Thứ hai 10/08/2026 21:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chính sách và cụ thể hóa chính sách thành quy phạm pháp luật – một ví dụ từ quy định về đặt cọc trong quan hệ cho thuê bất động sản theo pháp luật bang Victorira

Bài viết chia sẻ thông tin về pháp luật điều chỉnh giao dịch đặt cọc trong quan hệ cho thuê bất động sản của bang Victoria (Úc), là một ví dụ minh họa cho việc xây dựng các quy định pháp luật trên cơ sở các quan điểm, chính sách.

Một trong những điểm mới quan trọng của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 là việc tách bạch giữa thiết kế chính sách và thể hiện chính sách thành các quy phạm pháp luật. Cụ thể, trong giai đoạn lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội tập trung vào xác định nội dung của chính sách, tác động của chính sách, các giải pháp để thực hiện chính sách[1]. Việc lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức và đối tượng chịu sự tác động cũng như thẩm định, thẩm tra trong giai đoạn này tập trung vào nội dung chính sách. Tại giai đoạn soạn thảo, cơ quan soạn thảo có trách nhiệm xây dựng dự thảo văn bản phù hợp với chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản, trường hợp có vấn đề chính sách mới phát sinh phải giải trình[2]. Khi Bộ Tư pháp thẩm định dự thảo văn bản, một trong những nội dung cần thẩm định là sự phù hợp với chính sách[3].

Tuy nhiên, tách biệt giữa chính sách và pháp luật là vấn đề khá trừu tượng và phức tạp. Ở cấp độ nào là chính sách và cấp độ nào là quy phạm pháp luật và quy phạm pháp luật có thể thể hiện các quan điểm chính sách như thế nào sẽ luôn là câu hỏi được đặt ra trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật theo quy trình mới. Để hình dung cụ thể hơn về vấn đề này, tác giả chia sẻ ví dụ về việc thể hiện quan điểm, chính sách thành các quy phạm pháp luật thông qua quy định về đặt cọc trong quan hệ cho thuê bất động sản ở bang Victoria.

Trong quan hệ thuê bất động sản, tiền đặt cọc được coi là khoản tiền đảm bảo người thuê tuân thủ các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê nhà. Trong trường hợp không giữ gìn nhà sạch sẽ, làm hư hỏng hoặc nợ tiền thuê, người cho thuê (chủ nhà hoặc đại lý) có quyền yêu cầu được nhận một phần hoặc toàn bộ tiền đặt cọc khi hợp đồng chấm dứt.

Pháp luật bang Victoria phân biệt hai loại cho thuê bất động sản là cho thuê nhà ở và cho thuê vì mục đích thương mại. Quan hệ thuê và cho thuê nhà ở được điều chỉnh bởi Luật về thuê nhà ở 1977 (Residential Tenancies Act 1997) trong khi quan hệ thuê và cho thuê bất động sản lẻ với mục đích thương mại được điều chỉnh bởi Luật về cho thuê lẻ bất động sản 2003 (Retail Leases Act 2003). Nhà nước có chính sách điều chỉnh khác nhau đối với hai nhóm quan hệ này và chính điều đó đã dẫn tới sự khác biệt giữa trong pháp luật về đặt cọc đối với hai nhóm quan hệ này.

1. Đặt cọc nhằm đảm bảo nghĩa vụ của người thuê nhà ở

Luật về thuê nhà ở 1997 coi người thuê nhà là bên yếu thế. Trong khi công nhận biện pháp đặt cọc trong luật để bảo vệ lợi ích của bên cho thuê và đảm bảo trách nhiệm của bên đi thuê nhà, nhà lập pháp bang Victoria cũng quan tâm đến các chính sách để bảo vệ bên đi thuê nhà. Cụ thể, hạn chế để tiền đặt cọc không bị đặt ra ở mức quá cao, gây khó khăn cho những người thu nhập thấp. Người cho thuê nhà cũng không được tùy tiện sử dụng tiền cọc và không được tùy tiện khấu trừ tiền cọc, gây thiệt hại cho bên đi thuê nhà. Chính sách này đã được thể hiện qua những quy định về mức tiền đặt cọc, cách thức quản lý và sử dụng tiền đặt cọc.

Về mức đặt cọc: Luật về thuê nhà ở 1997 quy định nếu tiền cho thuê nhà từ 350 đô la Úc/tuần trở xuống thì mức tiền đặt cọc không được quá một tháng tiền thuê nhà. Quy định này mặc định những bất động sản có mức thuê thấp thì khả năng gây ra những hư hại lớn là không cao, do vậy, bên cho thuê không thể đặt ra mức tiền đặt cọc quá cao đối với bên đi thuê, được coi là không có khả năng tài chính dồi dào vì phải lựa chọn thuê nhà giá thấp. Ngược lại, khi bất động sản có giá cho thuê cao tức là giá trị của bất động sản sẽ cao và bên thuê được xem là có khả năng tài chính cao hơn nên bên cho thuê không bị hạn chế khi đưa ra mức đặt cọc.

Về quản lý tiền đặt cọc: Theo Mục 405 Luật về thuê nhà ở 1997, tiền đặt cọc được quản lý tại Cơ quan quản lý tiền đặt cọc của người thuê nhà (Residential Tenancies Bond Authority, thường gọi tắt là RTBA)[4]. Khi người thuê nhà nộp tiền đặt cọc, chủ nhà hoặc đại lý của họ có trách nhiệm đưa cho người thuê nhà giấy nộp tiền đặt cọc đã được bên cho thuê điền và ký vào để người thuê nhà ký.

Bên cho thuê nhà có trách nhiệm nộp tiền đặt cọc cho RTBA (bằng séc hoặc lệnh chuyển tiền) cùng với giấy nộp tiền đặt cọc đã được các bên ký trong vòng 05 ngày. RTBA sẽ gửi biên nhận cho cả bên thuê và bên cho thuê. Nếu không nhận được biên nhận trong vòng 15 ngày làm việc kể từ thời điểm nộp tiền, người thuê nhà có thể liên hệ trực tiếp với RTBA để hỏi về vấn đề này.

Việc quy định tiền đặt cọc được giao cho bên trung gian giữ đảm bảo người cho thuê không thể tùy tiện sử dụng tiền đặt cọc hay tùy tiện khấu trừ tiền đặt cọc, đồng thời đảm bảo cũng ràng buộc trách nhiệm của bên đi thuê nhà đối với bên cho thuê.

Về việc khấu trừ/hoàn trả tiền đặt cọc: Theo Mục 411, 412 Luật về thuê nhà ở 1997, RBTA sẽ chỉ trả tiền đặt cọc theo đề nghị của cả hai bên ký hoặc theo quyết định của Tòa án. Điều này có nghĩa là không bên nào được tự ý rút tiền đặt cọc. Đơn đề nghị của các bên có thể xác định phần tiền đặt cọc trả cho từng bên. Nếu một phần hoặc toàn bộ tiền đặt cọc được trả cho chủ nhà (trường hợp khấu trừ) thì đơn đó phải được bên thuê nhà ký không sớm hơn 07 ngày so với thời điểm chấm dứt hợp đồng thuê nhà.

Cũng nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của bên thuê nhà, Luật yêu cầu bên cho thuê phải lập một bản đánh giá hiện trạng. Đánh giá hiện trạng này phải được bên thuê nhà ký chấp thuận và lưu giữ một bản. Trong trường hợp không đồng ý với bản đánh giá hiện trạng do bên cho thuê lập, bên thuê nhà được bổ sung, chỉnh sửa bản đánh giá cho phù hợp với hiện trạng khi tiếp nhận nhà. Bản đánh giá hiện trạng là căn cứ quan trọng để xác định bên thuê nhà có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình trong việc bảo vệ, giữ gìn nhà cho thuê hay không.

Thực tiễn áp dụng biện pháp đặt cọc trong quan hệ thuê nhà ở: Các quy định như trên có thể nói đã bảo vệ khá tốt lợi ích của người đi thuê nhà cũng như đảm bảo trách nhiệm của người thuê với người cho thuê. Thông thường, bên thuê nhà thường phải chấp nhận các điều kiện mà bên cho thuê đưa ra và không có cơ hội đàm phán. Nhờ các quy định chặt chẽ của Luật về thuê nhà ở, bên cho thuê không thể tùy tiện khấu trừ theo ý chí chủ quan của mình. Vào thời điểm kết thúc hợp đồng thuê nhà, bên cho thuê sẽ căn cứ vào bản đánh giá hiện trạng để xác định bên thuê nhà có thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình hay không. Trường hợp cho rằng bên thuê nhà có vi phạm, bên cho thuê có thể tính toán và ấn định mức phải bồi thường và yêu cầu khấu trừ vào tiền đặt cọc. Nếu bên thuê đồng ý thì hai bên sẽ ký vào đơn đề nghị gửi cho RTBA, trong đó, xác định phần tiền cọc trả cho từng bên. Trong trường hợp không đồng ý, bên thuê có thể từ chối ký đơn đề nghị và bên cho thuê có thể kiện bên thuê ra Tòa án người tiêu dùng. Quy trình này cho phép bên thuê có được vị thế cân bằng với bên cho thuê trong trường hợp có bất đồng và khuyến khích hai bên thương lượng để tìm ra giải pháp cân bằng. Trong nhiều trường hợp thực tế, người thuê nhà được nhận lại toàn bộ số tiền đã đặt cọc.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu bên thuê nhà chuyển giao hợp đồng thuê cho một người khác theo thỏa thuận của các bên thì thông thường, bên thuê nhà mới sẽ trả tiền cho người thuê nhà cũ, đồng thời hai bên ký văn bản chuyển nhượng tiền đặt cọc. Bên cho thuê nhà có trách nhiệm thông báo với RTBA để chuyển tiền đặt cọc sang tên của bên thuê nhà mới.

Như vậy, với quan điểm bảo vệ người yếu thế trong quan hệ thuê nhà ở, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển của thị trường cho thuê nhà, pháp luật bang Victoria đưa ra các quy định khá chi tiết về mức tiền đặt cọc, quản lý tiền đặt cọc và hoàn trả, khấu trừ tiền đặt cọc trong quan hệ thuê nhà. Các quy định này vừa tính đến vị thế yếu hơn của bên đi thuê nhà, vừa đảm bảo sự cân bằng hợp lý trong mối quan hệ giữa các bên.

2. Đặt cọc nhằm đảm bảo thực thi nghĩa vụ của người thuê lẻ bất động sản với mục đích thương mại

Khác với Luật về thuê nhà ở, Luật về thuê lẻ bất động sản đặt bên thuê và bên cho thuê trong mối quan hệ cân bằng và không bên nào được coi là yếu thế. Do vậy, trong khi sử dụng đặt cọc như một biện pháp bảo vệ lợi ích của bên cho thuê và đảm bảo trách nhiệm của bên đi thuê, từ đó, thúc đẩy sự phát triển của thị trường cho thuê bất động sản, các nhà lập pháp ở đây đã đề cao quyền tự do thỏa thuận của các bên và chú trọng đến mục đích sử dụng tiền và tài sản để sinh lời. Cũng với lý do trên mà chính sách bảo vệ lợi ích của phía đi thuê như trong quan hệ thuê nhà ở không được đưa vào Luật về thuê lẻ bất động sản.

Sự khác biệt nêu trên được thể hiện ngay trong các quy định về mức đặt cọc, quản lý tiền cọc và việc khấu trừ, hoàn trả tiền cọc.

Về mức đặt cọc: Luật về thuê lẻ bất động sản không có quy định về mức đặt cọc như trong quan hệ thuê nhà ở. Mức tiền đặt cọc có thể là một khoản tiền cố định, khoản tiền tính theo mức tiền thuê trong một giai đoạn cụ thể (chẳng hạn như một tháng tiền thuê nhà). Mức đặt cọc trên thực tế sẽ do các bên thỏa thuận.

Về quản lý tiền đặt cọc: Khác với quan hệ thuê nhà ở, không có cơ quan nhà nước nào chịu trách nhiệm quản lý tiền đặt cọc trong quan hệ thuê bất động sản có mục đích thương mại. Tuy nhiên, theo quy định tại Mục 24 Luật về thuê lẻ bất động sản thì bên cho thuê phải giữ tiền đặt cọc trong một tài khoản ngân hàng có sinh lời. Điều này cũng cho thấy sự khác biệt về chính sách quản lý giữa việc thuê nhà để ở và thuê với mục đích kinh doanh.

Bên cho thuê nhà có trách nhiệm công khai các khoản lãi suất thu được từ tiền đặt cọc và có trách nhiệm giữ khoản lãi này giống như giữ khoản tiền do người thuê nhà trả. Tiền lãi sẽ được cộng vào số tiền đặt cọc, có nghĩa là sẽ phải được trả lại cho người thuê vào thời điểm kết thúc hợp đồng nếu người thuê hoàn thành tất cả các nghĩa vụ của mình. Tương tự, nếu người thuê không hoàn tất nghĩa vụ theo hợp đồng, lãi suất này có thể được bên cho thuê giữ lại giống như các phần khác của tiền cọc.

Về việc khấu trừ, hoàn trả tiền đặt cọc: Vào thời điểm kết thúc hợp đồng thuê, nếu bên thuê đã thực hiện tất cả các nghĩa vụ của mình, bên thuê có quyền nhận lại tiền đặt cọc. Mục 24 Luật về cho thuê lẻ bất động sản năm 2003 không ấn định thời gian cụ thể cho việc hoàn trả, nhưng quy định rằng cần phải được hoàn trả sớm nhất trong điều kiện cho phép. Luật cũng không yêu cầu về việc phải lập báo cáo hiện trạng bất động sản vào thời điểm bắt đầu hợp đồng thuê giống như trong trường hợp thuê nhà ở (theo Luật về thuê nhà ở). Do vậy, các bên phải tự đưa ra yêu cầu về vấn đề này.

Thực tiễn áp dụng biện pháp đặt cọc trong quan hệ thuê bất động sản vì mục đích thương mại: Do pháp luật không có những quy định cụ thể về đặt cọc áp dụng cho quan hệ thuê bất động sản vì mục đích thương mại, các bên đều phải thận trọng và chủ động đưa ra các đề nghị cũng như thỏa thuận nhằm

đảm bảo quyền và lợi ích của mình. Trên thực tế, các tranh chấp về đặt cọc phát sinh khá nhiều
[5]. Các tình huống phát sinh tranh chấp thường liên quan đến việc trả lại tiền đặt cọc khi kết thúc hợp đồng, các khoản lãi phát sinh phải trả cho bên thuê, các khoản khấu trừ, vấn đề đối chiếu hiện trạng khi trả lại bất động sản thuê so với khi bắt đầu hợp đồng thuê và liên quan đến quản lý tiền cọc, đặc biệt khi có thay đổi như: (i) Bên thuê chuyển giao hợp đồng thuê cho người khác; (ii) Người cho thuê bán bất động sản của mình hoặc (iii) Người cho thuê chuyển quyền quản lý từ đại lý này sang đại lý khác.

Để giúp các doanh nghiệp phòng tránh các tình huống tranh chấp, Ủy ban về các doanh nghiệp nhỏ của Victoria đưa ra các khuyến nghị về các biện pháp phòng ngừa tranh chấp đối với quan hệ về thuê bất động sản vì mục đích thương mại để các bên có thể áp dụng. Thông thường, các bên cũng đều có sự hỗ trợ của luật sư để tư vấn trong những trường hợp cụ thể. Trên thực tế, việc quản lý tiền cọc cũng như xử lý các tình huống phát sinh được thực hiện như sau:

(i) Về việc quản lý tiền cọc: Bên cho thuê phải gửi tiền đặt cọc vào ngân hàng. Trên thực tế, không có ngân hàng nào có loại tài khoản dành riêng cho việc quản lý tiền đặt cọc của bên thuê nhà. Một số ngân hàng có thể có những loại tài khoản đặc biệt để giữ tiền cọc, nhưng phần lớn ngân hàng sẽ sử dụng những tài khoản thông thường. Bên cho thuê nhà có thể trao đổi với ngân hàng về nhu cầu của mình để có thể được đáp ứng ở mức độ cho phép.

(ii) Về việc lập báo cáo hiện trạng: Các bên sẽ tự thỏa thuận và quyết định có lập báo cáo cũng như thực hiện các biện pháp khác để ghi nhận hiện trạng của bất động sản vào thời điểm bắt đầu hợp đồng thuê (như chụp ảnh, ghi hình) để phòng tránh các tranh chấp, bất đồng có thể phát sinh.

(iii) Đối với những trường hợp có thay đổi trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên sẽ phải tự xem xét để có những biện pháp xử lý tiền đặt cọc phù hợp. Khi bên thuê chuyển giao hợp đồng thuê cho bên khác, bên được chuyển giao trả tiền đặt cọc cho người cho thuê còn người cho thuê c
ó trách nhiệm trả cho bên chuyển giao tiền đặt cọc và các khoản lãi phát sinh. Nếu bên chuyển giao cũng bán cả doanh nghiệp của mình cho bên nhận chuyển giao, các bên có thể thỏa thuận: Với tư cách là một phần của hợp đồng mua bán, bên chuyển giao sẽ để lại tiền đặt cọc đã trả cho bên cho thuê. Tiền đặt cọc sẽ trở thành tài sản của bên nhận chuyển giao. Điều quan trọng là tất cả các nội dung trên phải được các bên thảo luận và ghi nhận thành văn bản được ký bởi cả bên chuyển giao, bên nhận chuyển giao và bên cho thuê để tránh hiểu lầm về sau. Nếu bên cho thuê bán bất động sản của mình, một hợp đồng thuê lẻ thường sẽ quy định rằng người bán phải chuyển giao toàn bộ tiền cọc và lãi suất phát sinh cho người chủ bất động sản mới; hoặc trong trường hợp bên thuê được ngân hàng bảo lãnh thì bên thuê phải cung cấp một chứng thư bảo lãnh mới thay thế cho chứng thư cũ nếu người chủ mới yêu cầu. Bên thuê phải tự mình đảm bảo việc có văn bản xác nhận việc chuyển giao tiền cọc. Nếu bên cho thuê thay đổi đại diện quản lý bất động sản và tiền đặt cọc là do bên quản lý bất động sản giữ thì người đại diện bị thay phải chuyển lại tiền đặt cọc cùng với lãi phát sinh cho người đại diện mới, và chuyển giao cho bên thuê văn bản xác nhận việc này. Khi được thông báo về việc yêu cầu văn bản xác nhận về việc đã chuyển giao tiền đặt cọc nếu chưa nhận được văn bản này. Trong trường hợp có chứng thư bảo lãnh của ngân hàng thì bên thuê phải xác nhận các chi tiết của chứng thư này với người đại diện quản lý bất động sản mới.

3. Liên hệ với Việt Nam

Từ chính sách và các quy định về đặt cọc trong quan hệ cho thuê bất động sản của bang Victoria, ta có thể rút ra một số liên hệ với như sau:

Thứ nhất, ở góc độ xây dựng và thực thi pháp luật về giao dịch bảo đảm, có thể thấy, Luật về thuê nhà ở và Luật về thuê lẻ bất động sản vì mục đích thương mại quan niệm về đặt cọc tương tự như quan niệm về đặt cọc tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam. Tuy nhiên, thay vì chỉ quy định về bản chất của quan hệ đặt cọc, các đạo luật này dự liệu nhiều tình huống có thể phát sinh trên thực tế liên quan đến đặt cọc và có những biện pháp điều chỉnh tương ứng. Mức độ điều chỉnh đối với từng loại quan hệ là khác nhau và sự khác nhau này phụ thuộc vào quan điểm của Nhà nước về mức độ cần can thiệp để bảo vệ lợi ích của các bên. Đối với quan hệ thuê nhà ở, quan điểm bảo vệ lợi ích của người thuê nhà thể hiện rất rõ trong việc Nhà nước đặt ra nhiều quy định cụ thể hạn chế sự tùy tiện của người cho thuê trong việc quản lý và khấu trừ tiền cọc. Ngược lại, đối với quan hệ thuê bất động sản vì mục đích thương mại, mức độ can thiệp của Nhà nước hạn chế hơn, thể hiện quan điểm là vị thế của các bên cân bằng và do đó, các bên cần có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết bảo vệ lợi ích của mình. Tuy nhiên, một số quy định liên quan đến lợi ích thương mại (ví dụ lãi suất) lại được đưa vào, thể hiện tính chất của quan hệ kinh doanh.

Đối chiếu với các quy định trên, quy định về đặt cọc trong Bộ luật Dân sự của Việt Nam hiện nay mới dừng lại ở mức quy định chung, các quy định pháp luật liên quan cũng chưa dự liệu hết các tình huống phát sinh cũng như chưa thể hiện được quan điểm điều chỉnh cụ thể như trong quy định của hai đạo luật của bang Victoria. Do vậy, các quy định của hai đạo luật này có thể là một gợi ý tốt cho việc cụ thể hóa pháp luật nhằm triển khai quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự của Việt Nam.

Thứ hai, ở góc độ xây dựng pháp luật nói chung, chính sách và các quy định về đặt cọc trong quan hệ cho thuê bất động sản của bang Victoria cho thấy tính nhất quán của việc đề ra chính sách và soạn thảo các quy định pháp luật. Một chính sách cần làm rõ từ sự cần thiết, mục tiêu của chính sách và các quy định pháp luật không chỉ thể hiện đúng quan điểm của chính sách mà cần có những quy tắc cụ thể để đảm bảo việc thực thi chính sách. Chẳng hạn, đối với giao dịch đặt cọc trong quan hệ cho thuê nhà ở, mục tiêu của chính sách là bảo vệ lợi ích của người đi thuê nhà tránh khỏi nguy cơ bị người cho thuê nhà lạm dụng, đồng thời vẫn bảo vệ người cho thuê nhà. Sự cần thiết của chính sách này dựa trên quan điểm người đi thuê nhà là bên yếu thế so với người cho thuê nhà, đồng thời để đảm bảo thúc đẩy sự phát triển của thị trường cho thuê nhà. Chính sách trên được cụ thể hóa thành các quy định pháp luật cụ thể là giới hạn mức đặt cọc tối đa, đặt ra một cơ quan trung gian quản lý tiền cọc và quy định một quy trình chặt chẽ để việc khấu trừ/hoàn trả tiền cọc được thực hiện một cách công bằng, hợp lý cho cả hai bên. Những chính sách này không áp dụng đối với quan hệ cho thuê nhà vì mục đích thương mại, do vậy nó cũng làm thay đổi các quy định tương ứng trong nhóm quy phạm pháp luật về vấn đề này. Đây sẽ là một ví dụ tốt cho việc thực hiện quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật mới theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

TS. Trần Thị Quang Hồng

Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

[1]Cụ thể, Điều 34 quy định cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trước khi lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải xây dựng nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Điều 37 về việc lập hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh yêu cầu: tờ trình trong hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải có mục tiêu, nội dung của chính sách, các giải pháp để thực hiện chính sách đã được lựa chọn và lý do của việc lựa chọn.

[2] Điều 55 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[3] Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[4]RTBA là cơ quan của Ủy ban người tiêu dùng bang Victoria trực thuộc Bộ Tư pháp.

[5]https://www.vsbc.vic.gov.au/news-publication/security-deposits-and-the-retail-leases-act-what-you-should-know/.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: