Thứ sáu 11/09/2026 18:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chấp hành viên với công tác xác minh điều kiện thi hành án

Công tác xác minh điều kiện thi hành án của chấp hành viên là hoạt động nghiệp vụ nhằm thu thập, xác định những thông tin về địa chỉ, tài sản, nguồn thu nhập và các thông tin khác của người phải thi hành án làm cơ sở cho việc tổ chức thi hành án. Kết quả xác minh điều kiện thi hành án rất quan trọng, có tính chất quyết định đến các hoạt động tiếp theo của chấp hành viên và kết quả tổ chức việc thi hành án. Kết quả xác minh điều kiện thi hành án là cơ sở để đưa ra một trong các quyết định như: Quyết định việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành, quyết định hoãn thi hành án, quyết định đình chỉ thi hành án hoặc quyết định áp dụng biện pháp đảm bảo, biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật.


Với ý nghĩa và tầm quan trọng đó, trong công tác xác minh điều kiện thi hành án, đặc biệt là tại địa bàn miền núi, vùng cao, biên giới như ở Lào Cai, đòi hỏi chấp hành viên càng phải tuân thủ, chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chấp hành viên, về thời hạn xác minh điều kiện thi hành án; đồng thời cần làm tốt công tác phối hợp với các cơ quan hữu quan, cấp ủy, chính quyền cơ sở và am hiểu phong tục tập quán, đặc thù vùng miền, nhất là đối với người phải thi hành án là người dân tộc thiểu số. Cụ thể:

1. Quyền và nghĩa vụ của chấp hành viên trong công tác xác minh điều kiện thi hành án

Sau khi được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phân công tổ chức thi hành quyết định thi hành án, chấp hành viên phải xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện quyết định thi hành án và chịu trách nhiệm toàn bộ về quá trình tổ chức thi hành việc thi hành án đó, trong đó, xác minh điều kiện thi hành án là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Theo khoản 4 Điều 20 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự) thì chấp hành viên thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn như: Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án.

Như vậy, nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên trong công tác xác minh điều kiện thi hành án được thể hiện như sau:

Thứ nhất, chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành hoặc phải xác minh ngay trong trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự). Nếu chấp hành viên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thời hạn theo quy định trên thì có nghĩa là chấp hành viên chưa hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Thứ hai, chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và của các cơ quan, tổ chức khác theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Việc thực hiện nhiệm vụ của chấp hành viên được Nhà nước bảo đảm bằng cách trao cho chấp hành viên những quyền hạn và cung cấp trang thiết bị, phương tiện và các nguồn lực khác để hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có việc xác minh điều kiện thi hành án.

Thứ ba, về cách thức tiến hành xác minh điều kiện thi hành án, chấp hành viên có thể tiến hành xác minh điều kiện thi hành án bằng cách làm việc trực tiếp hoặc thông qua văn bản. Chấp hành viên có thể làm việc trực tiếp với người phải thi hành án, người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm giữ thông tin liên quan đến điều kiện thi hành án của người phải thi hành án tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự hoặc trụ sở cơ quan, tổ chức có liên quan hoặc tại nơi cư trú, nơi có tài sản của đương sự. Chấp hành viên có thể gửi văn bản đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu, các thông tin bằng văn bản về các nội dung có liên quan đến điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Thứ tư, để bảo đảm quyền hạn của chấp hành viên trong công tác xác minh điều kiện thi hành án, pháp luật đã quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cung cấp tài liệu, thông tin của người phải thi hành án, đó là cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và cá nhân có liên quan đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, thực hiện yêu cầu của chấp hành viên và chịu trách nhiệm về các thông tin đã cung cấp.

2. Thời hạn xác minh điều kiện thi hành án

Xác minh điều kiện thi hành án là hoạt động thường xuyên trong toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án do chấp hành viên thực hiện. Vì thế, tùy thuộc vào việc xác minh được thực hiện để phục vụ cho mục đích gì trong quá trình tổ chức thi hành án mà pháp luật có quy định về thời hạn tiến hành xác minh khác nhau. Theo quy định của pháp luật, có thể chia thời hạn xác minh điều kiện thi hành án thành 04 trường hợp mà chấp hành viên phải lưu ý thực hiện, đó là:

Thứ nhất, trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì chấp hành viên phải tiến hành xác minh ngay khi được phân công tổ chức thi hành án (khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự) để kịp thời giải quyết các yêu cầu cấp bách, hạn chế hoặc khắc phục tối đa hậu quả có thể xảy ra. Quy định này được xuất phát từ yêu cầu cấp bách của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để kịp thời bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu nhập; bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.

Thứ hai, thời hạn xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp thông thường: (i) Chấp hành viên có trách nhiệm tiến hành xác minh điều kiện thi hành án trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành (khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự); (ii) Chấp hành viên có trách nhiệm tiến hành xác minh điều kiện thi hành án trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong trường hợp người được thi hành án tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án và cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự, mà chấp hành viên thấy cần thiết phải xác minh lại hoặc kết quả xác minh của người được thi hành án và của chấp hành viên không thống nhất hoặc bị Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị (khoản 5 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự).

Thứ ba, trường hợp việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành (khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự), pháp luật quy định 03 loại thời hạn xác minh khác nhau, đó là: (i) Chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án ít nhất 06 tháng một lần trong trường hợp xác định rõ địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án hoặc trong trường hợp người phải thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại dưới 02 năm; (ii) Chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án ít nhất 01 năm một lần trong trường hợp người phải thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án; (iii) Chấp hành viên chỉ phải tiến hành xác minh lại điều kiện thi hành án khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án trong trường hợp sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án.

Thứ tư, thời hạn xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp nhận được ủy quyền xác minh: Theo quy định tại khoản 3 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự, khoản 2 Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, khoản 6 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 20/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở trong trường hợp cần làm rõ thông tin về tài sản, nơi cư trú, nơi làm việc, trụ sở của người phải thi hành án hoặc các thông tin khác liên quan đến việc thi hành án.

Trong trường hợp này, khi được thủ trưởng phân công, chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án bảo đảm thời hạn theo quy định: (i) Đối với việc xác minh tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì thời hạn là 30 ngày; trường hợp khó khăn, phức tạp thì thời hạn là không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được ủy quyền; (ii) Đối với việc xác minh các loại tài sản và thông tin khác thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày nhận được ủy quyền (thời hạn này tính cả việc xác minh và gửi kết quả xác minh cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy quyền).

3. Công tác phối hợp trong xác minh điều kiện thi hành án

Để giải quyết việc thi hành án đạt hiệu quả, ngoài việc thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ, về thời hạn xác minh, chấp hành viên cần phải thực hiện tốt công tác phối hợp trong quá trình xác minh điều kiện thi hành án.

Trong những năm qua, công tác phối hợp giữa chấp hành viên với các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong xác minh điều kiện thi hành án đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn còn gặp một số khó khăn như: Việc cung cấp thông tin, điều kiện thi hành án của một số cơ quan cho chấp hành viên còn chậm, thậm chí có trường hợp cung cấp sai thông tin; việc tham gia xác minh điều kiện thi hành án, tham gia tiêu hủy vật chứng của một số cơ quan còn chậm, thậm chí không tham gia khi được mời; việc thông báo cho cơ quan thi hành án khi tiếp nhận phạm nhân hoặc có phạm nhân đã chấp hành xong hình phạt tù hoặc phạm nhân chuyển trại của trại giam có lúc chưa kịp thời; một số cấp ủy, chính quyền cấp xã nhận thức chưa đầy đủ về trách nhiệm đối với công tác thi hành án dân sự…

Từ những khó khăn nêu trên, để thực hiện tốt công tác phối hợp trong xác minh điều kiện thi hành án, chấp hành viên cần đáp ứng một số yêu cầu sau:

Thứ nhất, chấp hành viên phải nắm vững những quy định của pháp luật, các văn bản phối hợp về quyền, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc phối hợp xác minh, cung cấp thông tin, điều kiện thi hành án. Đồng thời duy trì công tác phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan đúng tầm để thực hiện đầy đủ, thống nhất, hiệu quả các quy chế phối hợp đã ký kết.

Thứ hai, chấp hành viên phải thực hiện tốt vai trò của một tuyên truyền viên, từ đó đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng những nội dung của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản liên quan đến các cấp, các ngành và nhân dân để các cấp, các ngành và người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực thi pháp luật về thi hành án dân sự nói chung và công tác phối hợp trong xác minh điều kiện thi hành án nói riêng.

Thứ ba, chấp hành viên phải chủ động tham mưu, đề xuất với lãnh đạo cơ quan thi hành án để trao đổi đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa có sự phối hợp tốt trong công tác xác minh, cung cấp thông tin, điều kiện thi hành án. Trường hợp cần thiết, báo cáo với Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự để có sự chỉ đạo kịp thời.

4. Ảnh hưởng của phong tục tập quán, đặc thù vùng miền đến công tác xác minh điều kiện thi hành án

Mặc dù, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục xác minh điều kiện thi hành án. Song, khi áp dụng vào thực tiễn thi hành đối với người phải thi hành án là người dân tộc thiểu số thì hiệu quả chưa cao. Với đặc thù về văn hóa, phong tục, tín ngưỡng cũng như trình độ dân trí còn thấp, việc nhận thức về pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng của người dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế. Do tính cục bộ dòng tộc, địa phương và nhiều trường hợp người phải thi hành án không biết tiếng phổ thông, nên rất khó khăn cho chấp hành viên trong việc tiếp cận để tuyên truyền, vận động, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành.

Vì thế, khi xác minh điều kiện thi hành án đối với người phải thi hành án là người dân tộc thiểu số, ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật, chấp hành viên cần phải có kỹ năng, kinh nghiệm để vận dụng tổ chức thi hành sao cho phù hợp và hiệu quả. Đó chính là kinh nghiệm, giải pháp hướng về cơ sở, phối hợp chặt chẽ với cơ sở, lấy cấp ủy, chính quyền địa phương làm nòng cốt; đồng thời thực hiện tốt việc bám thôn, bản, các trưởng thôn, trưởng bản, những người có uy tín tại địa phương, thôn bản. Trên cơ sở đó, những người này sẽ là cầu nối giữa chấp hành viên với người phải thi hành án giúp đưa các nội dung, thông tin mà cơ quan thi hành án cần truyền tải đến người phải thi hành án, đồng thời qua đó tuyên truyền, vận động, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành.

Xuất phát từ những lý do trên, với mục đích xác minh điều kiện thi hành án nhằm tổ chức việc thi hành án có hiệu quả, đúng quy định đối với người phải thi hành án là người dân tộc thiểu số, chấp hành viên ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật còn phải biết vận dụng kinh nghiệm vào thực tiễn phù hợp với từng địa bàn công tác, cụ thể:

Thứ nhất, đưa ra các giải pháp để áp dụng phù hợp với thực tiễn của địa phương. Trong đó cần vận dụng kinh nghiệm thực tiễn để áp dụng đối với mỗi đối tượng phải thi hành án khác nhau.

Thứ hai, làm tốt công tác phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương; luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm phối hợp tốt với cơ sở, tăng cường công tác dân vận, tích cực nghiên cứu tìm hiểu về văn hóa, phong tục tập quán của địa phương.

Thứ ba, thường xuyên bám sát cơ sở, tạo mối quan hệ, sự gắn kết giữa cơ quan thi hành án dân sự và cơ sở thông qua cấp ủy, chính quyền địa phương, các trưởng thôn, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng ở cơ sở. Từ đó, tạo cầu nối giữa cơ quan thi hành án dân sự với người phải thi hành án, giúp cho việc tuyên truyền các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự nói chung và trách nhiệm, nghĩa vụ trong xác minh, cung cấp điều kiện thi hành án nói riêng đến với người phải thi hành án để họ hiểu và tự nguyện chấp hành.

Trong trường hợp người phải thi hành án không biết tiếng phổ thông, chấp hành viên cần vận dụng mối quan hệ, sự phối hợp để phát huy vai trò của trưởng thôn, trưởng bản và những người có uy tín ở địa phương để tiến hành xác minh đầy đủ điều kiện thi hành án, thực hiện truyền tải các nội dung về thi hành án đến với người phải thi hành án. Đây là vấn đề then chốt trong việc thành công hay thất bại khi xác minh điều kiện và tổ chức thi hành án đối với người phải thi hành án là người dân tộc thiểu số.

Kiều Cao Hạnh
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: