Thứ bảy 08/08/2026 22:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cần phải rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí và thực hiện xã hội hóa một số hoạt động thi hành án dân sự

Đó là mục tiêu của Dự thảo Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) đang được Bộ Tư pháp xây dựng. Dự thảo giữ nguyên kết cấu của Luật hiện hành với 09 chương, 231 điều, trong đó, có 50 điều xây dựng mới, 93 điều được sửa đổi, bổ sung (chiếm 52% tổng số điều luật hiện hành) với nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung, nhằm rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí thi hành án dân sự.

Sửa đổi Luật Thi hành án dân sự bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được Quốc hội ban hành, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng, từng bước tạo hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự (THADS), với kết quả năm sau cao hơn năm trước, ngày càng bền vững. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trước yêu cầu phát triển của đất nước, yêu cầu của Đảng, Nhà nước và xã hội, đặt ra những vấn đề mới phải giải quyết, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã bộc lộ những bất cập, cần tiếp tục được hoàn thiện để phù hợp, đáp ứng tốt hơn yêu cầu trong giai đoạn mới, cụ thể[1]:

Thứ nhất, một số văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành đã bổ sung trách nhiệm, phạm vi hoạt động THADS, do đó, cần sửa đổi, bổ sung trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008 để tạo đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật. Đồng thời, cần quy định rõ hơn một số nguyên tắc tuân thủ trong hoạt động THADS để thể chế hóa các nguyên tắc theo Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Thứ hai, một số quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục được hoàn thiện: (i) cần có cơ chế, chính sách phù hợp để phát huy nguồn lực xã hội, thúc đẩy hoạt động THADS, thực hiện hiệu quả chủ trương xã hội hóa một số hoạt động THADS theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, nhất là cơ sở để người được THADS có quyền và nghĩa vụ chủ động xác minh, chứng minh điều kiện thi hành án, đề nghị áp dụng các biện pháp bảo đảm THADS; (ii) cơ chế người phải thi hành án có nghĩa vụ kê khai trung thực tài sản, thu nhập chưa được quy định đầy đủ; chưa có cơ chế hiệu quả để xác định, xử lý nghiêm hành vi vi phạm hành chính, hình sự với trường hợp cố tình trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, che giấu, cản trở, chống đối người thi hành công vụ trong THADS. Cùng với đó, cơ chế miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, hoặc đình chỉ thi hành còn bất cập.

Thứ ba, tổ chức, hoạt động của hệ thống cơ quan THADS; một số quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, người có thẩm quyền trong THADS, vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan khác trong THADS cần tiếp tục được hoàn thiện.

Thứ tư, về trình tự, thủ tục THADS:

- Trình tự, thủ tục THADS cần phải hoàn thiện để bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý thực hiện chủ trương về rút ngắn thời gian, giảm chi phí thi hành án dân sự và thực hiện xã hội hóa một số hoạt động THADS; quy định cụ thể quy trình, thủ tục thi hành đối với một số loại việc cụ thể.

- Quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong THADS cần rà soát, quy định phù hợp với tính chất hoạt động THADS, đồng bộ với các quy định pháp luật khác liên quan.

- Một số quy định còn chưa phù hợp với thực tiễn, chưa đồng bộ với pháp luật khác gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành án.

Thứ năm, chưa có cơ chế phù hợp để bảo vệ Chấp hành viên, người làm công tác THADS; bảo đảm nguồn lực cho hệ thống THADS trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác THADS.

Chính vì vậy, việc xây dựng Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) là cần thiết, nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về đổi mới tổ chức và hoạt động THADS; khắc phục những hạn chế, bất cập về thể chế, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền được thực hiện hiệu quả; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước; góp phần giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật; tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội.

05 chính sách lớn trong sửa đổi Luật Thi hành án dân sự[2]

Dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) đã được Chính phủ thông qua 05 chính sách lớn, bao gồm:

- Chính sách 1: quy định đầy đủ phạm vi bản án, quyết định do cơ quan THADS tổ chức thi hành, hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản trong THADS;

- Chính sách 2: hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự, người tham gia THADS khác;

- Chính sách 3: hoàn thiện tổ chức, hoạt động của hệ thống cơ quan THADS; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, người có thẩm quyền trong THADS; vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan khác trong THADS;

- Chính sách 4: hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí, nâng cao hiệu quả THADS;

- Chính sách 5: tăng cường các điều kiện bảo đảm, đáp ứng yêu cầu quản lý và hoạt động THADS.

Sửa đổi nhiều quy định với mục tiêu rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí thi hành án dân sự

Dự thảo Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) có nhiều sửa đổi, bổ sung theo hướng rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí THADS[3], đây là một nội dung trong thực hiện Chính sách 4 nêu trên. Trong đó, một số sửa đổi, bổ sung quan trọng cụ thể như sau:

Một là, bổ sung quy định không áp dụng thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án có yêu cầu và tự nguyện thi hành toàn bộ nghĩa vụ tại thời điểm yêu cầu (Điều 41) nhằm bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định; bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án; rút ngắn được toàn bộ thời gian, quy trình tổ chức thi hành án từ khi ban hành quyết định và kết thúc ngay việc thi hành án trong trường hợp này.

Hai là, bổ sung quy định về việc đương sự phải cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu khi yêu cầu thi hành án như hình thức nhận thông báo, thông tin số tài khoản (nếu có) hoặc hình thức nhận tiền thi hành án theo quy định, nhằm tạo thuận lợi cho việc thực hiện các thủ tục thông báo, thanh toán tiền thi hành án…, giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí (Điều 42).

Ba là, bổ sung điều luật về thông báo bằng phương tiện điện tử trong các trường hợp đương sự có yêu cầu, các vụ việc có từ 20 đương sự trở lên, khi không thực hiện được bằng các phương thức khác. Việc bổ sung điều luật quy định thông báo bằng phương tiện điện tử được thực hiện qua cổng dịch vụ công quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh, VNeID… (Điều 54), sẽ tiết kiệm chi phí, nhân lực, rút ngắn thời gian, tháo gỡ khó khăn cho cơ quan THADS và vẫn bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, người liên quan.

Bốn là, sửa đổi, bổ sung quy định về việc chưa có điều kiện thi hành, cụ thể: quy định giảm thời hạn xác minh định kỳ trước khi chuyển sổ theo dõi riêng đối với các việc chưa có điều kiện thi hành; quy định giảm thời hạn xác minh định kỳ trước khi chuyển sổ theo dõi riêng đối với các việc chưa có điều điều kiện từ 06 tháng xuống 02 tháng một lần, trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì giảm từ 01 năm xuống 06 tháng một lần.

Năm là, bổ sung quy định về các khoản phải trừ trước khi thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án gồm: các khoản phí, lệ phí, thuế và chi phí phát sinh từ việc bán tài sản và bổ sung điều luật mới về chi phí tổ chức thi hành án nhằm quy định rõ, minh bạch, phân biệt chi phí tổ chức thi hành án với chi phí cưỡng chế tại Điều 73 Luật Thi hành án dân sự hiện hành.

Sáu là, sửa đổi quy định về thủ tục áp dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự; tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản theo hướng giảm thời hạn trả lại tài sản, giấy tờ; chấm dứt việc tạm dừng từ 10 ngày xuống 05 ngày kể từ ngày có căn cứ.

Bảy là, sửa đổi quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự hiện hành theo hướng bỏ thủ tục Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định, phân chia tài sản chung của người phải thi hành án; trường hợp đương sự, chủ sở hữu chung không thực hiện việc thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết thì cơ quan THADS ra quyết định hoãn thi hành án. Quy định trên nhằm thực hiện đúng nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, nguyên tắc trong THADS là các đương sự tự thỏa thuận, tự định đoạt và phải có trách nhiệm bảo vệ quyền của mình. Trên thực tế, Chấp hành viên cũng gặp nhiều khó khăn khi thực hiện thủ tục yêu cầu thay cho đương sự do không có điều kiện cung cấp thông tin, chứng cứ tại Tòa án và Tòa án không thụ lý giải quyết, dẫn đến nhiều vụ việc bị kéo dài. Việc hoãn thi hành án trong trường hợp này sẽ cắt giảm chi phí, thời gian thi hành án (Điều 62).

Tám là, sửa đổi, bổ sung quy định về việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế xử lý tài sản cầm cố, thế chấp; thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ; kê biên phần vốn góp; kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói; kê biên nhà, công trình trên đất; cưỡng chế trả giấy tờ, trả đất, trả vật, khai thác tài sản; tạm giao quyền sử dụng đất; xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, xử lý tài sản trên đất đã kê biên… theo hướng quy định rõ thủ tục, giảm thời gian tổ chức thi hành, tăng trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân, tháo gỡ vướng mắc từ thực tiễn.

Chín là, sửa đổi các quy định về cưỡng chế buộc thực hiện, không được thực hiện hành vi, công việc nhất định theo hướng trong trường hợp công việc, hành vi đó phải do chính người phải thi hành án thực hiện thì cơ quan THADS ra quyết định hoãn thi hành án, đồng thời đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án đối với người phải thi hành án. Quy định trên sẽ giúp cơ quan THADS giải quyết dứt điểm rất nhiều vụ việc do người phải thi hành án cố tình chống đối, không thi hành được mà không có biện pháp phân loại, xử lý hồ sơ, dẫn đến hồ sơ tồn đọng, kéo dài hiện nay.

Mười là, sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục thi hành hình phạt tiền, các biện pháp tư pháp; các khoản chủ động, thu cho ngân sách nhà nước trong các bản án, quyết định hình sự theo hướng quy định rõ về trình tự, thủ tục, giảm thời gian, chi phí; cắt giảm một số thủ tục thi hành án, cụ thể như: trường hợp cơ quan THADS đã thu được tiền thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi ra quyết định thi hành án phải chủ động tiến hành nộp tiền vào ngân sách (giảm 07 ngày so với quy định hiện hành); giảm thời gian thủ tục trả lại tiền, tài sản cho đương sự (giảm 60 ngày so với quy định hiện hành đối với thủ tục thông báo nhưng đương sự không đến nhận); cắt giảm các thủ tục thỏa thuận về giá, tổ chức thẩm định giá, thỏa thuận phân chia tài sản chung… từ đó cắt giảm được toàn bộ thời gian dành cho những thủ tục này, tránh thất thu cho ngân sách nhà nước; đối với những vật chứng, tài sản đặc thù thì cơ quan THADS ký hợp đồng với cơ quan chuyên môn để thực hiện tiêu hủy và kết thúc việc thi hành án…

Mười một là, thủ tục thi hành các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được sửa đổi theo hướng phân loại từng dạng quyết định khẩn cấp tạm thời như: về hành vi, về tài sản, về kê biên; trên cơ sở đó quy định thủ tục thi hành bảo đảm nhanh về thời gian, gọn về thủ tục, đúng bản chất thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 168).

Trên cơ sở đề nghị của Chính phủ, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 129/2024/QH15 ngày 08/6/2024 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025. Theo đó, Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9 (tháng 5/2025) và thông qua tại kỳ họp thứ 10 (tháng 10/2025).

Uyên Nhi

Ảnh: Internet


[1] Nguồn: https://chinhphu.vn/du-thao-vbqppl/du-thao-luat-thi-hanh-an-dan-su-sua-doi-7036, truy cập ngày 25/10/2024.

[2] Nguồn: https://baochinhphu.vn/5-chinh-sach-lon-trong-sua-doi-luat-thi-hanh-an-dan-su-102240822195540561.htm, truy cập ngày 25/10/2024.

[3] Nguồn: https://chinhphu.vn/du-thao-vbqppl/du-thao-luat-thi-hanh-an-dan-su-sua-doi-7036, truy cập ngày 25/10/2024.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn lực xã hội vào thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hoàn thiện cơ chế xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là yêu cầu đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nhằm huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW[I]. Trên cơ sở phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[II] (dự thảo Luật) và tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, nghiên cứu nhận diện những bất cập trong cơ chế xã hội hóa, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Đổi mới tư duy, xây dựng quy trình lập pháp, lập quy hiện đại, chuyên nghiệp

Đổi mới tư duy, xây dựng quy trình lập pháp, lập quy hiện đại, chuyên nghiệp

Sáng ngày 07/8, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo Luật về văn bản quy phạm pháp luật. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Nguyễn Quốc Hoàn.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Trong khuôn khổ Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 05/8, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) và Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Chiều ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng làm việc với Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý về Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới". Tham dự buổi làm việc có Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú; đại diện Lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Sáng ngày 06/8, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Tham dự cuộc họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: