Chủ nhật 17/05/2026 16:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chính sách pháp luật tố tụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng

Bộ luật Tố tụng hình sự có nhiệm vụ bảo đảm việc phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

1. Về mục tiêu của chính sách pháp luật tố tụng hình sự
Bộ luật Tố tụng hình sự có nhiệm vụ bảo đảm việc phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Mặc dù pháp luật có xác định phải xử lý công minh, không làm oan người vô tội, nhưng ở vị thế độc quyền chân lý, sự chủ quan là khó tránh khỏi. Với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính đủ bảo đảm để pháp luật và công lý được tôn trọng[1], do đó, cần đánh giá lại một cách cụ thể hơn mục đích của tố tụng hình sự (TTHS).
Chính sách pháp luật hình sự nhằm đáp ứng ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức; bảo vệ trật tự, kỷ cương; bảo đảm và tôn trọng dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân[2]. Như vậy, chính sách pháp luật TTHS trong thời gian tới phải hướng tới mục tiêu giải quyết vụ án hình sự khách quan mà nền tảng là dựa trên cơ chế tranh tụng, chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, giáo dục công dân ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
2. Định hướng về mô hình tố tụng
Mô hình TTHS nước ta thời gian qua đã phát huy tác dụng tích cực trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và từng bước đáp ứng yêu cầu bảo đảm dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong điều kiện trình độ dân trí cũng như kinh tế còn thấp. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực vẫn cho thấy sự mờ nhạt, thụ động của các chủ thể khác ngoài cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) trong việc đi tìm sự thật của vụ án, mất cân bằng giữa các chủ thể trong quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án. Hạn chế này cho thấy, chẳng những nó hạn chế khả năng xác định sự thật của vụ án mà còn ảnh hưởng tới các nguyên tắc khác của TTHS[3].
Duy trì mô hình TTHS hiện nay còn bảo đảm tính thống nhất của các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc tổ chức hệ thống các cơ quan THTT nói riêng cũng như hệ thống các cơ quan nhà nước khác và toàn bộ hệ thống chính trị trong xã hội ta và các điều kiện hiện đã có của Việt Nam về năng lực của đội ngũ trong các cơ quan THTT, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ quan THTT và trình độ pháp lý của xã hội ta cũng như sự hội nhập quốc tế để bảo đảm tính đồng bộ, hiện đại, dân chủ, công khai, minh bạch, liêm chính, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Vì vậy, tiếp tục duy trì và phát huy những ưu điểm vốn có của mô hình TTHS thẩm vấn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Khắc phục những hạn chế của mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn như: Đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tội phạm, khám phá vụ án tất yếu dẫn đến sự coi nhẹ các giá trị khác trong tố tụng, nổi bật nhất là tính công bằng của phiên tòa và các quyền con người của người bị buộc tội, bởi chức năng buộc tội, nên hồ sơ vụ án thường tập trung đến các chứng cứ buộc tội hơn là chứng cứ vô tội; trong quá trình điều tra còn nhiều hạn chế đã dẫn đến tình trạng bức cung, nhục hình ở một số nơi. Tiếp thu những yếu tố hợp lý của mô hình TTHS tranh tụng, như thủ tục tố tụng công bằng, quyền im lặng được tôn trọng tuyệt đối, thể hiện ở mức độ cao hơn sự tôn trọng quyền cơ bản của công dân, nâng cao vị thế vai trò người bào chữa trong tố tụng hình sự, thể hiện những đặc trưng quan trọng nhất trong ba yếu tố: Buộc tội - bào chữa - xét xử với ba nhóm chủ thể: (i) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; (ii) Người bị buộc tội, người bào chữa; (iii) Tòa án.
3. Định hướng về các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự
Mục tiêu của chính sách pháp luật TTHS được cụ thể hóa thành những định hướng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và được xác định thông qua những nguyên tắc cơ bản của TTHS trong quá trình xây dựng pháp luật TTHS. Chính sách pháp luật TTHS phải dựa vào và cụ thể hóa tư tưởng, đường lối mà trước hết là các nguyên tắc cơ bản với vai trò là sự trung chuyển chính sách pháp luật TTHS tới các quy phạm pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động của TTHS[4]. Các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự chính là những quy luật khách quan có vai trò chủ đạo trong hoạt động tố tụng mà chúng ta phải tôn trọng và tuân thủ. Theo đó, cần tiếp tục lấy các nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội làm hai nguyên tắc trụ cột của TTHS, nguyên tắc tranh tụng dẫn đến sự hình thành các bên trên cơ sở xác định vị trí của các lợi ích tố tụng, từ đó tạo nên sự bình đẳng của các bên trong vị trí tố tụng. Nguyên tắc suy đoán vô tội tạo cơ sở cho việc bảo vệ quyền con người, là lá chắn quan trọng để khắc phục tình trạng án oan, sai trong TTHS. Nghiên cứu để hoàn thiện hơn nữa chế định minh oan trong pháp luật TTHS tương lai với các quy phạm cụ thể và dứt khoát[5]. Bổ sung một số nguyên tắc cơ bản của luật TTHS như giải quyết khiếu nại, tố cáo… thể hiện tinh thần cải cách mạnh mẽ thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đảng công khai, minh bạch, chặt chẽ, chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính bảo đảm thuận tiện, sự tham gia và giám sát của nhân dân.
4. Định hướng về các chủ thể của tố tụng hình sự
Trong thời gian qua, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, hệ thống Tòa án chưa thực sự tổ chức theo thẩm quyền xét xử, hai cấp Tòa án vẫn gắn với đơn vị hành chính, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan điều tra chậm đổi mới[6]. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình tố tụng tư pháp[7]. Theo đó, xây dựng các cơ quan tiến hành tố tụng hiện đại, trong sạch, hiệu quả, dân chủ, nghiêm minh, tăng cường công tác thống nhất, đồng bộ, khả thi, ổn định. Tổ chức hệ thống luật sư và các chế định bổ trợ tư pháp theo hướng phát triển mãnh mẽ thị trường dịch vụ pháp lý, khoa học, hiện đại, hiệu quả, cụ thể như sau:
Đối với Tòa án: Trên sơ sở nội hàm của quyền tư pháp, tiến hành đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, tự do tranh luận, tự do trình bày quan điểm của các bên, Tòa án là chủ thể trung tâm của hoạt động xét xử. Xác định là khâu đột phá của chính sách pháp luật tố tụng hình sự trong thời gian tới.
Đối với Viện kiểm sát: Hiện nay, chưa có cơ chế kiểm tra từ bên ngoài đối với các hoạt động công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, hoạt động điều tra của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Vì vậy, chính sách pháp luật TTHS theo hướng phân biệt giữa kiểm sát và công tố; tổ chức cơ quan thực hành quyền công tố và cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát; phân định vai trò, quyền và trách nhiệm của cơ quan, người đứng đầu và người không giữ chức vụ quản lý hành chính nhà nước trong Viện kiểm sát, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật tố tụng hình sự. Nâng cao năng lực điều tra của kiểm sát viên và Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Đối với Cơ quan điều tra: Hiện nay, cơ quan điều tra được tổ chức ở 3 bộ, ngành với 5 hệ thống[8]. Ngoài ra, còn có các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra[9]. Việc tổ chức cơ quan điều tra ở một số nơi chưa hợp lý, chưa tách bạch rõ nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm và điều tra tố tụng, kết hợp giữa hoạt động trinh sát và điều tra tố tụng chưa đúng yêu cầu. Vì vậy, tiếp tục xác định rõ nhiệm vụ của cơ quan điều tra trong mối quan hệ với các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra theo hướng cơ quan điều tra chuyên trách điều tra tất cả các vụ án hình sự, các cơ quan khác chỉ tiến hành một số hoạt động điều tra sơ bộ và tiến hành một số biện pháp điều tra theo yêu cầu của cơ quan điều tra chuyên trách. Cần tiếp tục nghiên cứu và chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới tổ chức lại các cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh sát và hoạt động điều tra TTHS; tăng cường, nâng cao năng lực của Cơ quan điều tra hình sự.
Hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp: Hiện nay, hoạt động bổ trợ tư pháp còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Cần tiếp tục thực hiện các đề án, chiến lược, văn bản quan trọng trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp như: Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020; Đề án đổi mới công tác trợ giúp lý giai đoạn 2015 - 2025; Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020; Đề án “đẩy mạnh xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục phát luật và trợ giúp pháp lý”; Đề án “đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp theo quy định của Luật Giám định tư pháp”… theo đó phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với luật sư, tạo điều kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức luật sư; đề cao trách nhiệm của các tổ chức luật sư đối với thành viên của mình.
Hoàn thiện chế định giám định tư pháp: Đầu tư cho một số lĩnh vực giám định để đáp ứng yêu cầu thường xuyên của hoạt động tố tụng. Thực hiện xã hội hóa đối với các lĩnh vực. Quy định chặt chẽ, rõ ràng về trình tự, thủ tục, thời hạn trưng cầu và thực hiện giám định. Xác định rõ cơ chế đánh giá kết luận giám định, bảo đảm đúng đắn, khách quan để làm căn cứ giải quyết vụ việc.
Xác định rõ phạm vi của công chứng và chứng thực, giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp, có bước đi phù hợp để từng bước xã hội hóa. Tiếp tục tổ chức thí điểm chế định thừa phát lại tại một số địa phương, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo.
Đối với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan tư pháp: Tập trung chính sách để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan tư pháp có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và phát triển đất nước. Có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân.
5. Về thủ tục tố tụng tư pháp
Hiện nay, cải cách hành chính trong các cơ quan tư pháp còn chậm, pháp luật về tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung, thiếu đồng bộ, khó thực hiện, chưa sát với thực tiễn. Yêu cầu đặt ra là hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, công khai và thuận lợi, chính sách pháp luật TTHS làm tiền đề cho cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng: Kết hợp chặt chẽ việc đổi mới thủ tục tố tụng tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tư pháp phù hợp với hoạt động tư pháp. Hoàn thiện trình tự, thu thập tài liệu chứng cứ của người bào chữa. Hoàn thiện cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn, cải tiến các thủ tục tố tụng tại phiên tòa để bảo đảm tranh tụng dân chủ, bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa, lấy kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án. Hoàn thiện thủ tục khởi tố vụ án, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong thủ tục tố tụng tư pháp. Phát triển một số loại hình dịch vụ tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ. Xây dựng cơ chế phát huy sức mạnh của nhân dân, các tổ chức đoàn thể trong giám sát hoạt động tư pháp[10].
6. Về bào chữa trong tố tụng hình sự
Hiện nay, đang thiếu các cơ chế để người bào chữa thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các quyền năng tố tụng đã được luật định và để người bào chữa bảo vệ quyền của mình trước sự vi phạm của các chủ thể khác, đặc biệt là sự vi phạm từ phía các cơ quan THTT, vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra, truy tố còn mờ nhạt. Người bào chữa chưa được bảo đảm các cơ hội để trở thành một bên bình đẳng với bên buộc tội trong việc thực hiện chức năng bào chữa của mình[11].
Chính sách pháp luật TTHS theo hướng tăng cường các cơ chế bảo đảm để người bào chữa thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng bào chữa của mình, như: Phải bảo đảm để người bào chữa có mặt ngay trong buổi làm việc đầu tiên của cơ quan điều tra đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị tạm giữ; quy định trình tự, thủ tục người bảo vệ quyền lợi ích pháp của người tham gia tố tụng khác. Tăng thẩm quyền mới cho người bào chữa, giá trị chứng minh của các tài liệu chứng cứ do người bào chữa thu thập được, đề cao vai trò của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng, đặc biệt là giai đoạn điều tra và truy tố.
7. Về giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự
Hiện nay, quy định về khiếu nại, tố cáo trong TTHS còn một số hạn chế như: Một số chủ thể trong TTHS không quy định được quyền khiếu nại trong khi tham gia tố tụng như người giám định, người phiên dịch; chưa có quy định cụ thể về chế tài xử lý đối với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo không đúng thời hạn quy định, không quy định về khiếu nại trực tiếp bằng miệng và phương thức giải quyết khiếu nại bằng miệng. Chưa phân biệt rõ hoặc quy định chi tiết về hành vi tố tụng, những chủ thể được quyền khiếu nại, tố cáo khó có thể nhận biết đâu là hành vi tố tụng để thực hiện quyền của mình[12]. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về đối tượng khiếu nại, tố cáo trong TTHS theo hướng: Cần phải quy định là nguyên tắc xuyên suốt về nội dung bất cứ hành vi tố tụng, quyết định tố tụng nào có căn cứ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đều bị khiếu nại mà không hạn chế bởi chỉ có cá nhân tham gia tố tụng. Mở rộng quyền được khiếu nại của một số người tham gia tố tụng, hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm đối với chủ thể của khiếu nại, tố cáo; trách nhiệm của người bị khiếu nại, tố cáo; trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo.
8. Về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Tăng cường hợp tác quốc tế là một trong những nội dung lớn của cải cách tư pháp trong thời gian qua, theo đó rà soát một cách cơ bản và toàn diện các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trên cơ sở so sánh và đối chiếu các quy định về thủ tục TTHS và hợp tác quốc tế trong TTHS để nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong hoạt động TTHS. Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong công tác phòng, chống tội phạm, tổ chức thực hiện tốt các công ước quốc tế, hiệp định tương trợ tư pháp, hiệp định hợp tác phòng, chống tội phạm mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập. Tiếp tục nghiên cứu tham gia, ký kết các điều ước quốc tế khác liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm.
Bổ sung các nguyên tắc hợp tác quốc tế trong TTHS: Xem xét, tiến hành hợp tác quốc tế trong TTHS theo nguyên tắc có đi có lại. Theo hướng này, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu để hướng dẫn quy định về nguyên tắc có đi có lại để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật[13]. Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền THTT và các điều kiện bảo đảm hiệu quả hợp tác quốc tế trong TTHS để nâng cao hiệu quả trong thực tiễn giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế trong TTHS của các cơ quan có thẩm quyền, như: Thời hạn, thủ tục dẫn độ; thủ tục công nhận các quyết định của cơ quan có thẩm quyền nước yêu cầu dẫn độ, hỗ trợ tư pháp; thủ tục tiếp nhận yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự là công dân Việt Nam của nước yêu cầu; cách xác định nơi cư trú cuối cùng trước khi ra nước ngoài của công dân Việt Nam; vấn đề chi phí thực hiện tương trợ tư pháp. Nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp tác quốc tế đối với pháp nhân thương mại phạm tội./.

Hoàng Đình Duyên
NCS Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội


[1] PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí, “Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự - yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 27 (2011).

[2] Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới;.
[3] TS. Đinh Thế Hưng, “Về tố tụng công bằng trong tố tụng hình sự Việt Nam”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ve-to-tung-cong-bang-trong-to-tung-hinh-su-viet-nam.[4] PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí “Giáo trình Các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018, tr. 25.[5] TSKH. GS. Lê Văn Cảm “Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019, tr.84.[6] Báo cáo tổng kết số 35-BC/CCTP ngày 12/3/2014 của Ban Cải cách tư pháp Trung ương về 8 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.[7] Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị, 2021, tập 1, tr. 178.
[8] Bộ Công an có hai hệ thống: (1) Cơ quan Cảnh sát điều tra được tổ chức ở 3 cấp: Bộ, tỉnh và huyện; (2) Cơ quan An ninh điều tra được tổ chức ở 2 cấp: Bộ và tỉnh; Bộ Quốc phòng có 2 hệ thống: (1) Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội được tổ chức ở 3 cấp: Bộ, quân khu và khu vực; (2) Cơ quan An ninh điều tra Quân đội được tổ chức theo 2 cấp: Bộ và quân khu; Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự trung ương có cơ quan điều tra.
[9] Bộ Công an và công an cấp tỉnh có một số Cục, Phòng Cảnh sát, An ninh, Giám thị trại giam và Trại tạm giam; Bộ Quốc phòng có Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Giám thị trại giam và Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương; Bộ Tài chính có lực lượng Hải quan; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có lực lượng Kiểm lâm.
[10] Báo cáo tổng kết số 35-BC/CCTP ngày 12/3/2014 của Ban Cải cách tư pháp Trung ương về 8 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
[11] TS. Lê Hữu Thể, ThS. Nguyễn Thị Thủy “Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp” (Nguồn: http://www.nclp.org.vn).
[12] Nguyễn Thị Hương, “Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học giáo dục, 2009.
[13] GS. TS. Nguyễn Ngọc Anh, “Hoàn thiện chế định hợp tác quốc tế trong Tố tụng Hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” (https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/224).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: