Thứ bảy 27/06/2026 01:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chính phủ điện tử và những tác động của nó tới lý thuyết và thực tiễn hành chính

Để phân tích sâu hơn những ưu thế mà Chính phủ điện tử mang lại cũng như những mặt trái của nó nhằm có những gợi ý quan trọng cho việc hoạch định chính sách tổng thể liên quan tới hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin liên lạc (ICTs), cần phải minh định nội hàm khái niệm Chính phủ điện tử.

Từ thập niên cuối của thế kỷ 20 đến những năm đầu của thế kỷ 21, nền kinh tế thế giới đã có những bước chuyển quan trọng với những thành tựu to lớn của cuộc cánh mạng thông tin. Những thay đổi trong hoạt động kinh tế đã tác động trực tiếp tới phương thức hoạt động của Chính phủ. Bước phát triển và thành tựu trong ứng dụng công nghệ thông tin ở khu vực tư nhân và kết quả là sự ra đời của thương mại điện tử (e-commerce) và doanh nghiệp điện tử (e-business), đặt Chính phủ đứng trước thách thức tự đổi mới nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu giao dịch với khách hàng, doanh nghiệp và người dân. Thách thức lớn nhất, có tiềm năng trong việc cải tổ phương thức hoạt động truyền thống của Chính phủ nhằm nâng cao độ nhạy (responsiveness) của Chính phủ trong mối tương tác với cộng đồng doanh nghiệp, với người dân và giữa các Chính phủ với nhau chính là ứng dụng ngày càng nhiều hơn, đa dạng hơn công nghệ thông tin tiên tiến nhằm xây dựng “Chính phủ điện tử” (e-gvernment) – một thuật ngữ đang ngày càng được sử dụng phổ biến hơn trong khoa học quản lý hành chính công và có tác động mạnh mẽ vào lý thuyết và thực tiễn nền hành chính. Đó cũng là nội dung bài viết mà chúng tôi đề cập.

1. Minh định khái niệm Chính phủ điện tử

Để phân tích sâu hơn những ưu thế mà Chính phủ điện tử mang lại cũng như những mặt trái của nó nhằm có những gợi ý quan trọng cho việc hoạch định chính sách tổng thể liên quan tới hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin liên lạc (ICTs), cần phải minh định nội hàm khái niệm Chính phủ điện tử.

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), thuật ngữ Chính phủ điện tử nhằm chỉ việc sử dụng những công nghệ thông tin liên lạc mới của Chính phủ các nước vào thực hiện các chức năng khác nhau của Chính phủ. Đặc biệt, lợi ích do Internet mang lại có tiềm năng thay đổi cấu trúc và phương thức hoạt động của Chính phủ.

Theo Tổ chức Liên Hợp Quốc (UN) và Hiệp hội Hành chính Hoa Kỳ (American Society of Public Administration – ASPA), Chính phủ điện tử là việc Chính phủ khai thác các tính năng Internet và World Wide Web vào cung cấp thông tin và dịch vụ tới người dân và các đối tượng khác trong xã hội. Theo Jaeger, ngoài ứng dụng Internet và Web, Chính phủ điện tử còn bao hàm những ứng dụng công nghệ thông tin khác như “cơ sở dữ liệu điện tử, mạng lưới, dịch vụ tự động, đa phương tiện, công nghệ định danh cá nhân …”.

Một số học giả khác định nghĩa Chính phủ điện tử là mối quan hệ Chính phủ, khách hàng (là các doanh nghiệp, người dân và các Chính phủ khác) và nhà cung cấp (vẫn là doanh nghiệp, người dân, và các Chính phủ khác).

Nhìn chung, các định nghĩa về Chính phủ điện tử đều coi đó là việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ thông tin vào công tác điều hành của Chính phủ và tương tác của Chính phủ đối với các thành tố khác trong xã hội như công dân và doanh nghiệp nhằm mục đích phân phối dịch vụ trực tiếp tới khách hàng không giới hạn thời gian.

Nhằm đơn giản hoá cách hiểu các định nghĩa Chính phủ điện tử chúng ta có thể lấy một số ví dụ từ đơn giản tới phức tạp, từ những ứng dụng yêu cầu kỹ thuật đơn giản tới những ứng dụng, dịch vụ mà đằng sau nó là cả một nền khoa học tiên tiến.

Ví dụ đơn giản và phổ biến nhất hiện nay mà trong hình dung của nhiều người, đó là một việc làm bình thường trên máy tính thông qua mạng Internet không liên quan tới Chính phủ điện tử, là dịch vụ email. Thông qua các trang web của các cơ quan công quyền, địa chỉ email của các cán bộ, chuyên viên của từng cơ quan cụ thể được công khai và người dân có thể dùng địa chỉ email cá nhân trao đổi trực tiếp với người chịu trách nhiệm xử lý công việc hoặc viết thư điện tử tới cấp có thẩm quyền cao hơn nếu thấy không hài lòng với dịch vụ được cung cấp.

Ví dụ thứ hai, yêu cầu sự phối hợp tổng thể của các cơ quan trong Chính phủ cũng như mức độ phức tạp cao hơn nhiều về công nghệ là một cơ sở dữ liệu quốc gia tương tác thông qua giao diện web. Đây là một trong những ứng dụng công nghệ thông tin có giá trị nhất trong xây dựng Chính phủ điện tử ở các quốc gia. Thay vì phải định vị thông tin hoặc dữ liệu muốn tìm kiếm ở đâu, rồi sau đó đăng nhập vào trang web của cơ quan hữu quan sở hữu thông tin đó và tìm kiếm, người sử dụng chỉ việc vào một trang web tích hợp cơ sở dữ liệu quốc gia và tìm kiếm bất kỳ thông tin nào liên quan tới hoạt động của Chính phủ và các cơ quan Chính phủ. Đây là nỗ lực lớn nhằm xây dựng một Chính phủ mở (open government) trong đó nhấn mạnh tính minh bạch thông tin và quyền tự do tiếp cận thông tin của tất cả mọi đối tượng trong xã hội. Việc xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia tương tác với người dân thông qua giao diện web là bước đi hiệu quả trong tiến trình biến các dữ liệu vô nghĩa thành tri thức thông qua 3 bước: Dữ liệu - thông tin - tri thức. Do đòi hỏi cao về công nghệ và một lượng lớn công việc nhằm số hóa toàn bộ cơ sở dữ liệu quốc gia thành một cơ sở dữ liệu điện tử nên cho tới nay vẫn chưa có nhiều quốc gia thành công trong việc tạo ra một cơ sở dữ liệu quốc gia tương đối hoàn chỉnh nhằm khai thác tối đa lợi ích mà kỹ nghệ số và Internet mang lại. Thành công trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử quốc gia tại một số nước tiên phong trong ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử như Singapore, Anh, Canada, Mỹ, Úc, New Zealand … là những bằng chứng rõ ràng về lợi ích của cơ sở dữ liệu quốc gia được chia sẻ với người dân và các thành phần khác trong xã hội cho các quốc gia khác trong nỗ lực xây dựng các công cụ phục vụ đổi mới nền công vụ. Ở New Zealand, trang web data.govt.nz do Phòng Dịch vụ Thông tin Chính phủ (Government Information Services) thuộc Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm có tới 2817 bộ dữ liệu của tất cả các cơ quan, phòng, ban trực thuộc chính phủ có thể tải được về máy tính cá nhân với các mục đích khác nhau. Nhằm khuyến khích sự tham gia của người dân trong việc hoàn thiện nguồn tài nguyên số này trang web cung cấp cho người sử dụng một công cụ để yêu cầu dữ liệu không có sẵn trong cơ sở dữ liệu. Khi đăng yêu cầu, người dùng sẽ theo dõi được trạng thái yêu cầu dữ liệu của mình từ lúc đăng đến lúc yêu cầu được tiếp nhận, xử lý và trả lời. Người dùng có thể tìm kiếm thông tin về các mặt hoạt động của Chính phủ từ số liệu thống kê về các chỉ số môi trường, giao thông, giáo dục, chi tiêu công… trong đó những thống kê chi tiết như khoản mục chi hàng năm của Thủ tướng cũng được công khai bao gồm tiền công tác phí, tiền tiếp khách, tiền đi lại… trong các văn bản báo cáo tài chính có sẵn dưới các định dạng thân thiện như với người dùng như .xls (excel) hay .pdf.

3. Tác động của Chính phủ điện tử

Những gì chúng ta bàn về Chính phủ điện cho thấy đây là một bước đi quan trọng trong tiến trình phát triển của khoa học hành chính. Các học giả cũng như những nhân viên hành chính rất hy vọng những thay đổi mà Chính phủ điện tử tạo ra sẽ khắc phục những điểm yếu cố hữu của hệ thống hành chính truyền thống như nạn quan liêu, tham nhũng, bưng bít thông tin, sự thiếu dân chủ… Tiềm năng và ảnh hưởng có thể có của Chính phủ điện tử rất lớn. Thời báo kinh tế số tháng 6 năm 2000 đã nhận định: “Trong vòng năm năm tới, Chính phủ điện tử sẽ không những thay đổi phương thức cung cấp dịch vụ công mà còn thay đổi cơ bản mối quan hệ giữa Chính phủ và người dân. Sau thương mại điện tử, Chính phủ điện tử sẽ là cuộc cách mạng Internet tiếp theo”.

Sự ra đời của Chính phủ điện tử thu hút được nhiều sự quan tâm như vậy của các nhà nghiên cứu cũng như những người làm trong khu vực công vì những tác động của nó có thể làm thay đổi những học thuyết quản lý và tổ chức ra đời trong kỉ nguyên công nghệ trước đó. Không giống như sự ra đời của máy đánh chữ, máy photo hay gần hơn là máy tính cá nhân…, sự ra đời của những thiết bị kể trên chỉ mang tính chất hỗ trợ công việc cho nhân viên hành chính còn bản chất công việc vẫn không thay đổi, thì sự ra đời của Chính phủ điện tử có thể tác động lớn tới các học thuyết tổ chức, phương thức vận hành của nền hành chính và xa hơn nữa là làm thay đổi quan niệm về Chính phủ và mối quan hệ của Chính phủ với thành phần khác trong xã hội.

Theo Owen Hughes trong cuốn Quản lý công, những tác động có thể có của kỷ nguyên kỹ thuật số là những tác động tới phương thức tổ chức quản lý. Thứ nhất, sự ra đời của Internet và Chính phủ điện tử, nhu cầu của bộ máy đối với các vị trí quản lý cấp trung sẽ giảm đi nhiều. Điều này được tác giả lý giải bởi hai nguyên do: (i) Nguyên do đầu tiên là chức năng của quản lý cấp trung có những thay đổi với sự ra đời của Chính phủ điện tử làm thay đổi phương thức tương tác giữa người dân và doanh nghiệp với nhà cung cấp dịch vụ công (chủ trì là Chính phủ). Trước đây, vai trò của quản lý cấp trung là tiếp nhận, sắp xếp thông tin sau đó chuyển tiếp thông tin lên quản lý cấp cao hơn. Tuy nhiên, do ứng dụng web cho phép người dân, doanh nghiệp tương tác trực tiếp với cấp quản lý cao hơn nên vai trò của quản lý cấp trung không còn như trước nữa; (ii) Tiếp đó là sự thay đổi về nhu cầu và tính chất công việc của nhân viên thuộc cấp. Trước đây, phần lớn công việc liên quan tới thủ tục hành chính đều được làm thủ công, ví như khai nhập các biểu mẫu thì hiện nay với sự trợ giúp của các công cụ như máy tính, mạng internet cùng các công cụ tương tác trực tuyến, phần lớn công việc đó được thực hiện bởi chính khách hàng (là người dân hoặc doanh nghiệp), vì vậy nhu cầu đối với nhân viên hành chính cấp thấp của bộ máy cũng giảm đi rõ rệt. Thêm nữa, với sự trợ giúp của máy móc và các quy trình công khai, nhân viên cấp dưới có thể giải quyết được những vấn đề phức tạp hơn nhiều, những việc mà trước đây cần ý kiến chỉ đạo của quản lý cấp trung. Theo Hughes, đây cũng chính là cơ sở cho việc thiết kế lại bảng mô tả công việc cũng như cơ chế phân quyền trong kỷ nguyên Chính phủ điện tử. Nhân viên thuộc cấp được giao nhiều quyền tự chủ hơn trong xử lý công việc và nhờ thế cho phép lãnh đạo không mất nhiều thời gian vào giám sát công việc thường nhật của nhân viên mà thay vào đó lãnh đạo các cơ quan có thể quản lý công việc của nhân viên cũng như tổ chức mình phụ trách dựa trên kết quả đầu ra. Công việc quản lý truyền thống như chấm công, đốc công, giám sát giờ giấc văn phòng được thực hiện tự động bằng các thiết bị điện tử hiện đại kết nối với mạng Internet chuyển dữ liệu về máy chủ phục vụ công tác quản lý.

Như vậy, sự ra đời của Chính phủ điện tử đang làm thay đổi nguyên lý tổ chức bộ máy hành chính hình tháp nhiều thứ bậc theo học thuyết tổ chức của Weber. Các hoạt động văn phòng dựa nhiều vào giấy tờ cũng dần được thay thế bằng các văn bản điện tử. Phương thức tổ chức, phối hợp hoạt động không còn là phương thức theo trục dọc như trước đây mà thay vào đó là xu thế phối hợp theo phương ngang (network) giữa các tổ chức trong một bộ máy ít hệ thống thứ bậc hơn.

Trên đây là những thảo luận có thể chưa đầy đủ về tác động vĩ mô của Chính phủ điện tử trong tiến trình phát triển của khoa học và thực tiễn hành chính. Những tác động khác của Chính phủ điện tử có thể kể tới là vai trò của Chính phủ điện tử trong xây dựng văn hoá minh bạch của nền hành chính đặc biệt trong mua sắm, đầu tư công và mối quan hệ của nó với tham nhũng hay tác dụng của Chính phủ điện tử trong việc giảm bớt tiếp xúc trực tiếp giữa người sử dụng dịch vụ công với nhân viên hành chính và vì thế làm giảm tiêu cực có nguy cơ phát sinh từ những cuộc tiếp xúc này. Ngoài ra, sự tiện lợi mà Chính phủ điện tử mang lại như cung cấp dịch vụ, tiếp nhận yêu cầu dịch vụ mọi lúc mọi nơi đã cải thiện hiệu quả của nền hành chính một cách đáng kinh ngạc. Xa hơn nữa là đóng góp của nó vào tiến trình dân chủ khi người dân và toàn thể xã hội được trang bị đầy đủ thông tin để tự bảo vệ mình cũng như yêu cầu những quyền lợi chính đáng mà họ đáng được hưởng.

4. Kết luận

Sự ra đời của Chính phủ điện tử là một cuộc cách mạng trong tiến trình phát triển hành chính công. Tiềm năng lớn nhất của Chính phủ điện tử là nó có khả năng thách thức và làm thay đổi các lý thuyết tổ chức bộ máy truyền thống, thay đổi phương thức sản xuất và cung ứng dịch vụ công. Tuy đang trong giai đoạn hoàn thiện và còn cần nhiều thời gian nữa mới chứng minh được chính nó mới là mô hình tương lai của Chính phủ thì Chính phủ điện tử cũng đã cho thấy được những kết quả ban đầu trong việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các Chính phủ nhằm phục vụ người dân tốt hơn. Bài viết này dừng lại ở việc thảo luận những ưu thế vượt trội của ứng dụng Chính phủ điện tử trong hoạt động của các Chính phủ và những tác động vĩ mô của nó tới tổ chức và hoạt động của nền hành chính nhưng như vậy không có nghĩa rằng Chính phủ điện tử là một mô hình hoàn hoản không có khiếm khuyết. Ngược lại, những thách thức mà Chính phủ đặt ra đối với những người có trách nhiệm là lớn hơn bao giờ hết. Sự phức tạp và biến đổi không ngừng với tốc độ nhanh về công nghệ khiến cho các dự án công nghệ trong khu vực công vốn chậm chạp luôn đứng trước nguy cơ lạc hậu, đồng thời sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao để khai thác hết tiềm năng của nó cũng là thách thức không nhỏ đối với các nhà quản lý.

PGS.TS. Ngyễn Quốc Sửu

ThS.Nguyễn Thanh Tùng - Napa

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: