Thứ tư 11/03/2026 06:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội theo Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp là luật gốc,“luật cơ bản” và là nền tảng chính trị - pháp lý của quốc gia. Hiến pháp quy định bao trùm và định hướng cho toàn bộ các mối quan hệ xã hội trong đời sống quốc gia bao gồm thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và các chế độ, chính sách khác của quốc gia.

Trong đó, nhóm đối tượng ngày càng được chú trọng, được nhận thức đầy đủ, toàn diện và hoàn thiện hơn để phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực của nước ta hiện nay, đó là mối quan hệ giữa Nhà nước với người nước ngoài được biểu thị thông qua chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài được xác định theo Hiến pháp mới nhất của nước ta - Hiến pháp năm 2013.

Trong bối cảnh đất nước cần thu hút sự đầu tư phát triển của người nước ngoài, thì các quyền và nghĩa vụ trong nhóm lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội là nhóm lĩnh vực được quan tâm chú ý của người nước ngoài khi đến Việt Nam. Với tinh thần đó, bài viết này sẽ tập trung vào chế độ pháp lý mà Hiến pháp năm 2013 dành cho người nước ngoài trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội.

1. Khái niệm người nước ngoài

Từ những yếu tố lịch sử và các hoạt động hợp tác giữa các quốc gia cũng như thể nhân, pháp nhân giữa các quốc gia đã dẫn đến một hệ quả tất yếu là sự hiện diện của những người không cùng quốc tịch trên lãnh thổ mỗi quốc gia. Pháp luật các quốc gia có quy định riêng biệt dành cho dân cư của mình nhưng đều có điểm chung trong cách tiếp cận với các bộ phận dân cư là căn cứ vào tiêu chí quốc tịch. Theo đó, những người mang quốc tịch quốc gia được xác định là công dân của quốc gia và những người không mang quốc tịch của quốc gia sở tại thì Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới (như Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Hàn Quốc...) đều xác định là “người nước ngoài”[i].

Ở Việt Nam, khái niệm “người nước ngoài” được đề cập trong một số văn bản quy phạm pháp luật như Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014. Cụ thể, theo Điều 3 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, “người nước ngoài” được hiểu là “người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam”. Ngoài ra, khoản 5, Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) xác định “người nước ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam”. Trong đó, tại khoản 1 Điều 3 Luật Quốc tịch cũng giải thích “Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam” và “Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”. Từ các quy định cụ thể, có thể thấy, người nước ngoài được xác định theo pháp luật Việt Nam bao gồm: Người có một quốc tịch nước ngoài, người có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch. Theo đó, đề cập đến quyền và nghĩa vụ dành cho người nước ngoài phải được hiểu đầy đủ bao gồm dành cho những người là công dân của một hay nhiều quốc gia khác và những người không có quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào.

Ở Hiến pháp năm 2013, khi xác định quyền và nghĩa vụ của “người nước ngoài”, bên cạnh tiếp cận theo thuật ngữ “người nước ngoài” như ở các văn bản quy phạm pháp luật đã đề cập ở trên còn phải tiếp cận thông qua thuật ngữ “mọi người”. Thực chất, nội hàm của khái niệm “mọi người” trong các quy định của Hiến pháp bao trùm tất cả các nhóm chủ thể bao gồm cả công dân và người nước ngoài. Điều này được đánh giá là một trong những điểm sáng của Hiến pháp năm 2013 khi lần đầu tiên một số quyền trước đây chỉ dành cho công dân Việt Nam nay đã dành cho cả người nước ngoài bởi sự nhận thức đầy đủ, tiến bộ và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đang là thành viên về những quyền không chỉ dành cho riêng ai mà là quyền dành cho tất cả mọi người. Trên cơ sở đó, cách hiểu về “người nước ngoài” trong bài viết tương đồng với khái niệm “người nước ngoài” được đưa ra trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, cụ thể: Người nước ngoài được hiểu là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam. Tuy nhiên, để tiếp cận đầy đủ, toàn diện từ các quy định của Hiến pháp năm 2013, bài viết còn xác định chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội thông qua các quyền và nghĩa vụ dành cho mọi người.

2. Quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội theo Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp năm 2013 dành cho người nước ngoài chế độ đãi ngộ như công dân và không bị phân biệt đối xử giữa những người nước ngoài đến từ các quốc gia khác nhau trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội. Trên tinh thần Điều 16 Hiến pháp năm 2013, người nước ngoài cũng như công dân Việt Nam “đều được bình đẳng trước pháp luật” và theo Điều 81 “người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam”, các quyền và nghĩa vụ về kinh tế, văn hóa và xã hội của người nước ngoài là minh chứng cho điều đó.

2.1. Lĩnh vực kinh tế

Cùng với xu thế hội nhập thương mại quốc tế sâu rộng, những điểm mới trong lĩnh vực kinh tế tạo cơ sở cho Việt Nam thực hiện thiện chí các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đồng thời mở rộng cơ hội cho sự hợp tác, thúc đẩy phát triển kinh tế giữa các quốc gia. Sự thay đổi mấu chốt trong các quy định về quyền của người nước ngoài trong lĩnh vực kinh tế chính là việc ghi nhận “Mọi người có quyền tự do kinh doanh” theo Điều 33 Hiến pháp năm 2013[ii]. Xét về mặt kỹ thuật, Điều 33 Hiến pháp năm 2013 chỉ có sự sửa đổi nhỏ khi sử dụng thuật ngữ “mọi người” thay cho thuật ngữ “công dân” ở Điều 57 Hiến pháp năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Tuy vậy, về mặt pháp lý, điều này đánh dấu một bước ngoặt về mặt nhận thức. Nếu trước đây, chỉ công dân Việt Nam mới có quyền tự do kinh doanh, thì theo Hiến pháp năm 2013, quyền tự do kinh doanh đã được rộng mở cho tất cả mọi người, theo đó người nước ngoài bao gồm cả người có một, hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch đều được hưởng chế độ đãi ngộ như công dân Việt Nam trong vấn đề này. Sự thay đổi ở Điều 33 tạo ra những thách thức nhưng không thể phủ nhận đó cũng là cơ hội thúc đẩy các hoạt động kinh doanh và sự cạnh tranh đa chiều tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nước, từ đó dẫn đến những điểm mới khác về quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài trong lĩnh vực kinh tế như một hệ quả tất yếu là Điều 32 và Điều 47. Cụ thể:

Thứ nhất, khoản 1 và khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 mở rộng chủ thể được hưởng quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác so với Điều 58 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Theo đó, nếu trước Hiến pháp năm 2013, chỉ công dân mới có quyền kinh doanh đồng nghĩa chỉ công dân mới có quyền sở hữu thu nhập hợp pháp và các tài sản khác phát sinh từ hoạt động kinh doanh thì đến Hiến pháp năm 2013 khi mọi người đều được quyền tự do kinh doanh thì trên cơ sở quyền được hưởng thù lao thỏa đáng, mọi người đều có quyền sở hữu những tài sản đó. Điều này tất yếu dẫn đến sự sửa đổi trong khoản 2 Điều 32 bởi mọi người có quyền sở hữu “về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 57 và Điều 58”[iii], như vậy, về mặt pháp lý sẽ phát sinh quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế tài sản được Nhà nước bảo hộ không chỉ đối với riêng công dân như Hiến pháp năm 1992 mà có thể mở rộng hơn với nhóm đối tượng hưởng quyền là người nước ngoài. Với ý nghĩa đó, khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định chung về “quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”.

Thứ hai, song song với việc thụ hưởng quyền được Nhà nước trao cho thì cá nhân cũng có nghĩa vụ tương xứng, phù hợp. Khi người nước ngoài được hưởng đãi ngộ như công dân về “quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp”, “quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế” và “quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”, thì trong phạm vi được trao quyền, người nước ngoài cũng như mọi người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Theo đó, liên quan trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh phát sinh lợi nhuận hay thu nhập hợp pháp, đó là nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước. Điều này dẫn đến Điều 47 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định” để sửa đổi, bổ sung cho quy định về “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật” ở Điều 80 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) trước đây.

Như vậy, trong lĩnh vực kinh tế, các hoạt động kinh doanh, quyền sở hữu, các quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài theo Hiến pháp năm 2013 được xác định, mở rộng và bảo đảm rõ ràng. Điều này tạo điều kiện thúc đẩy cho những người là công dân nước ngoài hay người không quốc tịch có khả năng thực hiện các hoạt động kinh doanh và phát triển ở Việt Nam.

2.2. Lĩnh vực văn hóa, xã hội

Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên khẳng định quyền được sống trong môi trường trong lành và quy định nghĩa vụ bảo vệ môi trường cho mọi người bao gồm cả người nước ngoài[iv]. Điểm mới này xuất phát từ thực tiễn các quốc gia và cũng là sự quan tâm của thế giới. Việt Nam không phải ngoại lệ khi còn rất nhiều các công ty, doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có hành vi gây ô nhiễm môi trường trầm trọng mà điển hình là công ty VEDAN Việt Nam tại Đồng Nai đã xả nước thải trực tiếp xuống sông Thị Vải mà chưa qua xử lý[v].

Môi trường được hiểu là “hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”[vi]. Quyền được sống trong môi trường trong lành lần đầu tiên được Hiến pháp năm 2013 quy định dành cho mọi người bao gồm cả người nước ngoài và để bảo vệ quyền đó cũng như nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người. Hiến pháp đồng thời quy định về nghĩa vụ trong việc bảo vệ môi trường đối với không chỉ công dân mà cả người nước ngoài. Có thể thấy, các quy định của Hiến pháp liên quan đến quyền sống trong môi trường trong lành đáp ứng sự quan tâm chung của những người nước ngoài đến, sống và làm việc tại Việt Nam đặc biệt trong giai đoạn đất nước đang hội nhập và sự xuất hiện với số lượng ngày càng tăng của người nước ngoài ở Việt Nam. Những quy định của Hiến pháp năm 2013 sẽ định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật liên quan đến môi trường. Thực tế, thể chế hóa quy định của Hiến pháp, Quốc hội cũng đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) với quy định chặt chẽ về vấn đề bảo vệ môi trường, tạo ra một bước ngoặt, góp phần phòng ngừa và xử lý có hiệu quả các hành vi gây tổn hại đến môi trường không chỉ của công dân mà cả người nước ngoài.

- Bên cạnh quyền sống trong môi trường trong lành, quyền về sức khỏe của người nước ngoài cũng là điểm được chú trọng hơn so với Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Sức khỏe là một trong những điều kiện thể chất, tinh thần và xã hội cơ bản để mỗi cá nhân bao gồm cả công dân và người nước ngoài có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của mình đối với một quốc gia. Theo đó, vấn đề sức khỏe luôn được ưu tiên và ngày càng được quan tâm không chỉ ở trên bình diện quốc tế (minh chứng là sự tồn tại của Tổ chức Y tế thế giới) mà ở chính mỗi quốc gia. Trên cơ sở nhận thức đầy đủ và hoàn thiện về quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài về sức khỏe, khoản 1 Điều 38 Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung Điều 65, Điều 66 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã quy định: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh”. Có thể thấy, Hiến pháp năm 2013 trao cho người nước ngoài quyền không chỉ được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe mà còn được hưởng chế độ đãi ngộ như công dân trong việc bình đẳng sử dụng các dịch vụ y tế. Đồng thời với các quyền được thụ hưởng, người nước ngoài cũng có nghĩa vụ trong việc thực hiện các quy định trước hết là phòng bệnh đặc biệt trong thời điểm bùng phát bệnh dịch từ các quốc gia khác như dịch ebola xuất phát từ châu Phi hay bệnh MERS từ Hàn Quốc, theo đó, việc chủ động phòng bệnh từ phía người nước ngoài khi đến Việt Nam là nghĩa vụ bắt buộc cần thiết bảo đảm sức khỏe không chỉ của người nước ngoài mà của cộng đồng; bên cạnh đó, người nước ngoài cũng cần tuân thủ các quy định trong việc khám, chữa bệnh.

Liên quan đến quyền về văn hóa và khoa học mà người nước ngoài được thụ hưởng từ Hiến pháp năm 2013 có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó”[vii], “quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa”[viii] và “Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ”[ix]. Với việc trao cho người nước ngoài quyền trong lĩnh vực khoa học công nghệ và văn hóa như đã đề cập ở trên, Hiến pháp năm 2013 đáp ứng nhu cầu chính đáng trong việc thụ hưởng các giá trị văn hóa, tinh thần lành mạnh không chỉ đối với công dân mà cả đối tượng người nước ngoài. Không chỉ vậy, nhận thức đầy đủ hơn về sự phát triển của khoa học công nghệ và văn hóa luôn đi kèm với vấn đề sở hữu trí tuệ đặc biệt với thực tế nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với thực trạng hàng giả, hàng nhái từ trong và ngoài nước thì Khoản 2 Điều 62 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định“Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ”. Theo Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ, thuật ngữ “sở hữu trí tuệ” bao gồm ba nhóm: Nhóm quyền tác giả (bản quyền tác giả), nhóm sở hữu công nghiệp (quyền sở hữu công nghiệp) và giống cây trồng. Như vậy, nhóm quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ theo Hiến pháp năm 2013 mở rộng hơn Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)[x]. Theo Hiến pháp năm 2013, người nước ngoài có quyền nghiên cứu, tiếp cận và hưởng thụ lợi ích từ chính việc nghiên cứu khoa học công nghệ, văn học, nghệ thuật đồng thời được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Với quy định này, Hiến pháp năm 2013 là nền tảng để xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật trong nước tạo cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm cho sự sáng tạo, đầu tư và phát triển của người nước ngoài ở Việt Nam, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển, tiến bộ của đất nước.

Một trong những điểm nổi bật liên quan đến quyền của người nước ngoài theo Hiến pháp năm 2013 là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở được quy định tại Điều 22. Theo đó, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam được bảo đảm thích đáng về sự riêng tư của cá nhân và gia đình, không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý và việc khám xét chỗ ở chỉ được tiến hành và được coi là hợp pháp trên cơ sở do luật định. Hiến pháp năm 2013 trao cho người nước ngoài quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đồng thời cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc “có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở”[xi]. Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở không chỉ dành cho công dân mà mở rộng cho người nước ngoài theo Hiến pháp năm 2013 là điểm đặc biệt thể hiện sự tiến bộ về nhận thức trong việc quy định về quyền cho người nước ngoài của Nhà nước ta và phù hợp với thời kỳ hội nhập hiện nay ở Việt Nam. Quy định này góp phần tạo nên sự bảo đảm, an tâm và cũng như là một chính sách thúc đẩy người nước nước ngoài đến, làm việc và đóng góp cho Việt Nam.

Nhìn chung, quyền và nghĩa vụ về kinh tế, văn hóa, xã hội của người nước ngoài ở mỗi quốc gia phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển và chính sách của quốc gia đó. Hiến pháp năm 2013 ra đời trong bối cảnh Việt Nam đã và đang có những bước phát triển và dần khẳng định được vị thế trên trường quốc tế như từ một nước có nền kinh tế kém phát triển Việt Nam đã bước vào nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình trên thế giới cũng như trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới và khu vực. Trên cở sở lĩnh hội, tiếp thu và thực hiện các cam kết quốc tế, quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài về kinh tế, văn hóa và xã hội theo Hiến pháp năm 2013 đã được mở rộng và được quy định tương đối tiến bộ góp phần tạo điều kiện thúc đẩy cho sự phát triển xã hội bởi con người là chủ thể xây dựng đất nước và đặc biệt trong thời kỳ hội nhập quốc tế bên cạnh công dân của mỗi quốc gia thì người nước ngoài là bộ phận dân cư đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển đó.

ThS. Phạm Thị Bắc Hà

Khoa Pháp luật Quốc tế, Đại học Luật Hà Nội


[i] Báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Đối với các nước như Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Hàn Quốc, ... trong Luật xuất nhập cảnh không nêu khái niệm về người nước ngoài nhưng tại các văn bản pháp luật về quốc tịch lại quy định người nước ngoài là những người không có quốc tịch của nước họ

[ii] Xem Điều 33 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.

[iii] Khoản 1 Điều 32 Hiến pháp

[iv] Các bản Hiến pháp trước đây quy định nguyên tắc, trách nhiệm chung giữa các cơ quan với nhau liên quan đến vấn đề môi trường mà chưa đề cập đến quyền được sống trong môi trường trong lành.

[v] Công ty VEDAN là công ty 100% vốn nước ngoài.

[vi] Khoản 1, Điều 3 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

[vii] Điều 40 Hiến pháp năm 2013 - sửa đổi Điều 60 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).

[viii] Điều 41 Hiến pháp năm 2013.

[ix] Điều 62 Hiến pháp năm 2013.

[x] Điều 60 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001):Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp”.

[xi] Điều 59 Hiến pháp năm 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.

Theo dõi chúng tôi trên: