệm hoặc trước đây có đảm nhiệm có liên quan đến bị cáo trong vụ án cũng là một điều rất cần thiết. Có như vậy thì khi tới tham gia Hội đồng xét xử ở một địa phương khác, hội thẩm sẽ khách quan hơn, ít bị chi phối bởi những yếu tố tình cảm, cục bộ địa phương.

Chúng ta cũng cần thành lập một hội đồng, hoặc ủy ban lựa chọn hội thẩm toàn quốc do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đứng đầu hội đồng. Hội đồng này, theo quy định của luật, phải thực hiện nhiệm vụ tuyển chọn hội thẩm toàn quốc. Cũng theo đó, cần quy định Hội đồng tuyển chọn hội thẩm toàn quốc được quyền cử 05 hội thẩm thích hợp nhất đối với từng vụ án cụ thể. Năm hội thẩm này có trách nhiệm tiếp nhận và nghiên cứu hồ sơ vụ án, có mặt tại địa điểm xét xử đúng thời hạn. Việc lựa chọn 02 hội thẩm này trong số 05 hội thẩm (Hội đồng xét xử 03 người), 03 hội thẩm trong số 05 hội thẩm (Hội đồng xét xử 05 người) phải theo nguyên tắc bốc thăm. Cũng theo đó, việc cử hội thẩm cần bảo đảm tính bảo mật thông tin.

2.2. Về quyền của hội thẩm

Chúng ta nên duy trì một số quyền của hội thẩm theo đúng bản chất của hội thẩm. Hiện nay, quyền xét hỏi của hội thẩm không khác gì so với quyền xét hỏi của thẩm phán và cơ quan buộc tội.

Về mặt bản chất, hội thẩm chỉ nên hỏi để nhận thức đúng hơn, sát hơn những vấn đề đã diễn ra ở phiên tòa. Hội thẩm nếu hỏi những câu chưa xuất hiện ở phiên tòa rất dễ trở thành bên buộc tội. Thực chất hội thẩm là cơ chế sàng lọc thụ động. Bên buộc tội mới có chức năng chứng minh chủ động việc người nào đó có tội hay không? Do đó, theo chúng tôi, giới hạn quyền hỏi của hội thẩm góp phần thể hiện đúng bản chất của hội thầm là trọng tài, mà không thể là bên buộc tội được.

Một trong các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cũng như nguyên tắc trong tố tụng đó là “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”[6].

Trường hợp Hội đồng xét xử gồm 03 người (02 hội thẩm, 01 thẩm phán), Hội đồng xét xử 05 người (03 hội thẩm, 02 thẩm phán), thì số lượng hội thẩm trong các phiên tòa sơ thẩm nhiều hơn so với thẩm phán. Một trong các tiêu chuẩn của hội thẩm đó là “có kiến thức pháp luật”[7]. Vậy một người có kiến thức pháp luật được hiểu như thế nào? Thước đo nào dể đánh giá kiến thức pháp luật của họ? Trong quá trình hình thành hội thẩm, việc lựa chọn ứng cử viên để Hội đồng nhân dân bầu sẽ trên cơ sở nào? Thiết nghĩ, các tiêu chuẩn nên được quy định rõ ràng hơn để dễ dàng trong quá trình lựa chọn hội thẩm theo đúng quy định của pháp luật

Có thể nhận thấy, nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu của Tòa án hiện nay đó chính là bảo vệ công lý. Sự tham gia của công chúng vào hoạt động xét xử của Tòa án đảm bảo tính chính đáng, tính đồng thuận, tính khách quan cho phán quyết; góp phần bảo vệ sự thật, bảo vệ công lý. Tuy nhiên, thực tế việc tham gia của công chúng trong hoạt động xét xử còn có nhiều điểm hạn chế. Việc cải cách chế độ hội thẩm trong việc hình thành hội thẩm, xác định vai trò của hội thẩm khi tham gia Hội đồng xét xử, quy định cụ thể tiêu chuẩn của hội thẩm, xác định rõ quyền của hội thẩm là điều hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay./.

ThS. Nguyễn Thị Phi Yến


[1] Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 2004.

[2] Điều 254 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3] Điều 85 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

[4] Điều 86 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

[5] Khoản 2 Điều 84 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

[6] Khoản 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

[7] Khoản 2 Điều 85 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: