Thứ tư 15/04/2026 14:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chấm dứt pháp nhân theo Bộ luật Dân sự năm 2015

Pháp nhân là tổ chức được thành lập một cách hợp pháp, theo cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình. Ngoài ra, pháp nhân còn nhân danh chính mình tham gia vào các quan hệ pháp luật độc lập. Pháp nhân là chủ thể của nhiều ngành luật trong đó có luật dân sự.

Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành không có định nghĩa về pháp nhân, mà chỉ đưa ra các điều kiện để công nhận pháp nhân. Về cơ bản, Bộ luật Dân sự năm 1995, năm 2005 và năm 2015 đều không có sự khác biệt lớn về điều kiện công nhận pháp nhân. Chấm dứt pháp nhân là việc chấm dứt sự tồn tại của một tổ chức với tư cách là một chủ thể độc lập trong các quan hệ pháp luật mà trước đó tổ chức đó tham gia với tư cách pháp nhân. Bài viết đã chỉ ra được những trường hợp chấm dứt pháp nhân theo quy định Bộ luật Dân sự năm 2015 và những vấn đề cần phải làm rõ với hai trường hợp: (i) Đối với trường hợp chuyển đổi hình thức pháp nhân; (ii) Đối với trường hợp chia pháp nhân.

1. Khái quát về pháp nhân

Pháp nhân là một thực thể pháp lý được pháp luật thừa nhận về khả năng thụ hưởng các quyền năng và buộc gánh chịu những nghĩa vụ, đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử. Nhu cầu tạo ra thực thể pháp lý có tư cách chủ thể độc lập với thể nhân là một tất yếu đối với các hệ thống pháp luật. Jean Claude Ricci, Harold Arthur Jonh Ford đã làm rõ rằng: “Việc hình thành pháp nhân làm cho đời sống pháp luật được đơn giản hóa. Pháp nhân cho phép đơn giản hóa pháp luật. Chúng ta hãy đặt giả thiết là không có pháp nhân mà chỉ có các thể nhân. Khi đó, mỗi thể nhân thành viên đều sẽ phải tham gia vào việc ký kết các giao dịch pháp lý. Hậu quả sẽ rất phức tạp; việc hình thành pháp nhân làm cho đời sống pháp luật được ổn định lâu dài. Đây là một yếu tố hết sức quan trọng. Người ta thường hay nói rằng, pháp nhân không gặp phải những thay đổi bất ngờ như thể nhân. Thời gian tồn tại của một pháp nhân thường dài hơn cuộc sống của một con người. Và hoạt động của pháp nhân có thể kéo dài, thậm chí rất dài. Pháp nhân không bị ảnh hưởng bởi những biến cố xảy ra đối với thành viên của nó”[1].

Trong bất kỳ hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nào cũng có có nhu cầu tạo ra thực thể pháp lý, có thể thụ hưởng các quyền và chịu nghĩa vụ cơ bản giống như con người, thực thể đó được gọi là pháp nhân[2]. Ở Việt Nam, có lẽ pháp nhân được biết đến đầu tiên là khi người Pháp và người Tây Ban Nha được phép kinh doanh tại Việt Nam trên cơ sở Hòa ước năm Nhâm Tuất do nhà Nguyễn, Pháp và Tây Ban Nha ký ngày 09/5/1862, Bộ luật Thương mại (1807), Luật công ty TNHH (1925) của Pháp được các Tòa án Nam kỳ và Tòa án Pháp ở các thành phố thuộc địa áp dụng trực tiếp. Năm 1931, chúng ta có Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định về pháp nhân và đến năm 1975, Nghị định số 54-CP ngày 10/3/1975 của Hội đồng Chính phủ quy định tư cách pháp nhân của các bên ký kết hợp đồng kinh tế.

Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành không có định nghĩa về pháp nhân, mà chỉ đưa ra các điều kiện để công nhận pháp nhân. Về cơ bản, Bộ luật Dân sự năm 1995, năm 2005 và năm 2015 đều không có sự khác biệt lớn về điều kiện công nhận pháp nhân. Khi tham gia các hội thảo góp ý xây dựng Bộ luật Dân sự năm 2015, đã có ý kiến cho rằng: “Chưa có một tài liệu thống kê hay công trình nghiên cứu nào cho thấy, thực tiễn có việc áp dụng điều kiện công nhận pháp nhân theo Bộ luật Dân sự, các quy định về điều kiện công nhận pháp nhân theo Bộ luật Dân sự năm 1995 và năm 2005 có lẽ chưa một lần được áp dụng. Bởi vì, tổ chức nào là pháp nhân thì đã được luật chuyên ngành quy định trực tiếp, không ai căn cứ các điều kiện do Bộ luật Dân sự quy định để bác bỏ hoặc đề nghị công nhận tư cách pháp nhân”. Điều này cho thấy, quy định về điều kiện công nhận pháp nhân theo pháp luật hiện hành chỉ mang tính hiệu lực trên giấy.

Về bản chất pháp lý, pháp nhân được tạo lập nên bởi ý chí của thành viên. Pháp luật của một số nước cũng ghi nhận điều này khi quy định về công ty. Ví dụ: Ở Pháp, trừ công ty do một người thành lập, các công ty khác đều được thành lập trên cơ sở ý chí của thành viên, “công ty do hai hay nhiều người thành lập trên cơ sở thỏa thuận bằng hợp đồng về việc đóng góp, sử dụng tài sản hoặc công sức của họ vào hoạt động kinh doanh chung nhằm chia lãi hoặc thu lợi”[3]; Điều 2247 Bộ luật Dân sự của Italia cũng quy định: Thông qua hợp đồng công ty, hai hay nhiều người góp tài sản hay dịch vụ nhằm thực hiện chung một hoạt động kinh tế với mục đích chia sẻ lợi nhuận kiếm được từ hoạt động đó.

Với bản chất pháp lý như trên, pháp nhân phải được chấm dứt bởi ý chí của thành viên hoặc các thành viên. Đây là quyền tự do kinh doanh, một quyền cơ bản được ghi nhận ở hầu hết các quốc gia. Tuy nhiên, tự do ý chí trong xã hội được quản lý bằng pháp luật thì phải trong khuôn khổ những chuẩn mực đã được thừa nhận và áp dụng trên thực tế. Hơn nữa, những người tạo lập pháp nhân cũng có nhu cầu bảo hộ bởi pháp luật, nên việc pháp luật can thiệp để buộc pháp nhân phải chấm dứt khi có những căn cứ pháp luật nhất định là một tất yếu khách quan. Vậy, Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2105 đã quy định về chấm dứt pháp nhân như thế nào?

2. Chấm dứt pháp nhân

Theo Báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia dự thảo Bộ luật Dân sự của Văn phòng Quốc hội: “Có ý kiến cho rằng, thời điểm chấm dứt tư cách pháp nhân phải là thời điểm sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký chấm dứt pháp nhân và có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận”[4]. Quan điểm này phần nào được tiếp thu khi Điều 96 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về chấm dứt tồn tại pháp nhân: “(1) Pháp nhân chấm dứt tồn tại trong trường hợp sau đây: (a) Hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển đổi hình thức, giải thể pháp nhân theo quy định tại các Điều 88, 89, 90, 92 và 93 của Bộ luật Dân sự; (b) Bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản; (2) Pháp nhân chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm xóa tên trong sổ đăng ký pháp nhân hoặc từ thời điểm được xác định trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (3) Khi pháp nhân chấm dứt tồn tại, tài sản của pháp nhân được giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự, quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Quy định này được đưa ra với cách thức liệt kê các trường hợp, không phản ánh chính xác bản chất pháp lý của chấm dứt pháp nhân. Cụ thể, nhà làm luật liệt kê 6 trường hợp chấm dứt pháp nhân, bao gồm: Hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển đổi hình thức, giải thể và bị tuyên bố phá sản. Tuy nhiên, pháp nhân là thực thể pháp lý, có đời sống pháp luật ổn định và lâu dài, không bị ảnh hưởng bởi những biến cố xảy ra đối với thành viên của nó. Hơn nữa, tư cách pháp nhân được thể hiện bởi kết cấu pháp lý, do vậy, khi thay đổi vỏ bọc vật chất hay chia tách vỏ bọc đó nó cũng không bị ảnh hưởng. Những đặc điểm này cho thấy, các trường hợp chấm dứt pháp nhân được liệt kê nêu trên có nhiều vấn đề phải làm rõ:

Thứ nhất, đối với trường hợp chuyển đổi hình thức pháp nhân

Chuyển đổi hình thức pháp nhân, về bản chất không phải là thành lập lại pháp nhân trên cơ sở pháp nhân được chuyển đổi. Tức là trước và sau khi chuyển đổi nó vẫn là pháp nhân đó. Pháp nhân chuyển đổi với hình thức kết cấu mới, nhưng sản nghiệp không thay đổi. Hơn nữa, pháp nhân chuyển đổi không bị ảnh hưởng đến quyền yêu cầu cũng như nghĩa vụ; người thứ ba cũng không bị chấm dứt hay thay đổi quyền yêu cầu đối với pháp nhân chuyển đổi. Maurice Cozian và Alain Viandier ví von pháp nhân như cái vỏ ốc và hình thức pháp nhân là con dã tràng sống, trong đó “việc cải hóa thông thường là không cần thiết phải lập ra một pháp nhân mới, cũng như không hề gây ra việc giải thể, thanh toán về phân chia tài sản; xí nghiệp tiếp tục hoạt động trong một bộ khung mới: như hình ảnh một giống dã tràng sống trong vỏ ốc, chui từ vỏ ốc này sang vỏ ốc khác trong quá trình sinh trưởng của mình”[5]. TS. Hoàng Anh Tuấn cho rằng: “Chuyển đổi hình thức công ty là chuyển đổi hình thức kết cấu của thương nhân pháp nhân trên cơ sở lựa chọn hoặc theo quy định của pháp luật, không làm chấm dứt hay thay đổi nghĩa vụ trả nợ của thương nhân đó”6. Ở góc nhìn cụ thể, PGS.TS. Ngô Huy Cương nhấn mạnh: “Vấn đề giống như một người đàn ông chuyển đổi giới tính thành đàn bà, sản nghiệp của người đó không thay đổi. Thay vì gọi người đó là ông, thì nay, người ta gọi người đó là bà...”7. Từ phân tích trên cho thấy việc thay đổi hình thức pháp nhân không chấm dứt pháp nhân.

Thứ hai, đối với trường hợp chia pháp nhân

Khác với chuyển đổi hình thức pháp nhân, về bản chất, việc chia pháp nhân là tạo lập ra nhiều pháp nhân từ pháp nhân bị chia. Điều 192 Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng đề cập đến việc chia doanh nghiệp theo bản chất này: “Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể chia các cổ đông, thành viên và tài sản công ty để thành lập hai hoặc nhiều công ty mới”. Mặc dù tạo ra nhiều pháp nhân mới từ pháp nhân bị chia, tuy nhiên, về bản chất, hậu quả pháp lý của việc chia pháp nhân không hoàn toàn làm chấm dứt pháp nhân bị chia. Bởi lẽ: (i) Việc chia pháp nhân không làm thay đổi và ảnh hưởng đến quyền yêu cầu của người thứ ba; (ii) Tổng sản nghiệp không có sự thay đổi; (iii) Các pháp nhân hình thành do chia pháp nhân chỉ thực sự chấm dứt liên đới khi hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ của pháp nhân bị chia. Như vậy, quy định chấm dứt đối với trường hợp chia pháp nhân là không phù hợp.

Tóm lại, với cách liệt kê các trường hợp như quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã không làm rõ được khái niệm chấm dứt pháp nhân dựa trên các căn cứ pháp lý để làm chấm dứt thực thể pháp lý này một cách thuyết phục.

ThS. Nguyễn Văn Hành

Tài liệu tham khảo:

[1]. Jean-Claude Ricci, 2001, Introduction à l tude du droit, Hachette, 2001 - 2002 (Bản dịch tiếng Việt, Nhà pháp luật Việt Pháp, 2002. tr.105, 106.

[2]. Harold Arthur Jonh Ford, Principles of Company Law, Butterworths, 1990, p 2.

[3]. Bộ luật Dân sự Pháp, Điều 1832.

[4]. Văn phòng Quốc hội, Báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia dự thảo Bộ luật Dân sự .

[5]. Maurice cozian, Alain Viandier, Tổ chức công ty, tập 1, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, tháng 12/1989. tr 185.

[6]. Hoàng Anh Tuấn, Chuyển đổi hình thức công ty theo pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ 2012.

[7]. PGS,TS. Ngô Huy Cương, Chế định pháp nhân trong dự thảo BLDS sửa đổi, 2015, tr. 16.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: